Một ngày ở B5

(Hồi Kư của Từ-Sơn)

 

 

Tiếng kẻng vang lên như những nhát búa bổ thẳng vào óc, vào tim của hơn chín trăm tù nhân Trại Giam B5 Tân-Hiệp, Biên-Ḥa.

 

Bầu trời đen kịt. Mưa gió vẫn rền rĩ, than van. Mưa liên miên mấy ngày rồi mà chưa ngớt. Từng giọt mưa đâm sói tâm tư. Từng cơn gió giùi xoáy gan ruột. Xấp xỉ một ngàn tù nhân chui rúc trong 11 buồng giam bằng bê-tông cốt sắt. Song sắt cỡ ngón chân cái, cắm thật sát nhau ở khung cửa sổ h́nh chữ nhật có diện tích bằng 5 hay 6 bàn cờ tướng cũng như ở khe thông hơi rộng chừng mười phân tây, chạm nóc và chạy bốn chung quanh buồng giam.

 

Tù nhân, râu tóc xồm xoàm, mặt mũi hốc hác, quần áo tả tơi. Đầy buồng bốc lên mùi ẩm mốc, hôi hám nồng nặc. Giữa pḥng, lủng lẳng ngọn đèn vàng ngoi ngóp, buồn tẻ. Nghe kẻng báo thức, mọi người uể oải ngồi dậy, thu dọn chỗ nằm. Mỗi người tù có một “lănh thổ” riêng biệt - Được ngầm giao kết bằng qui ước bất thành văn: Đó là cái chiếu Một, ngang 8 tấc dài 2 thước 2 hay cái tấm trải có diện tích tương tự. Đầu nằm để túi quần áo, mền mùng, và vật dụng cá nhân: 1 lon “gô”, 1caí ca, 1 đôi dép râu. Dép “râu” làm từ  vỏ và ruột bánh xe hơi. Gọi là dép râu v́ những đầu quai dép ḷi  tḥi ở mặt dưới đế, để ai dùng th́ có thể, điều chỉnh cho vừa với bàn chân của người đó. Dép râu là sản phẩm độc đáo của Chính-Quyền Vô-Sản. Người người đi dép râu. Nhà nhà đi dép râu. Bộ đội, Công an Cộng-Sản sở hữu dép râu. Cán bộ, công nhân viên nhà nước chuyên chính vô sản đi dép râu khi làm việc và lúc đi chơi. Dép “râu” ḅ vào miền Nam, sau ngày Việt-Nam Cộng-Ḥa sụp đổ và nhanh chóng trở thành một “Mode” thịnh hành để rồi, “giày tây” bỗng nhiên sớm, chiều lùi vào quên lăng! Người dân miền Nam vội vàng sản xuất dép râu hàng loạt, kiểu cọ và bay bướm, dùng dép râu lên rừng làm Kinh tế mới. Quân-Cán Chính Việt-Nam Cộng-Ḥa xỏ dép râu để đi vào …Tù!

 

Trại B5 giam giữ những người bị bắt: Bắt tại nhà do hàng xóm tố cáo v́ đă là Công Chức, là Lính, là Cảnh- Sát, là Cán- Bộ Xây Dựng Nông Thôn, là Chiêu Hồi…Bắt trên đường vượt biên, vượt biển. Lại có người bị bắt v́ lỡ lời xúc phạm đến “Cách Mạng” hoặc bị chụp mũ là “xê- i- a” v́ đă nói tiếng nước ngoài. Nói tiếng “nước ngoài” chỉ là gọi nhăn hiệu thương mại của gói thuốc lá như Salem. . như Pall Mall chẳng hạn.

 

Buồng giam số 8 đặc biệt hơn cả, ngoài số phạm nhân mắc các tội H́nh- Sự c̣n có gần chục ông vừa Bác-Sĩ, Nha-Sĩ, Dược-Sĩ. Các Sĩ-Quan Quân-Đội và Cảnh-Sát từ cấp Đại-Úy đến cấp Đại-Tá. Một ông Chỉ-Huy-Trưởng Thám-Sát Tỉnh (PRU). Một ông Chiêu-Hồi, một vị Đại-Đức Phật-Giáo. Một thành phần nửa lính, nửa dân: Địa-Phương-Quân!

 

Nói vậy cũng không “khiên-cưỡng” lắm v́ lẽ, Địa-Phương Quân mặc quần áo lính, cũng có súng, cũng bắn nhau với Việt Cộng, cũng bị thương và đôi khi cũng…chết. Dân kêu họ là Lính. C̣n lính thực thụ th́ lại không chấp nhận cho họ trong tộc thuộc của ḿnh, mà gọi họ là “lực lượng bán Quân-Sự” thế mới phiền. Nguyên lai, họ là Bảo-An và Dân-Vệ sinh ra từ thời Đệ-Nhất Cộng- Ḥa. Họ cũng có vợ con nhưng vợ con họ, không được hưởng phụ-cấp. Để úy lạo, hàng tháng, họ được lănh thêm, một bao gạo Mỹ đỏ với 2 thùng dầu ăn! Họ thường đùa giỡn: “Bảo-An v́ Dân trừ bạo, môt bao gạo, hai thùng dầu” nghe thật khôi hài.

 

Tất cả tù đều ở trong buồng giam kiên-cố. Thế nhưng, có một anh tù lại ở ngoài, dưới hàng hiên! Kể cũng lạ. Tứ thời bát tiết, độc nhất mặc chiếc quần xà lỏn! Anh là người Đại-Hàn. Nghe nói là Sĩ-Quan Công-Binh, mang cấp bậc Đại-Úy. Yêu gái Việt, Đại-Úy không chịu về nước, nhận Việt-Nam Cộng-Ḥa làm quê hương. Những tưởng, đời đời được sống bên ngưới yêu lư tưởng đâu dè, vận nước Việt-Nam đến lúc suy tàn, tháng 5 năm 1975, chàng bị Cộng-Sản bắt bỏ tù, rồi bị bỏ đói. Ít tháng sau, chết trong đói khát, bệnh hoạn. Những người tù kể trên, hoặc là kẻ thù của Cộng Sản v́ đă làm việc cho Chính-Quyền Quốc-Gia và có Chức vụ, Cấp bậc cao, hoặc liên quan đến sinh hoạt Xă Hội nhu thành phần H́nh-Sự. Song lạ hơn cả, có một người tự nguyện vào tù, chỉ v́ các tin đồn!

 

Tin đồn rằng: “Người Mỹ đang dàn xếp với Cộng Sản, sẽ “bốc” hết Ngụy Quân, Ngụy Quyền trong các Trại Giam đem sang Mỹ định cư cùng với Gia- đ́nh của họ! Chính Phủ Mỹ thuận trả bảy ngàn Đô la một gia đ́nh cho Cộng Sản. Địa điểm tập chung các Gia đ́nh tù nhân, chỉ được thông báo trước vài tiếng đồng hồ nhằm giữ bí mật, tránh sự ồn ào, mất trật tự, gây xáo trộn. Hành trang mang theo hết sức gọn nhẹ! v. . v. .

 

Ông Trần, nguyên là Hạ Sĩ-Quan, bắt được tin ấy, ông suy nghĩ, ra đi vội vàng như vậy, người Mỹ sẽ không có đủ th́ giờ sưu tra lư lịch từng người và nhất thời, sẽ không thể nào biết được ai thật, ai giả nên ông quyết định, tŕnh diện Công-An, tự khai ḿnh là Đại–Úy Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Ḥa. Trong lúc tranh tối tranh sáng, những tên Việt cộng với sự hiểu biết nông cạn, kém suy xét vôi vàng tin ngay, cấp tốc đưa ông vào tù và buồng giam chúng nhét ông vào là buồng số 8: đầy những loại ác ôn!

 

Bác- Sĩ  mang ḍng máu Hoàng  tộc, vốn có tính khôi hài, nh́n điệu bộ ông Trần, Bác- Sĩ mon men:

- H́nh như tôi đă gặp anh ở đâu?

- Tôi là Đại- Úy Tiểu-Đoàn Phó Địa-Phương-Quân ở Quân-Khu 3! Ông trả lời rất nhanh.

- Không, Tôi nhớ gặp anh chỗ khác cơ! Sài-G̣n chẳng hạn. Anh học trường  nào?

- À. Tôi học trường Luật. Đậu Cử-Nhân Luật!

 

Ông Bác- Sĩ gật gù:

- Có thế chứ. Ban nào?

- Ban Sử Địa!

- Núi của! Ông Bác- Sĩ buột miệng. Vậy là anh cũng thường đi ngoại quốc?

Ông Trần được trớn:

- Miên với Thái tôi đi hà rầm.

- Đi Thái Lan anh có qua Băng-Cốc không?

- Sao không! Qua Băng-Cốc mới tới Thái-Lan được chớ!

 

Anh em buồn cười nhưng thấy tội nghiệp. Không ai muốn sống với Cộng Sản cả. Chỉ tiếc là, cuộc chiến kết thúc mau quá, ngoài sức tưởng tượng của mọi người. Cả một Quốc-Gia với Quân-Đội và Cảnh-Sát hùng hậu như vậy mà phút chốc, tan biến như khói, như mây!

 

Nơi này, trước tháng 4 năm 1975 là trại giam nữ tù phiến Cộng. Gọi là khu nóc bằng v́ nóc nhà đổ Bê-tông bằng phẳng. 11 buồng giam bao quanh sân trải đá răm, . giữa sân có hồ nước ch́m, rộng khoảng 8 thước vuông không biết dùng để làm ǵ. Khu nhà bếp trấn ngay cổng chính, ăn thông với khu trại giam nữa bên ngoài. Khu ngoài này, có tên của Chính-Quyền Việt-Nam Cộng-Ḥa đặt cho là: “Trung-Tâm Cải-Huấn Tân-Hiệp”

 

Tiếng khóa mở lách cách bên ngoài. Cánh cửa sắt nặng nề rít lên xé thịt: tên Cai-ngục quần vàng áo trắng khẩu AK xệ một bên vai, chùm hụp cái nón cối, hất hàm:

- Đếm số!

 

Tù nhân  đứng thành 4 hàng  ngang. Người đứng đầu, tay dơ cao, miệng hô lớn:

- Một.

Rồi lần lượt:

- Hai…ba…bốn…bảy mươi bảy…hết!

 

Tên công an đánh dấu chữ thập trên trang giấy, lẳng lặng quay đi.

 

Mưa vẫn rơi đều… Tiếng mưa như nỉ non, kể kể ngàn nỗi u-sầu. Bốn hàng ngang tù nhân theo lệnh trưởng buồng giăn ra cho bài tập thể dục buổi sáng:

- Chạy tại chỗ…môt…hai…ba…bốn! một hai ba bốn…

- Hít thở…một…hai …ba…bốn…Hai hai …ba …bốn… ba hai. . ba…bốn…

 

Mười phút thể dục xong. Người th́ nằm, người th́ làm vệ sinh cá nhân xong rồi th́ cũng về chổ của ḿnh …nằm tiếp!

 

Bởi là những người bị bắt nên tất cả chỉ có độc nhất một bộ đồ trên người. Vật dụng tùy thân như giấy tờ, tiền bạc, kiếng đeo mắt, nhẫn cưới, đồng hồ đều bị tịch thu!Vợ con thân nhân không được thông báo nơi giam giữ, nên đă 5, 6 tháng trời rồi mà chẳng có người nào được  thăm nuôi, tiếp tế ǵ ráo! Thiếu phương tiện vệ sinh tối thiểu, hầu hết bị ghẻ lở. Những mụn ghẻ lớn bằng hạt bắp mưng đầy mủ, nổi kín trên những bộ xương mang h́nh hài của con người mất hết linh hoạt.

 

Trời đă sáng rơ. Ông Chỉ- Huy-Trưởng Thám-Sát Tỉnh thọc cây tăm vào chai dầu Nhị Thiên Đường quẹt nhẹ nhẹ lên từng mụn ghẻ.

 

- Ở đâu mà mày có thuốc đỏ vậy? Anh Đại- Úy Trưởng Ban Hai Chi-Khu hỏi.

- Th́ của mấy con “cái” bỏ lại.

- Mày chữa ghẻ bằng thuốc đỏ?

- Tao chưa khùng đâu mày! Buồn buồn quẹt chơi, Đại-Úy.

Ông Đại-Úy mách nước:

- Chờ nó xịt DDT mày lăn long lóc th́ họa may mới khá.

 

Từ một ‘lănh địa”, anh tù đang nằm, bỗng ngồi bật dậy, không nói không rằng, chắp hai tay sau đít, mặt cúi gằm xuống đất, phom phom đi hết đầu buồng tới cuối buồng. Ông Đại-Tá chắc suy nghĩ lung lắm. Trước khi làm Tỉnh- Trưởng/Tiểu- Khu- Trưởng, ông đă nắm một Liên-Đoàn Biệt-Động-Quân nổi danh đánh giặc giỏi. Khi Quân Lực Việt Nam Công-Ḥa vượt biên tảo thanh căn cứ địa của Cộng Quân ở bên kia biên giới Tây Nam, th́ ông là Chiến-Đoàn-Trưởng đơn vị chiến đấu ngang cấp Lữ-Đoàn. Chiến-Đoàn của ông, dưới sự điều động của Trung-Tướng Đỗ-Cao-Trí đă đánh cho Cộng Quân những trận tơi bời hoa lá`. Việt Cộng chỉ nghe tiếng Chiến-Đoàn của ông thôi, đă thất kinh hồn vía, chạy  mửa mật. Tiếc thay! Trời không tựa Việt-Nam Cộng-Ḥa. Tướng Trí đột tử. Nhật Báo Tự-Do viết:”…Cây cột chống Trời nhà họ Đỗ sụp đổ!. . . Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Ḥa mất một danh tướng!. . ” Và rồi, vị Tướng kế nhiệm Tướng Trí đă đem về cho Quân- Đoàn III chiến bại ê-chề tại mặt trận Snoul dạo ấy.!

 

Ở khung cửa sổ, ông Trung-Tá Không Đoàn Phó vùng Cao-Nguyên cây xanh, đất đỏ-Dù đang cảnh tội tù, vẫn chưa phai nét hào hoa, với hàm râu quai nón cắt tỉa, gọn gàng! Ông có vẻ đẹp vững chăi, kiêu hùng, song đôi mắt mầu hạt dẻ, cứ đăm đắm về quăng xa nào… hút sâu cả trời thăm thẳm để lâu lâu, thả nhẹ một tiếng thở dài!. . Ông sống ở Pháp từ nhỏ. Lớn lên, về Việt- Nam đi…lính. Ông nói tiếng Việt thường bị cà lăm và viết có nhiều khi sai chính tả thê thảm. nhưng không là cái sai của miền đồng chua nước mặn. Ông chỉ khó phân biệt những chữ ít dùng  các vần TR và CH. Trong lá thư cho vợ, ông đă viết như thế này:”. . Chời nắng Trang Trang anh ở Chần Trùi Trùi suốt ngày…Anh giữ ǵn nội qui, kỷ luật để sớm được tha về và gia đ́nh ḿnh Chùng phùng tái ngộ…!

 

Quang Gấu, Đại- Úy Khu- Trục cười nhe răng khểnh:

- Thế là khá lắm đó. Dạo mới về nước”, Quan Anh” viết chính tả, nhằm ngày mưa thày không nỡ cho ze’ro mà tặng một gậy chống cho khỏi ngă. Được cái đẹp trai hơn Mel Ferrer.

- Anh nào tên Sĩ, bước ra!.

 

Tên Cai ngục cầm mẩu giấy, bước sát khung cửa sắt. Cả buồng đang ồn ào bỗng im bặt.

- Tôi hỏi lại- Tên Công An tiếp-Có ai họ Sâm tên Sĩ có ra không th́ bảo!

Buồng trưởng nhắc khéo:

- Buồng này không có ai tên Sĩ cả. Cán bộ thử hỏi mấy buồng kia xem sao?

Hắn gắt nhặng sị

- Hỏi hết rồi. Chẳng có ai tên như vậy cả. Anh Tư bảo tôi là anh ấy ở pḥng này mà! Thế tại sao bây giờ lại không có?

- Cán bộ cho tôi coi “cái giấy”.

- Đây! Không phải Sĩ th́ là cái ǵ đây?

 

Buồng trưởng liếc qua rồi quay vào:

- Anh Sâm ơi! Bác-Sĩ Sâm ơi! Cán bộ cần gặp.

 

Ông Bác-Sĩ tủm tỉm cười, đón mẩu giấy từ tay tên công an “T́m anh Sâm Bác Sĩ buồng giam số 8”. Tên Cai Ngục mở khóa:

- Anh lên gặp Cán bộ Chấp Pháp làm việc. Anh không phải tên Sĩ à?

Bác-Sĩ Sâm vẫn giữ nụ cười:

- Tôi là Bác-Sĩ Sâm. không phải họ Sâm, cũng không phải tên Sĩ!

Chừng nửa giờ sau, ông Bác-Sĩ được trả về pḥng giam. Ông bạn đồng nghiệp, Y-Sĩ Giải- Phẫu Bệnh viện Dă-Chiến Quân-Đoàn nheo nheo đôi mắt:

- Lậu hay Giang mai?

- Hắn đổ ra một đống thuốc. Trong đó có cả mấy cục phấn Billard mới nguyên hỏi tên và cách dùng. Tội nghiệp, tiếng Việt cỡ lớp ba, làm sao nhớ nổi tên thuốc tiếng Anh, tiếng Pháp?

- Nguyễn-văn-Chín! Tên Công-An khác mang giấy  đến gọi.

- Có tôi đây.

- Mang hết tư trang theo tôi.

 

Ông Chín, Trưởng Ban Nông Hội Huyện. Bỏ Đảng, bỏ Xă-Hội Chủ-Nghĩa. Chiêu-hồi Chính-Quyền Việt-Nam Cộng-Ḥa ngay sau trận đánh Tết Mậu-Thân 1968. Cũng giống như các đồng chí của ông: Thượng-Tá Tám Hà và Trung-Tá Huỳnh-Cự, Chính- Phủ VNCH đă mở rộng ṿng tay đón tiếp, sau đó đă giao cho các ông ấy những chức vụ tương xứng và đă sống cuộc sống mới sung túc, tự do.

- Anh Chín, c̣n cái “Gô” và cái chiếu.

 

Chín nói mà không quay lại:

- Xài đi. Tôi kiếm cái khác.

 

Anh em nh́n theo người đồng cảnh, một chút xíu áy náy và xót xa. Có đến 3 tháng chung đụng với nhau, ít nhiều cũng có những kỷ niệm chia xẻ- những bàn cờ tướng, những lần tâm- sự. Anh em vẫn c̣n rùng ḿnh, xởn óc nghe anh thuật chuyện “Cách mạng” lấy Kẽm gai cột cần cỗ 9 ông vừa Xă-Trưởng vừa Trưởng-Ấp VNCH ở Tỉnh B́nh-Dương vào gốc cây Cao-Su rồi lấy xe “Đót cách cách” (Dodge 4x4) kéo! Có những cái đầu chưa đứt hẳn, c̣n lơng nhơng ở cổ! Hay chuyện Ông Trưởng-Ty Cảnh-Sát Quốc-Gia, đă chạy về quê tận Vùng 4 c̣n bị bắt đem trở lại nhiệm sở cũ, ra “Ṭa Án Nhân- Dân” rồi bị xử bắn! Thật vậy, “Cách mạng” miệng nói “khoan hồng” nhưng thật ḷng th́ cứ bắn giết. “Giết lầm c̣n hơn tha lầm” là câu thiệu của những người Cộng-Sản. Chưa bao giờ bằng lúc này, những người đồng cảnh-trong ngục tù Cộng sản-thông cảm nhau hơn. Cầu xin cho Anh được những may mắn, nguyên vẹn.

 

- Buồng trưởng đâu?

 

Một người đàn ông đứng tuổi, tay cầm cái chén và đôi đũa, dúm dó đứng sau tên Công-An mà báng súng AK thơng xuống đầu gối.

 

- Có tôi đây, cán bộ.

- Xếp chỗ cho anh này!.

 

Người tù mới được phân cho một chỗ nằm. Tù cũ chờ cho tên Công an đi khỏi, xúm lại:

- Lính hay Cảnh- Sát?

- Tội ǵ vậy?

 

Người đàn ông lắc đầu, ngao ngán:

- Tôi là dân. Tôi có “Garage” sửa xe.

Giọng Bắc đặc sệt của Hà-Nội 36 phố phường, nhưng lại pha trộn từ ngữ miền Nam, chắc không phải con cháu bác Hồ. Phe ta ḍ xét:

- Anh ở Biên- Ḥa?

- Tiệm tôi ở Biên-Hùng, gần “Quân-Đoàn”.

- Bị bắt lâu, mau?

- Hồi tối này. Mấy ông là Quân-Đội, Cảnh-Sát?.

- Lộn xộn xà ngầu! Bộ không chịu sửa xe cho họ sao?

- Không có. Lệnh của “Ủy- Ban” bắt treo h́nh cụ Hồ. Tôi treo xong, đốt 3 cây nhang vái “Trăm lạy Bác, vạn lạy Bác. Con ớn Bác quá nên con mới chạy vào Nam. Không ngờ Bác linh thiêng thật, 20 năm sau, Bác cũng ṃ theo được. Thật hết chỗ nói!” Không dè thằng hàng xóm nghe được đi báo cáo. Du kích đến bắt, đem về Ty Công- An nhốt một đêm. Mới sáng ngày, đưa qua đây.

- Đúng là vạ mồm, vạ miệng!

 

Ngoài trời lúc sáng, lúc tối. Trần mây thật thấp và gió nhiều. Những đôi mắt tù đăm đắm van xin hai chữ Tự- Do trong tuyệt vọng, trong căm hờn và tiếc nuối.

 

- Có anh nào biết hát không?

 

Tên Cai ngục hỏi vọng vào. Không có tiếng trả lời.

 

- Buồng trưởng cho các anh học mấy bài hát này. Bài hát của Cách mạng. Cấm hát “Nhạc vàng”.!

 

Buồng trưởng nguyên là Thiếu- Tá thuộc Sư- Đoàn 18 Bộ- Binh, nhận bài hát cười nửa miệng:

- Xin anh em chuẩn bị học ca. Đây có mấy bài, Tiến quân ca, Băo nổi lên rồi, Giải phóng miền Nam…Ai biết kư âm pháp, xin chỉ cho anh em…

Tất cả im lặng. Măi sau có người xung-phong:

- Tôi biết chút Âm nhạc. Xin phép hướng dẫn anh em.

Thiếu-Tá Nhung, thuộc Bộ Tư-Lệnh Cảnh-Sát Quốc-Gia được tôn làm thày dạy nhạc. Anh dụ dự một lúc rồi nói;

- Tôi đề nghị ḿnh tập bài Tiến quân ca… Nào tôi bắt nhịp… “Đoàn quân Việt Nam đi…hai. . ba…”

- Nước tới!

- Cơm tới!

 

Hai anh tù khiêng thùng nước đặt trước cửa. Hai anh tù khác khiêng  thau cơm và “sô”nước mắm để bên cạnh. Tên cai ngục mở khóa. Cơm, nước được đưa vào trong. Mọi người lăng xăng về chỗ lấy đồ đựng. Những lon “gô”sắp lộn xộn cạnh thùng nước uống. Chung quanh thau cơm, các đồ đựng của các tổ lại được đặt thứ tự bên bốn góc thau. Miếng cháy bằng cái quạt  mo nằm trên chốc thau cơm. Tổ trưởng tổ trực nhật bẻ miếng cháy làm 4 phần đều nhau, chia cho 4 tổ. Người trực tổ chia lại lần nữa cho các tổ viên. Mỗi người được một miếng bằng ngón tay cái. Không ai chê cả. Cũng chẳng có ai thắc mắc về vấn đề vệ sinh.! Một chút đỉnh chả đi đến đâu, nhưng cũng vơi bớt phần nào cái đói, đang cấu xé, giày xéo ruột gan.

 

Tổ trực trách nhiệm chia cơm- công việc quan trọng nhất. Phải làm sao thật công bằng v́ có tới 154 con mắt chăm chú theo dơi bàn tay phân phối! Cơm đánh lên cho tơi ra từng hột. Đồ lường là cái chén mủ mà cả buồng đă chấp thuận sau cả chục buổi họp. Đồ đựng cơm  cá nhân có thể là: chén, tô, ca, nồi, xoong hay bất cứ cái ǵ nhưng phải sạch, v́ phần cơm đựng trong đồ của ḿnh nhưng chưa chắc đă là của ḿnh, mà c̣n phải qua cuộc bốc thăm, bắt số! “Oẳn tù t́”xong người thắng chọn phần trước, rồi lần lượt theo qui định, các người khác mới được lấy phần tiếp theo. Nước mắm không thành vấn đề, ai cũng biết, chỉ là nước muối pha chút nước màu. Tù dán cho nó nhăn hiệu “Nước Mắt Quê- Hương”. Phần cơm mỗi bữa, suưt soát chén ăn cơm. Chia bắt phần th́ lâu. Ăn không đầy 2 phút đă hết. không văi một hột!

 

- Ăn rồi cũng như chưa ăn. Ông Thiếu-Tá Trưởng Pḥng Nh́ Sư-Đoàn phán một câu xanh rờn.

- C̣n phải nói! Ông Thiếu-Tá Trưởng Pḥng Tổng-Quản-Trị Tiểu-Khu thêm thắt. Cái “Rơ” của nó như vậy mà

- Anh nào nói cái ǵ đó?

 

Tên Công –an bất thần xuất hiện. Chẳng ai buồn trả lời.

- Anh nào có vợ, hay chị, hay em tên là…tên là…Hắn lầm bầm đánh vần:

- Hờ e he sắc hé…lờ e le huyền lè…Phải rồi! hé lè ne! Tên với tuổi. Đọc khó bỏ cha đi.!

 

Ông Thiếu-Tá Phụ-Tá Cảnh-Sát Đặc-Biệt nắn gân:

- Núi của! Tây hay Ta, cán bộ? Sợ họ viết nhầm chăng?

 

Hắn nhăn nhó:

- Ta chứ lị! Nhầm thế nào được mà nhầm. Giấy trắng mực đen rành rành thế này, mà bảo nhẩm là nhầm thế nào?

 

Tờ giấy đưa cho mọi người. Tù bu lại coi.

 

- Bà Sáng! Helene lên thăm ông, ông Sáng ơi!

 

Ông Dược-Sĩ thuộc Cục Quân-Y QLVNCH lấy vợ con nhà quyền quí, giầu có, mang quốc tịch Pháp. Bà vốn là cựu nữ sinh Trường Couvent des Oiseaux Đà- Lạt.

 

Tên Cai-ngục ra lệnh:

- Anh mặc quần áo tề chỉnh, ra gặp người nhà. Các anh khác ra sân chơi. Tất cả khẩn trương lên!

 

Ở ngoài sáng mới thấy rơ, mặt người nào cũng xanh như lá. Xương sống, xương sườn phô ra từng bẹ! Toàn thân ghẻ lác kềnh càng. Các buồng giam khác cũng lần lượt được ra sân phơi nắng. Mỗi buồng đứng riêng một khu. Trăm người như một, gầy yếu, bệnh hoạn, hốc hác, suy sụp. Việc ra sân hứng gió là một ân huệ, cả tháng mới có một lần. Thời gian không quá 15 phút. Bên cạnh hồ nước, chị nữ y- tá”cách mạng” mập đen như cục mực tàu đang nhịp nhịp cái roi tre. Tóc chị thắt bím chảy dài quá đôi mông như mông trâu và cong lên như đít vịt. Chị chỉ một anh tù:

- Xuống!

 

Anh chàng toàn thân như dính đậu đỏ, trù trừ không chịu bước xuống hồ. Nước hồ lên đến quá nửa.

 

- Cởi quần ra!

 

Anh tù, hai tay nắm hai bên cạp quần ngần ngại:

- Tôi không …Tôi không có “x́ líp”.

 

Chị y- tá quắc mắt:

- Cởi quần ra! Bước xuống hồ! Có ngâm không, th́ bảo!

 

Cái roi tre vun vút tiến sát đầu vai. Anh tù hoảng hồn, nhảy đại xuống. Chưa được mấy giây, nhảy dựng lên, la chói lói:

- Ôi cha mẹ ơi! Rát quá!

 

Nguyên “Ban Chấp hành” đong đưa, lủng lẳng trước mặt chị phụ nữ. Dường như bộ “đồ nghề”của chàng không có ǵ sắc sảo lắm nên mặt chị ta tỉnh queo:

- Ngồi xuống!

 

Đứng lên, ngồi xuống măi, miết rồi anh cũng chịu trận. Hồ nước muối cũng đông khách đáo để. Có đến hơn hai chục mạng xử dụng.

 

- Réc!. . . réc!. . .

 

Một tên Cai ngục miệng thổi c̣i, tay phất lia lịa ra dấu cho mọi người vào buồng. Thoáng chốc, khoảng sân trở lại khung cảnh yên-tĩnh, lạnh lùng.

Lát sau ông Dược-Sĩ cũng trở về, sau khi được gặp gia đ́nh và được tiếp tế. Vài bạn tù e-dè, kín đáo hỏi thăm tin tức bên ngoài.

 

- Sắp sửa đổi tiền, dĩ nhiên. Vừa không chấp nhận tiền ḿnh và vừa “gom vốn”. Vài vùng sâu, “Tàn quân” có vũ-trang và được tiếp liệu, chạm súng với Bộ đội tuy không đánh lớn nhưng gây tiếng vang. Ông Dược–sĩ mắt lớn, mắt bé- không nghe tên Tướng Lănh chỉ huy. Chỉ biết có cấp Tá của Dù và Thủy Quân Lục-Chiến điều- động…

 

Nghe th́ nghe vậy, nhưng bảy mươi bảy anh tù vẩn ngoan ngoăn trong caí hộp bê- tông mà chưa một lần mơ tới ngày về. Trăm ngàn tài liệu, cùng các nhân chứng sống nói về sự tàn ác, dă man đầy thú tính của Cộng-Sản đối với những người đối lập với chúng. Thôi th́ cố gắng moi móc niềm tin để mà hy vọng, để mà sống.!

 

Mưa lại lộp độp rơi. Mưa đập trên mái hiên lợp tôn những âm thanh khô cộc. Nỗi nhớ thương gia đ́nh vợ con đâm cắt ruột gan, bào xé tim óc. Không biết bây giờ, họ làm ăn sinh sống ra sao? Tâm tư đứt đoạn, ḷng dạ bồn chồn, hoang mang, buồn lo chồng chất lộn xộn. . Không một ai đủ can đảm hồi tưởng thảm trạng 30- tháng 4 năm 1975. Chỉ đau đớn nhớ rằng, mỗi lời xin đầu hàng vô- điều- kiện của Dương- văn- Minh là những phát Đại bác phá nát tâm can toàn dân, toàn dân Việt-Nam Cộng-Ḥa. Lúc đó!

 

Trời xám đi rồi tối đen. Mưa gió vật vă điên cuồng. Đây đó, vài bàn cờ tướng. Các đấu thủ co gối, gục đầu nghiền ngẫm đường đi nước bước. Mấy anh chầu ŕa, nóng ruột giùm, đâm hơi chỉ chọt. Người được mách nước lưỡng lự, dùng dằng. Kẻ đối đầu, hốt nhiên bực tức! Lời qua, tiếng lại. Không có ai bị “ăn” bàn cờ bởi lẽ, bàn vẽ trên giấy hay trên nền nhà. Chỗ nọ, gần chục mạng, chăm chú ghi công thức Nấu ăn. Lớp Gia- Chánh dạy đủ các ngón nghề: Đồ ăn Tàu, đồ ăn Tây. Chán rồi trở lại quê nhà: Bún ḅ, bún riêu cua, bún ốc, bún mắm…Thạch, chè, bánh trái. Chả biết Thày đă có bao giờ vào Bếp hay chưa? Học tṛ sau này, có c̣n chí để mở nhà hàng ăn uống hay thôi? Chỉ biết, học viên vừa viết, vừa hít hà ṿ đầu, bứt tai khen lấy, khen để! Thày dạy, miệng giảng, miệng nuốt nước miếng ừng ực tựa trâu uống nước! Chừng chịu hết nổi, thày phát tiếng Ta, giọng Tàu:

- Hầy à!. . . Cứ “ăng hàm thụ” như dầy ngộ chịu hổng thấu. Lù mệ! Mấy lị tan hàng đi! Bữa khác học tiếp!

 

Đông đúc nhất là hai “rạp” chiếu phim. Mỗi rạp chiếm một góc buồng. Rạp “Nam- Quang” chiếu tuồng Ấn-Độ và tuồng Tàu. Khán giả đang thưởng thức trận Hỏa công Xích-Bích. Bà con phục lăn tài Khổng–Minh xem Thiên- Văn, mượn sương mù, đoạt 30 vạn mũi tên của Tào-Tháo. Máy quay là Bác-Sĩ Nha-Khoa Sư- Đoàn thông minh và điển trai. Máy có th́ giờ đọc tới, đọc lui nên nhớ không sót một chi tiết. Như người ta, giờ này Bác-Sĩ đang phây phây ở Pháp với người yêu Dược-Sĩ, Hoa-Khôi Dược Khoa Đại- Học-Đường, Sài-G̣n. Trái lại, v́ danh-dự, v́ trách nhiệm, Bác-Sĩ đă hụt chuyến bay cuối cùng đi Paris. Rồi tiếp theo, hụt thêm 3, 4 lần vượt biển . Bác sĩ bị bắt bị giam ở B5, ngẫu nhiên, trở thành một trong những máy “quay” lỗi lạc của buồng giam số 8. Các chuyện Chưởng Tiếu Ngạo Giang Hồ, …Lục Mạch Thần Kiếm…Lệnh Xé Xác…máy quay vanh vách thuật laị cách đánh từng chiêu kiếm, từng ngọn chưởng, từng câu đối thoại ngớ ngẩn của  anh em Đào Cốc Lục Tiên! Khiến cho khán giả cười muốn bể rạp!

 

Rạp”Rex” qui tụ khán giả hôm nay, nhỉnh hơn đôi chút, song có vẻ trật tự hơn, có lẽ, số người bị ghẻ ít hơn. Không có màn vừa há mồm nghe, vừa vung tay chân găi cào loạn xạ. Phim chiếu chuyện “Chuyến Đi Bắt Buộc” máy dịch từ bản tiếng Pháp “La March forcee’ “. Máy quên tên Tác-Giả, mơ hồ cho biết, h́nh như là người Ba-Lan! Máy có hứa hẹn, sau này có dịp, sẽ trả tiền Tác-Quyền đàng hoàng mổi lần chiếu. Thôi cũng được. Có hứa là được!

 

Chuyện kể, những người tù vượt ngục dưới thời Nga- Sô, trốn thoát về đến Ấn- Độ. Họ là những người tù Siberia duy nhất vượt ngục thành công bởi sự mưu trí, khôn ngoan, lanh lợi. Họ đă lừa được những con sói Công-an Sô-viết khi chọn con đường dài nhất để đi. Toán 7 người đó vượt qua  Sa-mạc Gobi dài 800 dặm của Mông-Cổ sát biên giới Trung- Hoa–Điều mà không ai có thể tưởng tượng nổi.! Máy quay của “Rex” có tài kể chuyện. Người nguyên là Trung-Tá phục vụ tại Sư-Đoàn 18 Bộ-Binh. Lớn tuổi, chồn chân, bèn xin biệt phái Địa-Phương-Quân làm Sĩ-Quan huấn luyện tại chỗ cho mấy chú Bán quân- sự. Lâu lâu, máy thêm thắt vài từ ngữ “B́nh dân học vụ” khiến cho câu chuyện, t́nh tiết đă gay go, mạo hiểm lại thêm hấp dẫn, vui nhộn.

 

H́nh thức các “Rạp hát” từa tựa nhau. Máy quay dựa lưng vào tường. Khán giả ngồi vây quanh. Điếu đóm rôm rả: vài điếu thuốc rê, vài bi thước lào, cục đường tán, dăm ba cái kẹo. Ước chừng khô miệng, máy nghỉ xả hơi, kéo điếu thuốc lào, nhấm nháp tí…ngọt thấm giọng, …. làm tiếp.

 

- Báo cáo cán bộ, cấp cứu! Cấp cứu!

- Báo cáo cán bộ có người sắp chết! Sắp chết!

 

Tiếng kêu cứu vang dội khắp khu trại giam. Mọi người dáo dác nh́n ra ngoài. Ai đó thông báo:

- Buồng 4 có người bệnh.

- Sao biết buồng 4?

- Buồng 4 đối diện buồng ḿnh, thấy tuốt. Mưa lớn quá. Sân ngập đầy, bà con ơi!

 

Mưa sôi bong bóng. Nước đổ xuống mỗi lúc một nhiều. Nước ngập hàng hiên và ôm sát chân tường. Gió hú ào ào, . quay cuồng vật vă. Đất trời mù mịt. Ai nấy về chỗ ḿnh nằm. Ông  Đại-Tá tiếp tục đi. Ông Trung-Tá Công-Binh tốt nghiệp E’cole Politechnique Pháp hiện là Giáo-Sư Giảng dạy ở Trung Tâm Kỹ-Thuật Phú-Thọ, chạy bộ tại chỗ mặc cho sấm sét gầm thét, đ́ đùng. Ông tập thể dục ngày hai lần. Hồi mới vào tù, ông cân 90 kư. Ba tháng sau, c̣n non sáu chục. Ở một chỗ nằm, tên đặc công nào đó, buồn t́nh thả “bom khinh khí”. Bà con hàng xứ chửi thề vung vít. Nhân số đông đảo, chẳng có dấu tích ǵ để nhận th́ biết t́m đâu ra thủ phạm? Loáng rồi cũng êm.

 

- Nước tới!

- Cơm tới!

 

Khác mọi ngày, chiều nay, thay v́ nước muối, tù được phát một thau đồ ăn- loại thau con nít chơi bán đồ hàng-Cái ǵ sền sệt như khoai lang nghiền?

 

Anh tù Cấp dưỡng nói lớn cho Công an cùng nghe:

- Ban Giám-Thị cho các anh bồi dưỡng, cơm cà-ri gà!

Ông Chi-Khu Phó, thày dạy lớp Gia-Chánh nói chẳng cần ai nghe:

- Khoai lang thuần túy. Lông gà cũng “đách”có.

 

Trưởng buồng lên tiếng:

- Nước ngập đến ngưỡng cửa. Tổ trực làm ơn lẹ lẹ tay. Hông thôi lụt th́ kẹt đa!

 

Tất cả các buồng giam đều đă xây ngưỡng cửa cao khỏi mặt đất khoảng nửa thước. Mỗi khi ra vào, mọi người phải nhấc chân thật cao để bước qua.

 

Một đỗi lâu lắm, cơm nước chia xong th́ cũng là lúc, nước từ ngoài sân ào vào như cống bể! Tù nhân vội vàng tém dẹp đồ đạc cá nhân, đặt lên những chỗ cao, hay cột ṭn ten vào các chấn song ở cửa sổ và rào sắt nơi cửa ra vào chính. Nước tuôn xối xả. Nháy mắt, đă dâng lên đến đầu gối. Tù vừa lội lơm bơm vừa ăn. Đột nhiên tiếng “x́ x́” đâu đó phát ra, rồi ̣ng ọc từ hai lỗ của hai bàn cầu tiêu, phùn phụt đẩy lên, bùn đen ng̣m cùng với phân người vàng ngoét. Phút chốc phân trôi lểnh mểnh khắp buồng, hôi thối nồng nặc, kinh hoàng!

 

- Báo cáo Cán bộ lụt…lụt…cấp cứu! cấp cứu!

- Báo cáo cán bộ cấp cứu! nước lụt! chết đuối!

 

Buồng này kêu cứu. Buồng kia kêu vớt. Cả trại hè nhau la hét thất thanh. Tất cả các buồng đều chung thảm cảnh. Mực nước dâng thật nhanh, lưng quần rồi tới ngực chỉ trong nháy mắt. Quang Gấu tay bưng chén cơm trộn khoai lang vàng khè, tay kia, khe khẽ khỏa nước đẩy mấy cục phân to như những cùi bắp, dang lừng lững muốn tắp vào người.

 

- Ê! Đù má. Vừa phải thôi Quang! Ông Trưởng Pḥng Ba Tiểu- Khu la lên.

- Không lẽ, để “nó” tắp vô tao?

- Bộ mày muốn nó trôi đi đâu? Mày coi, trong này có chỗ nào mà không có nó? Ngó hông tao nè. Bên mày mới có hai, c̣n tao, tới bốn lận. mà này Gấu, giống quá mày!

 

Quang Gấu tṛn mắt:

- Cái ǵ giống?

- Cà- ri với “nó” chứ ǵ, mày!

- Nghe muốn ói!

 

Bảy mươi bảy anh tù- mà cũng có thể  suưt soát một ngàn, đang ngâm ḿnh trong bể phân người. Bây giờ, họ quên cái bẩn thỉu mà chỉ cuống cuồng trước mực nước dâng nhanh như triều biển! Người cao nhất, nước ngập đến vai. Kẻ thấp lùn thi nhau bám víu các song sắt đong đưa như bầy khỉ vọc! Mọi người, mọi buồng kêu khóc vang trời. Trời tiếp tục vần vũ đổ mưa. Sấm chớp thịnh nộ gầm gừ. Bỗng một cái xuồng xuất hiện. Ba tên công- an xà lỏn, áo thung hè nhau chèo đến các buồng mở khóa cửa. Tù nhân được tháo cũi, lóp ngóp bơi ra ngoài. Người không biết lội th́ bám vào các cửa sổ, mái hiên, tiếp tục kêu cứu! Thêm cái xuồng nữa bơi vào, trên xuồng có tên Giám thị, chở theo mấy cái thang tre. Cai ngục bắc thang cho tù leo lên nóc nhà chạy lụt. Nóc nhà bằng phẳng, tù có chỗ đứng vững vàng. Trên, trời tiếp tục mưa. Dưới, nước tiếp tục dâng. Nước lên xấp xỉ mái nhà, c̣n đâu hơn tấc! Nh́n ra bốn phía, trời nước mênh mông. Người đứng lúc nhúc trên nóc đông hơn kiến bu chè đậu. Trong vùng ánh sáng lờ mờ, tù nhân run rẩy, đói lạnh, hăi hùng. Hai chiếc xuồng chở những tên Công an với  súng AK cầm tay, chèo qua, lộn lại, ḥ hét chỉ chọt. Đèn pin lướt tới, loáng lui. Gió mưa giày ṿ, vùi dập. Xa xa, ánh đèn vương lại, thoi thóp, tàn phai.! Tù nhân cúi đầu cam chịu, Không biết c̣n những bất hạnh nào sẽ đến? Những tương lai giông băo?  Kiếp sống  địa ngục trầm- luân? Những ngày đầu bị bắt, hầu như tất cả “Ngụy quân, Ngụy quyền”- theo cách gọi của Cộng- Sản- dù bán tín, bán nghi vào những lời tuyên truyền, hứa hẹn Cộng Sản rêu rao nhưng cũng tự nguyện “yên tâm cải tạo, tin tưởng vào chính sách khoan hồng nhân đạo của Đảng và nhà nước Xă-Hội Chủ Nghĩa” nên chẳng ai có mưu định trốn trại mà chỉ cố gắng giữ ǵn Kỷ luật để mong sớm được tha về!

 

Đột nhiên, nước rút thật nhanh. Phút chốc, sân trại hiện ra, vũng lơm đen ng̣m. Tù được lệnh xuống đất, trở vào buồng giam như cũ. Tù Cấp dưỡng nguyên là Bộ đội cụ Hồ phạm kỷ luật làm bộ rành chuyện;

 

- Nhờ chú Tư cho đập góc tường mới hết lụt. Chớ mấy ống cống nghẹt cứng.

 

Mọi người ngán ngẩm trước cảnh tượng bừa bộn kinh hoàng: Phân và bùn không những đă ngập đến mắt cá chân mà c̣n leo cả lên bốn chung quanh tường! Tanh tưởi, hôi thối không lời nào nói hết. Tù nhân thân thể ră rời, áo quần ướt sũng như chuột lột!

 

- Xin anh em cố gắng mỗi người một tay, dọn dẹp, rửa ráy để c̣n nghỉ ngơi. Chắc cũng khuya lắm rồi.

 

Buồng trưởng dứt lời, bụm tay làm xẻng hốt bùn đổ xuống lỗ cầu. Anh em tù nhân muốn hay không muốn cũng phải góp hai bàn tay tẩy rửa. Tất cả h́ hục lau chùi, quét dọn chỉ với “hai bàn tay trần” . Rửa ráy pḥng ốc xong, cứ hai người một cái chiếu làm quạt, quạt cho nền nhà. Nền nhà vừa khô, th́ trời cũng vừa hé sang: Một ngày tù mới bắt đầu!

 

                                                                              

Từ Sơn (Kent- Mùa Hè 2005)

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính