Phán xét

 

Uyên Sồ

 

 

Biển Hồ miền Galile. Một buổi sáng. Mặt trời đă lên khỏi chân mây, chiếu ánh sáng xuống mặt nước trong xanh. Những đợt sóng nhẹ âu yếm hôn lên băi cát mịn. Xa xa, từng đoàn thuyền trở về sau một đêm cần lao miệt mài. Những cánh buồm no gió căng lên như những tấm phản ngực của  các chàng ngư dân đang mơ màng ngắm mây trời lặng lờ tít tầng cao. Họ khoan khoái v́ biển khơi đă không phụ công họ:  những đống  cá đầy vun nằm phơi ḿnh trong khoang thuyền. Họ sung sướng khi nghĩ đến bếp lửa gia đ́nh ấm cúng đang chờ đón họ trở về. Những thân h́nh lực lưỡng, gân guốc, sạm đen v́ nắng gió biển khơi cứ thong dong hít thở không khí trong lành ban mai.

 

Trên mặt biển lúc này không chỉ là những con thuyền của ngư dân mà c̣n có những con thuyền khác nữa. Đó là thuyền của khách thập phương. Họ là dân vùng Thập Tỉnh, dân thành Giê-ru-sa-lem, dân miền Giu-đê và vùng bên kia sông Gio-đan. Họ lũ lượt kéo đến đây để trông thấy và được nghe một vị ngôn sứ đầy uy quyền thuyết giảng  cùng với hi vọng sẽ được Người chữa lành các bệnh tật. Họ như những lữ hành trong sa mạc đang khát khô cả cổ v́ thiếu nước. Bao nhiêu năm sống trong ngục sâu tù hăm của kiếp nô lệ, mắt và tai họ bị bịt kín. Họ chẳng hề trông thấy và nghe thấy ǵ khác ngoài những điệp khúc hà khắc của kẻ thống trị. Đôi vai họ oằn xuống gần sát đất bởi gánh nặng lề luật cực ḱ phi nhân và phi luân. Đám Pha-ri-siêu và tư tế cấu kết với ngoại bang đang đặt ách thống trị trên đất nước để nhấn ch́m dân  chúng vào chốn lầm than, bần hàn. Số phận người dân nơi đây khác nào sâu bọ.  Bọn thống trị La-mă c̣n áp dụng chính sách ngu dân để dễ bề cai trị. Bọn chúng đă ngụy tạo một thần tượng , rồi thần thánh hóa nó và bắt buộc dân chúng phải tôn thờ như một đấng thần linh.

 

Dưới đáy vực sâu tăm tối,  những phận người khốn nạn ấy chỉ biết cúi đầu khóc  than. Trong  cùm  gông xích xiềng nô lệ, họ đă bị tê liệt sức đề kháng. Họ chỉ biết ngày đêm âm thầm cầu xin Ja- vê gửi xuống cho họ một đấng cứu tinh. Thế nhưng, hết năm này qua năm nọ, hết đời ông đến đời cha và đến cả đời cháu chắt nữa, những lời khẩn khoản nài xin của họ vẫn chưa thấu tai đấng cao xanh. Sự chờ đợi mỏi ṃn đôi khi khiến họ nản ḷng. Nhất là lúc họ bị dồn vào  bước đường cùng. Bọn thống trị như loài liên cầu khuẩn, chúng len lỏi vào tận ngang cùng ngơ hẹp, đi sâu vào tận cùng  tim óc của con  người. V́ vậy, đă không có ít người cả gan phạm thượng, dám oán trách đấng Ja-vê. Họ cho rằng đấng Ja-vê đă bỏ họ chết ngắc ngoải giữa đàn sói say máu người.

 

Giữa lúc ḷng người rối rắm trăm bề th́ người ta nghe đồn có một Đấng Cứu thế xuất hiện. Người rao truyền tin lành cho muôn dân.  Các bài giảng của Người là những giọt nước mát ngọt ngào mà kẻ lữ hành trong sa mạc đang khát khao t́m kiếm. Đó là những lời lẽ yêu thương đầy ắp t́nh nhân loại. Người lớn tiếng lên án những bất công xă hội. Người lớn tiếng lột trần bộ mặt xấu xa của bè lũ giả h́nh, của giai cấp tăng lữ, của kẻ thống trị tàn ác. Qua Người, dân chúng đă  thấy lấp ló những tia hi vọng một tương lai sáng sủa.

 

Và hôm nay, đoàn đoàn lớp lớp dân chúng  lại tuôn đến với Người.

 

@

 

Cách bờ biển khoảng non một cây số có một cánh rừng thưa. Ngoài b́a rừng có một ngọn đồi.  Dưới chân ngọn đồi là một cây cổ thụ, cành lá sum suê. Dưới gốc cổ thụ đó, một nhóm người đang say giấc. Họ là những môn đệ của Đấng Cứu thế. Đó là những ngư dân chất phác, nhưng lại có một trái tim nhiệt thành và quả cảm. Từ lúc được Người tuyển chọn, họ đă từ bỏ mọi sự để dấn thân theo Thầy. Sau một ngày rong ruổi khắp vùng Ga-li-lê, họ mệt nhoài, nên đặt ḿnh xuống là ngủ say như chết.

 

Bỗng họ giật ḿnh thức giấc v́ nghe có nhiều tiếng ồn ào. Mở mắt ra, họ thấy những bóng người lố nhố , kẻ đứng , người ngồi. Những người này nói cười rôm rả. thần thái  tươi vui như thể đang đi trẩy hội. Những câu chuyện của họ đều xoay quanh một đề tài: Đáng Cứu Thế. Đoàn người nói cho nhau nghe nghe về những bài giảng của Người, về những phép lạ Người đă làm.

 

 Dân chúng kéo đến mỗi lúc một đông. Các môn đệ không hiểu bằng cách nào mà người ta  biết  Thầy đang có mặt ở đây mà kéo nhau đến. Họ đưa mắt t́m Thầy, nhưng không thấy bóng dáng Thầy đâu. Tuy không nói ra, nhưng tất cả đều biết hiện giờ Thầy đang ở chỗ nào và làm ǵ. Họ lặng lẽ tiến vào rừng. Những bước chân thanh thản. Những ánh mắt ngời sáng. Khi vào đến giữa rừng th́ họ dừng lại.

 

Trước mặt họ, Thầy đang qú trên thảm cỏ mướt xanh, hai tay dang rộng, mắt ngước lên trời. Thầy cầu nguyện. Trong khi các môn đệ ngủ say th́ Thầy đi vào chốn thanh vắng để cầu nguyện. Luôn luôn là như thế. Thầy không ngơi nhắc nhở các môn đệ: “Anh em hăy tỉnh thức và cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ”. Thế nhưng, v́ là người phàm, nên họ đă không tuân theo lời Thầy được, cứ đặt ḿnh xuống là ngáy ro ro. Giờ đây, như có một lực vô h́nh lôi cuốn, các môn đệ, không ai bảo ai, nhất tề qú xuống. Lạ thay, lúc ấy tâm hồn họ tự nhiên yên ắng và ch́m sâu trong suy niệm. Họ không c̣n bị chi phối bởi cảnh trí chung quanh nữa. Tai họ như bị bịt kín nên không nghe thấy tiếng chim ca hót líu lo chào mừng ánh b́nh minh đang rực rỡ chiếu rọi trên vạn vật. Mắt họ cũng không trông thấy từng đàn bướm bay lượn tung tăng bên muôn đóa hoa rừng tuyệt sắc. Thầy và môn đệ đang gặp nhau trong suy niệm. Giữa lúc tâm hồn các môn đệ ch́m đắm trong kinh nguyện th́ họ nghe bên tai tiếng gọi của Thầy:

 

-  Chúng ta ra ngoài đi!

 

Họ liền choàng tỉnh, đứng lên và bước theo Thầy. Ra đến cửa rừng, họ thấy một biển người đang tụ tập dưới chân ngọn đồi. Kẻ đứng, người ngồi. Kẻ ăn, người uống. Tiếng cười nói, tiếng ca hát  làm rúng động một góc trời. Những đứa trẻ con chạy nhảy tung tăng. Nh́n đám đông, ánh mắt Thầy đượm vẻ buồn. Người nói với các môn sinh bằng giọng ngậm ngùi:

 

-  Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt th́ ít ỏi quá. Anh em hăy xin chủ mùa gặt phái thợ gặt đến cánh đồng này để thu hoạch.

 

Các ông không hiểu ư nghĩa câu nói ẩn dụ của Thầy, nhưng lại rụt rè không dám hỏi, chỉ lặng lẽ đưa mắt nh́n nhau.

 

Đoàn người thấy bóng dáng Thầy liền nhảy lên reo mừng. Tiếng reo làm át cả tiếng sóng biển và khiến cho đàn chim đang bay trên bầu trời sợ hăi ; chúng buông ra những tiếng kêu khiếp đảm và vội vă sải cánh bay vút đi. Rồi đoàn người rùng rùng chạy lại phía Thầy đang đứng. Họ chen lấn, xô đẩy nhau như thể đang tranh giành miếng mồi béo bở. Ai cũng muốn được đến gần Thầy. Những người yếu đuối, bệnh tật th́ khóc lóc, than văn v́ bị những người khỏe mạnh lấn áp. Tuy vậy, họ không bỏ cuộc. Họ vẫn lê những bước nặng nề, khó khăn với hi vọng sẽ được đến gần Thầy để được nghe những lời dạy dỗ đầy tính nhân bản của Thầy, và nhất là được Thầy chữa khỏi bệnh tật. Họ đă được nghe và chứng kiến  Thầy chữa lành những con bệnh ngặt nghèo. Cánh cửa tương lai tươi sáng đang mở  toang trước mặt họ.

 

Đám đông cứ ùn ùn kéo tới. Các môn đệ như những vệ sĩ, toát cả mồ hôi để bảo vệ Thầy. Thầy tiến về phía ngọn đồi. Đang đi, bỗng Thầy dừng lại và đưa mắt nh́n đám đông. Đoàn người tỏ vẻ  ngạc nhiên không hiểu v́ lí do ǵ mà Thầy dừng lại đột ngột như vậy. Tự nhiên, bao nhiêu thứ âm thanh đều ngưng bặt.  Hằng trăm cặp mắt đổ dồn về phía Thầy. Họ chờ đợi Thầy lên tiếng. Và Thầy lên tiếng:

 

-  Ai vừa chạm vào gấu áo tôi?

 

Đoàn người sửng sốt trước câu hỏi ấy. Ai? Ai? Họ nh́n nhau thăm ḍ. Quả thực không dễ ǵ t́m ra người đă chạm vào gấu áo Thầy. Người đông quá mà, làm sao biết được ai là người đă làm việc đó? Vả lại, nếu có th́ cũng là điều b́nh thường, v́ sự chen lấn chắc sẽ dẫn đến việc ấy. Thế th́ tại sao Thầy lại hỏi như vậy nhỉ? Thế rồi, những tiếng x́ xào nổi lên. Trước c̣n ít, sau càng lúc càng nhiều. Ai cũng nhao nhao hỏi xem kẻ nào đă đụng vào gấu áo của Người. Các môn sinh của Thầy cũng nói:

 

-  Thưa Thầy , người đông như kiến thế này th́ biết ai là kẻ đă chạm tay vào gấu áo Thầy?

 

Thầy lặng im nh́n vào đám đông. Giữa lúc sự ồn náo đă lên tới cực điểm th́ từ trong đám đông những tiếng gào vang lên:

 

-  Ngợi khen Đấng Cứu Thế! Ngợi khen Đấng Cứu Thế! ….

 

Và một phụ nữ đang t́m cách chui ra khỏi đám đông. Vừa lách ḿnh vừa la to: “Ngợi khen Đấng Cứu Thế! Ngợi khen đấng Cứu Thế!”. Đám đông vội vă nhường chỗ cho chị ta bước ra. Khi đă thoát khỏi sự vây hăm của đoàn người, chị ta tiến đến gần Thầy, qú xuống, chắp hai tay lại và lạy lấy lạy để. Nước mắt chị ta cứ chảy ḍng ḍng. Không ai hiểu ất giáp việc này như thế nào. Thầy bảo chị ta:

 

-  Chị hăy đứng lên!

 

Chị ta vâng lời, đứng lên. Đó là một phụ nữ trạc ngoài ba mươi. Không đợi Thầy cho phép, chị hướng mặt về phía đám đông và nói:

 

-  Tôi bị bệnh hoại huyết suốt mười hai năm nay. Tôi đă chạy thầy thạy thuốc khắp mọi nơi. Ở đâu nghe nói có thầy thuốc giỏi là tôi t́m đến, không quản ngại đường xá xa xôi. Thế nhưng, tiền mất tật mang. Đă nhiều lần tôi ngĩ đến việc quyên sinh, v́ căn bệnh quái ác này làm cho tôi khốn khổ vô cùng. Nó cô lập tôi với xă hội. Tôi không dám đến gần ai v́ cái mùi hôi hám cứ bám chặt lấy tôi như con đỉa đói. Tôi không c̣n nước mắt để than khóc nữa. Tôi chỉ c̣n duy nhất một phương thuốc để cậy trông: cầu nguyện. Vâng, tôi hằng cầu nguyện Thượng Đế ban ơn cho tôi được gặp thầy gặp thuốc. Và lời cầu của tôi đă được chấp nhận: hôm nay tôi đă hoàn thoàn khỏi bệnh.  Trước đó, tôi nghe đồn có một Đấng Cứu Thế  xuất hiện. Người là bậc thượng trí và tài năng siêu phàm. Người đă chữa lành rất nhiều bệnh nan y mà các thày thuốc tài ba lỗi lạc đă bó tay:  cho người mù được sáng mắt, mở miệng mở tai cho người câm điếc, chữa lành cho người bị phong cùi, và thậm chí c̣n khiến kẻ chết sống lại… Những tin tức ấy là liều thuốc cải tử hoàn sinh đối với tôi. Trong tấm thân xanh xao, gầy đét như que củi của tôi bừng lên tia hi vọng sống c̣n. Thế là con ốc sên quyết chí tḥ đầu ra khỏi cái vỏ cứng – nơi nó tưởng là pháo đài vĩnh viễn giúp nó thoát khỏi mặc cảm tự ti cho đến măn kiếp. Tôi đă rong ruổi khắp nơi để t́m gặp Đấng Cứu Thế. Tuy nhiên, sự t́m gặp này không đơn giản và dễ dàng như tôi nghĩ. Bởi lẽ, Đấng Cứu Thế đâu có giảng dạy cố định ở một nơi. Lúc nghe tin Ngài đang giảng ở Na-da-rét, tôi liền tim đến th́ được biết Ngài đă sang bên kia bờ sông Gio-đan rồi. Thế là tôi lại cất công đến đó. Đến nơi, người ta bảo Ngài đang ở  hồ Ghê-xê-na-rét… Cứ thế mà bước chân tôi ruổi rong. Càng đi, niềm hi vọng của tôi càng lớn mạnh, v́ tai tôi được nghe bao điều ḱ diệu về Ngài và mắt tôi được nh́n thấy rơ mồn một những nhân chứng sống mà Ngài đă chữa lành bệnh tật cho họ. Và hôm nay th́ không phải tôi nghe và thấy nhân chứng nữa mà chính tôi là người được Ngài chữa lành chúng bệnh nan y kéo dài từ mười hai năm qua. Quả vậy, lúc năy, trong khi chen lấn để được đến gần Ngài cho Ngài thấy tôi mà dủ ḷng thương xót chữa bệnh cho tôi, tôi luôn miệng cầu xin. Khi biết rằng khó có thể đến gần Ngài được th́ tôi nghĩ chỉ cần chạm tay vào vạt áo Ngài thôi th́ bệnh tôi sẽ được khỏi. V́ thế, tôi lấy hết sức b́nh sinh để làm công việc đó. Thật diệu ḱ làm sao! Khi tay tôi vừa chạm vào vạt áo Ngài th́ máu trong người tôi liền ngưng chảy. Người tôi tức khắc trở nên khô ráo, sạch sẽ.

 

Nói tới đây, người phụ nữ xúc động quá, khóc ̣a lên rồi lại qú gối xuống mà lạy tạ Thầy. Đoàn người , dường như có một sức mạnh vô h́nh nào đó thúc đẩy, cũng đồng loạt qú xuống, miệng kêu to:

 

-  Ngợi khen Đấng Cứu Thế! Ngợi khen Đấng Cứu Thế! Ngợi khen Đấng Cứu Thế!

 

Khi cơn xúc động của họ đă lắng xuống, Thầy ra hiệu cho họ đứng lên và im lặng rồi Thầy bảo người phụ nữ:

 

-  Ḷng tin của chị đă chữa cho chị khỏi bệnh.

 

Thầy vừa nói dứt câu th́ từ đàng xa vọng lại những tiếng ồn ào cùng tiếng bước chân dồn dập. Đám đông nhất tề quay đầu lại. Họ nh́n thấy một  cột khói bụi bay lên. Trong cột khói đó có một đám người lố nhố, vừa đi vừa chạy, luôn miệng la hét. Đi đầu là các vị tư tế cùng các luật sĩ và kinh sư. Đằng sau các vị này là một người phụ nữ, tay bị trói, mặt mày bầm tím, luôn cúi gằm mặt xuống và cuối cùng là những đàn ông, đàn bà và trẻ con. Bọn họ luôn miệng chửi thề, mắng nhiếc người phụ nữ kia bằng những lời lẽ vô cùng  tục tĩu, độc địa. Người nào người nấy lăm lăm một bao đá xanh, trông thật đáng sợ. Ánh mắt họ toát ra mùi tử khí.

 

Các môn đệ và đoàn người không hiểu chuyện ǵ đă xảy ra với người phụ nữ. Tuy thế, cứ trông thấy sự việc th́ cũng suy đoán được là người  này đă mắc phải một tội nào đó nghiêm trọng lắm.

 

Đám đông dừng lại trước mặt Thầy. Lũ đàn ông xô người phụ nữ khiến chị ta ngă sóng soài trên mặt đất.

 

-  Qú xuống! Qú xuống!

 

Bọn người phía sau la to. Chị ta lồm cồm ḅ dậy. Nhưng v́ tay bị trói ra phía sau , nên rất khó khăn cho việc qú lên. Chị cứ lăn qua lăn lại măi mà không thể nào nhấc ḿnh lên được. Thấy vậy, một trong số họ lại giúp  chị ta qú lên. Đất cát dính bê bết trên khuôn mặt bị trầy xước. Người phụ nữ run rẩy, đầu cúi gầm xuống đất. Những con người đứng phía sau vẫn không ngừng la hét, mắng chửi. Một thầy tư tế ra hiệu cho đám đông im lặng. Rồi ông ta thưa với Thầy:

 

-  Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt gặp quả tang phạm tội ngoại t́nh. Tội ngoại t́nh, theo luật Môi-sê th́ phải chịu h́nh phạt ném đá. C̣n Thầy, Thầy bảo chúng tôi xử người đàn bà này như thế nào?

 

Nói xong, thầy tư tế nh́n chằm chằm vào mặt Thầy để ḍ xét phản ứng. Từ lúc đám đông này xuất hiện, Thầy vẫn giữ thái độ b́nh thản. Thấy Thầy im lặng, bọn họ lại hỏi:

 

-  Thưa Thầy, theo Thầy th́ chúng tôi cần xử phạt người đàn bà này như thế nào?

 

Thầy nhẹ nhàng nói với họ:

 

-  Ai trong các ông là người vô tội th́ hăy ném đá người phụ nữ này .

 

Nói xong, Người lặng lẽ ngồi xuống, nhặt một cành cây khô nằm trên mặt đất và viết viết … Đám  đông im lặng như tờ. Một phút…năm phút…mười phút…Thời gian nặng nề trôi. Người ta có thể nghe được  tiếng tim đập trong lồng ngực. Những cặp mắt nh́n nhau. Kẻ này nh́n kẻ kia. Quay sang phải, quay sang trái, quay lại phía sau… Những tia lửa hận thù biến mất. Thay vào đó là sự bối rối. Những bao đá lần lượt được bỏ xuống. Rồi, vài ba mái đầu bạc từ từ quay gót. Đám đông ô hợp xôn xao. Và lại có những bàn chân khác tiếp nối bước đi  của những mái đầu bạc.

 

Các thầy tư tế, kinh sư và luật sĩ cũng đưa mắt nh́n nhau. Mặt họ trở nên tím tái.  Có người hàm răng cắn muốn bật máu bờ môi. Khi số người bỏ ra về bắt đầu tăng th́ có tiếng quát:

 

-  Đứng lại! Tất cả phải đứng lại!

 

Đó là tiếng quát của thầy tư tế vào bậc niên trưởng.  Râu tóc ông ta bạc phơ. Đôi chân vốn đă yếu, giờ phút này lại càng yếu hơn. Ông ta run rẩy.  Một thầy tư tế trẻ vội chạy  đến bên cạnh,  dùng tay đỡ vai ông ta. 

 

Nghe tiếng quát của thầy tư tế già, đám người ô hợp run bắn cho dù tiếng quát ấy rất thiếu uy lực. Có lẽ do thói quen vâng phục từ bao đời nay. Vâng phục như một đàn cừu.  Tất cả chỉ vâng lời bề mặt thôi, chứ trong ḷng họ bất măn vô cùng. Thế nhưng, v́ chỉ là một con ốc vít nhỏ trong một guồng máy có cấu tạo phức tạp nên họ không thể làm ǵ khác được, nếu không sẽ bị nghiền nát như tương. Hơn nữa, cái guồng máy khổng lồ này đă trùm lấp lên bao đời của dân chúng rồi. Từng đời qua đi, rồi lại từng đời nối tiếp. Cứ như thế họ trở thành những cọng bún mềm èo.

 

Họ chùn bước, chăm chăm nh́n vào những người lănh đạo để chờ phán quyết. Chắc chắn người phụ nữ này sẽ tan xác như bao nhiêu người từng bị giới lănh đạo kết án trước đây. Quyền sinh sát của Hội đồng Thượng tế là bất khả xâm phạm. Hội đồng này là h́nh ảnh của Pháp đ́nh tôn giáo thời trung cổ. V́ vậy, dân chúng luôn luôn canh cánh nỗi hăi sợ. Và giờ đây, vị niên trưởng tư tế đă lên tiếng. Điều đó có nghĩa là sẽ có máu đổ thịt rơi. Nh́n thấy sự hăi sợ trong ánh mắt của  đám cừu trước mặt, vị tư tế già cảm thấy yên ḷng v́ nghĩ rằng cái bóng ma quái của giai cấp ông vẫn c̣n đủ sức để mê hoặc và trấn áp chúng. Lăo im lặng một hồi lâu với chủ đích gia tăng nỗi hăi sợ nơi đàn cừu. Sau khi tin rằng nỗi sợ đă ngấm vào từng tế bào của mỗi con cừu, lăo mới thủng thẳng lên tiếng:

 

-  Các người hăy nghe cho rơ đây. Luật là của Đấng Ja-vê ban xuống cho Môi-sê và Môi-sê đă truyền lại cho chúng ta.  Không một ai  có quyền thay đổi Luật, dù chỉ một dấu phẩy, dấu chấm. Luật dạy rằng những kẻ phạm tội ngoại t́nh th́ phải chịu h́nh phạt ném đá cho tới chết. Người đàn bà này đă phạm vào điều luật đó. Bởi vậy, y thị phải chấp hành nhận h́nh phạt này. Kẻ nào không ném đá y thị là phạm Luật. Phạm Luật là xúc phạm tới Môi-sê. Xúc phạm tới Môi-sê là xúc phạm tới Đấng Ja-vê tối cao. Bây giờ các người hăy thi hành Luật đi!

 

Đàn cừu vẫn bất động, đầu cúi xuống. Thời gian nặng nề trôi qua. Đàn cừu có vẻ  như bị điếc nặng. Những bao đá vẫn nằm dưới chân. Những tia lửa từ mắt sư tử quét lên từng khuôn mặt cừu. Thế nhưng, chúng bị vô hiệu hóa một cách tàn nhẫn trước sự thinh lặng của đàn cừu.  Thế là sư tử bắt đầu chuyển động. Răng nghiến kèn kẹt.   Những móng vuốt sắc nhọn chuẩn bị giương ra. Sư tử đầu đàn rống lên:

 

-  Ném! Ném! Ném! Ném đi!

-  …..

-  Ném! Ném! Ném! Ném đi!

-  …..

 

Một sư tử nhảy vụt đến bên một con cừu, cúi xuống nhặt bao đá, tḥ tay vào và lấy ra một ḥn khá to, tay vung lên.

 

-  Thôi! Đủ quá rồi, thưa quí ngài. Hăy dừng tay lại trước khi quá muộn!

 

Một tiếng quát như lệnh vỡ phát ra từ trong đàn cừu. Bàn tay sư tử chùn lại. Tất cả mọi con mắt đều đổ dồn về phía tiếng quát. Một người đàn ông bước ra. Có những tiếng xầm x́ . Tiếng xầm x́ mỗi lúc một nhiều lên:

 

-  Đây không phải là người ăn xin mù ḷa đă thường ngồi bên vệ đường xin ăn hay sao?

 

Người đàn ông bước nhanh lên phía trước và dơng dạc nói:

 

-  Phải, tôi chính là người hành khất mù ḷa hằng ngồi ăn xin bên vệ đường. Cặp mắt sáng này là của Đức Giê-su đây ban cho tôi khi tôi khẩn khoản cầu xin Ngài. Việc này đă diễn ra trước sự chứng kiến của hằng trăm con người.  Và v́ thế, tất cả mọi người đă nhận ngay ra tôi khi tôi xuất hiện.  Trước đây, khi  c̣n bị ch́m đắm trong tối tăm, tôi luôn h́nh dung ra một thế giới rất đẹp qua những lời giáo huấn của các ông. Đó là một xă hội công b́nh, bác ái, không c̣n ai phải sống kiếp nô lệ lầm than nữa. Và các ông, đối với tôi, quả là các bậc thánh nhân. Các ông trong sáng quá, cao thượng quá. Tôi tự nhủ, nếu có một phép mầu giúp tôi sáng mắt th́ việc làm đầu tiên của tôi là chạy đến phủ phục dưới chân các ông để bày tỏ ḷng khâm phục, quí mến. Cứ như thế, gần như cả đời tôi, tôi nghĩ rằng ḿnh đang được sống trên thiên đàng. Những đồng tiền người qua kẻ lại bỏ vào cái nón trước mặt tôi hằng ngày há không phải là một bằng chứng sao? Bằng chứng của t́nh người. Mà t́nh người đó có được là do công lao dạy dỗ của các ông, do những  qui luật đạo đức của các ông đề ra. Đôi lúc tôi trộm nghĩ rằng cuộc sống trên thiên đàng chắc cũng  như thế này là cùng chứ ǵ.

 

Thế nhưng…( Người đàn ông ngừng lại trong ít giây.  Những cặp mắt cừu nh́n anh ta như thúc giục. Im lặng như thóc. Lũ sư tử hằn học nh́n người đàn ông như thể muốn ăn tươi nuốt sống kẻ ngạo ngược. Rồi anh ta lại tiếp tục ). Cuộc đời này thật bất công khi nó sinh ra hai chữ “ thế nhưng”.  Bởi v́ đi sau nó là một chuỗi bẽ bàng, đau xót, căm hận.  Cái thiên đàng trong bóng tối của tôi sụp đổ ngay sau khi tôi được nh́n thấy ánh sáng. Đó không c̣n là thiên đàng nữa mà là hỏa ngục. Bất công, gian ác, khủng bố tràn lan khắp nơi nơi. Tiếng khóc của lê dân thấu tới trời xanh, nhưng lại không thủng màng nhĩ của các ông. Các bậc thánh nhân tôi hằng tôn thờ trong phút chốc hiện nguyên h́nh là những con quỉ tàn bạo, dâm dật, tham lam, ích kỉ.  Bọn các ông chỉ biết  ra sức bó những bó cực nặng để chất lên vai người khác, khiến họ phải è cổ ra vác. Những bó nặng nề đó cứ mỗi ngày một chồng chất lên đôi vai yếu ớt của dân đen. Trong lúc ấy, bọn các ông phè phỡn sa hoa trong lâu đài điện ngọc với rượu ngon gái tơ. Những cuộc truy hoan của các ông kéo dài thâu đêm suốt sáng. Tiếng đàn, tiếng hát véo von đă bịt kín tai các ông khiến cho các ông không nghe thấy tiếng than oán trập trùng của dân đen từ làng mạc hẻo lánh đến thành thị huyên náo ngựa xe. Các ông chỉ đi ŕnh ṃ những hạt cát trong mắt những người thân cô thế cô để bắt bẻ và kết án. Người đàn bà này có tội ư? Phải. Nhưng tội của chị ta có to bằng tội giả nhân giả nghĩa của các ông không? Tội của chị ta có lớn bằng tội lường gạt hằng trăm triệu người của các ông không? Tội của người đàn bà này sao sánh được với tội sát nhân tàn bạo của các ông? Nếu phải kể tội các ông th́ đến tận thế chưa chắc đă hết. Vậy, các ông hăy ném đá người phụ nữ này đi! Tay các  ông đă đă nhuốm máu hằng hà sa số sinh linh rồi, bây giờ lại thêm một nhân mạng nữa th́ đă  có sao! Máu của con người này sẽ nâng  thành tích của các ông lên một tầng cao mới để các ông vênh vang tự sướng mỗi khi đề cập đến công lao hiển hách của các ông. Ném đi! Các ông c̣n chờ ǵ mà không ném đá chết người phụ nữ này đi? Ném đi! Ném đi! Ném đi nào!

 

Trong khi anh ta nói th́ đàn cừu chuyển động. Những chuyển động cứ tăng dần lên theo từng câu nói của anh. Và khi anh dứt, những chuyển động ấy đă kết thành một cơn chấn động kinh hoàng. Những cánh tay vung lên mạnh mẽ và những ḥn đá tới tấp tung ra cùng với tiếng ḥ reo muốn vỡ tan cả đất trời: “ Giết…giết…giết… giết…giết hết lũ sói đội lốt người này đi! G…i…ế…t..…”. Và đàn sư tử ôm đầu máu chạy thục mạng. Người đàn ông vội vàng thét lớn:

 

-  Dừng lại! Dừng lại! Dừng lại!

 

Tiếng thét của anh bị cơn sóng thần phẫn uất nuốt chửng. Họ chẳng c̣n nghe , chẳng c̣n thấy ǵ nữa ngoài những kẻ thủ ác cần phải trừng trị. Họ truy đuổi chúng trong tiếng ḥ reo man rợ. Người đàn ông chạy theo đoàn người, vừa chạy vừa kêu: “Dừng lại! Dừng lại! Dừng lại!”.  Những tiếng chân long trời lở đất xa dần, xa dần và mất hút .

 

Bây giờ, dưới chân ngọn đồi chỉ c̣n Thầy, các môn đệ và người phụ nữ bị kết án ngoại t́nh. Chị ta qú dưới chân Thầy, đầu cúi xuống, miệng lắp bắp:

 

-  Xin Ngài tha tội cho con!

 

Thầy đỡ chị ta đứng lên, dịu dàng nói:

 

-  Chị hăy ra về và đừng phạm tội nữa!

 

Xa xa, tiếng sóng biển ŕ rào vỗ vào mạn cát.  Trên bầu trời xanh lơ lững thững dạo chơi những áng mây trắng và những con hải âu bay lượn…

 

Người phụ nữ quay gót, nước mắt dàn dụa…

 

Thầy và các môn đệ lên thuyền để đi đến vùng Giu-đê. Lúa chín đầy đồng mà  thợ gặt th́ thiếu quá.

 

 

Uyên Sồ

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính