Lối thoát

 

Truyện ngắn   TỪ- SƠN.

 

 

Kính dâng hương hồn Kỹ- Sư Nguyễn-Hữu-Tuyết- Mến tặng các bạn: Thạch-Tư Sanh-Tống Minh-Hội.

 

Người đàn ông ốm như cây tre miễu, xách cái  ballot làm bằng vải áo giáp Mỹ lủng lẳng ở tay phải, mà bàn tay đen như than đước, tay kia đánh đồng sa giống mấy mụ quẩy hàng ra chợ, xăng xái đến trước cổng của ṭa nhà lớn. Ṭa nhà là kiến trúc của Pháp, có hàng rào sắt bọc kín xung quanh, với mũi song nhọn hoắt, đưa tuốt lên trời.

 

Hắn tiến đến trước tấm bảng, do hai miếng gỗ thông “coffrage” sần sùi, nham nhở ghép lại một cách cẩu thả và nh́n thật sâu vào hàng phấn viết như cua ḅ: “Cần nhiều lao động phổ thông”.

 

Hắn rời tấm bảng, bước lại cổng. Hai cánh cổng cũng là những song sắt đan sát nhau, mở banh ra hai phía, để lộ khoảng sân hun hút, thênh thang mà ở tuốt phía trong, có những bóng cây lớn, che tối cả một khoảng mặt bằng. Cũng nơi ấy, là Công Trường xây cất, thấp thoáng những người thợ: già, trẻ, trai, gái... đi lại, cười nói. Tiếng búa đóng chan chát. Tiếng xe cải tiến chạy cót két. Tiếng con ṛng rọc lăn trên dàn quay rọt rẹt, ḥa trộn tiếng chửi thề, tiếng gọi nhau, tạo thành mớ âm thanh quay cuồng, vỡ nát.

 

- Chú kiếm ai vậy?

 

Người đàn ông giật ḿnh ngó lui. Anh thanh niên để bộ râu cá chốt, khuôn mặt hừng lên v́ men rượu trộn với nắng sáng, hất hàm hỏi.

- Dạ không kiếm ai hết.

 

Mắt anh thanh niên sụp xuống:

- Không kiếm ai, tới đây làm chi?

 

Người đàn ông vuốt nhẹ mái tóc muối nhiều hơn tiêu:

- Tính xin mần công chuyện.

- Chú biết làm ǵ?

- Dạ... làm ǵ cũng được!

 

Anh thanh niên tṛn mắt:

- Coi! Chú là thợ hồ, thợ sắt, thợ điện, thợ mộc? Thứ nào một thứ thôi chớ!

 

Người đàn ông cười hề hề:

- Tôi không biết làm thợ.

- Vậy sao nói làm ǵ cũng được?

- Dạ... tôi xin làm “Cu li”. Cu li làm ǵ cũng được. Làm theo lệnh của mấy ông sai!

 

Anh thanh niên ngó người đàn ông từ đầu xuống chân, rồi lại từ chân lên đầu, mắt dừng ở cái trán-bóng như trét dầu và nhô ra như mũi đất:

- Chú nhiêu tuổi rồi?

- Dạ, bốn mươi.

- Bốn mươi sao già quá vậy?

 

Người đàn ông cúi mặt xuống đất, khẽ một hơi thở:

- Dạ già. C̣n trẻ ǵ đâu nữa chú!

 

Anh thanh niên lớp tớp:

- Tui ba mươi nè. Kêu “anh” được hôn? Mà anh thứ mấy?

- Dạ, tui thứ ba. Cứ kêu Ba Thựng cho gọn.

- Vậy anh dzô trong trỏng kiếm cô Hồng, đặng xin cổ cho làm.

 

Ba Thựng do dự một lát, ngửa mặt nh́n trời, rồi theo hướng tay chỉ của anh thanh niên, ngập ngừng từng bước, dọ dẫm vào khu vực Công trường.

 

Đường đi lầy lội, gạch đá, vôi vữa. Những mảnh “Coffrage” tênh hênh cắm đầy đinh, lởm chởm vứt bừa băi trên mặt đất. Ba Thựng một mắt dáo dác t́m cô Hồng,c̣n mắt kia phải phụ trông chừng đôi chân - Đôi bàn chân gầy guộc, mốc thếch, chỉ được bảo vệ bằng đôi dép nhựa mỏng dính như bánh tráng cuốn chả gị.

- Bố già! Bố đi đâu đó?

- Chú Hai ơi! Kiếm ai đó? Chú Hai!

 

Một nhóm sáu đứa vừa trai vừa gái. Cứ hai đứa vào một cái khiêng. Chúng đương chuyển đá “một-hai” từ những đống đá cao như nóc nhà, ra từng đống nhỏ hơn, chia đều trên mặt sân “be'ton” nóng bỏng, của tầng hai căn lầu đang đúc dở. Ba Thựng hỏi một đứa trong bọn:

- Cô Hồng ở đâu mấy cháu?

 

Đứa con gái khuôn mặt đầy như cái bánh bao, mau mắn:

- Cổ ngồi ở  cái bàn đằng đẳng. Giờ này, cổ nghỉ rồi. Đầu giờ chiều cổ mới trở lại. Bộ chú xin mần việc hả?

- Ừa! Xin làm cu li.

 

Mấy đứa nhao nhao:

- Làm  cu li cực lắm chú ơi. Sao chú không xin làm thợ? Làm thợ khỏe mà có tiền nhiều. Lương cu li ít xịt. Sức chú làm không nổi đâu!

 

Người đàn ông cười cười nh́n đám trẻ, thọc tay vào túi quần, kéo ra cái bịch nylon nhàu nát lồng bồng.

- Chú cho con dzấn một điếu. Thằng trai xin.

- “Đu mẹ”! Cái tật xin xỏ. Đừng cho nó chú ơi! Thằng khác xen vào.

 

Ba Thựng lẳng lặng ngắt cục thuốc bằng lóng tay cái, trải vuông giấy quyến lên mặt đất, xé một miếng, đưa bịch thuốc cho thằng nhỏ, dễ dăi:

- Bàu Hàm đó mày! “Ngon” hết xảy. Mày coi, cọng thuốc vàng rượm mà mật tươm đặc quẹo. Hút đi mấy cháu!

 

Vừa nói hắn vừa tẻ cục thuốc cho đều trên mặt giấy, bằng hai ngón trỏ và hai ngón cái một cách gọn gàng, thành thạo, đoạn kẹp điếu thuốc giữa hai ḷng bàn tay, xoa cái rẹt! Điếu thuốc sâu kèn, một đầu như ống loa,c̣n đầu nhỏ cỡ cọng nhang, và le lưỡi liếm đầu giấy. Điếu thuốc Rê được gắn lên đôi môi xám xịt giống da con trùng hổ. Thằng nhỏ đưa trả bịch thuốc, lên mặt sành đời:

-  Cỡ bằng G̣ Vấp không chú?

 

Ba Thựng hỏi lại:

- Mày biết ông Tề không? Kéo một cái, nấc cụt ba ngày lận! Nhưng tao không khứng bằng thứ này. Bàu Hàm hút không có đàm mày ơi!

 

Một đứa con gái cắt ngang câu chuyện:

- Nhà chú ở đâu? Chú mới tới đây hả?

- Ừa mới tới. Mấy cháu làm ở đây lâu, mau rồi?

 

Đứa con gái vênh mặt:

- Tám tháng rồi đó. Từ lúc khởi móng, giờ lên tầng ba. Làm nghề này chán lắm chú ơi. Nghỉ hoài hà. Hổng có tiền xài.

- Sao lại nghỉ hoài?

 

Đứa con gái xụ mặt:

- Công trường của nhà nước. Làm được ít bữa lại hết vật tư. Chừng nhà nước “rót” ngân khoản về, th́ cai kêu làm lại. Cứ mửng đó làm hoài!

- Ai làm cai ở đây, mấy cháu?

- Ông Ba Dẹp. Hồi trước Ổng là “lính Ngụy Địa- Phương Quân”. Hắc ám thấy mồ.

 

Người đàn ông xích lại ṭ ṃ:

- Hắc ám sao?

- Ông khó lắm. Ngồi nghỉ một chút ổng cũng la. Mấy nơi khác, cai cho lấy củi về nhà nấu cơm thoải mái. C̣n ổng, sức mấy! Ổng biết, đứa nào lấy một cây củi cho nghỉ tức th́ đừng nói tới vụ ăn cắp xi-măng!

- Sao mấy cháu ngồi nghỉ năy giờ vậy?

- Xí! Tụi cháu làm khoán chứ bộ. Ổng khoán hết đống đá và đống cát này, lường đổ bê tông bốn ngày. Tụi cháu làm mới có hai ngày đă muốn bứt. Kỳ này Ổng “thua” đậm.

 

Ba Thựng hỏi tới:

- Ông thầu là ai vậy?

 

Thăng trai lớn nhất trong bọn, tóc dài chấm vai, dính đầy bụi đất, làm như rành chuyện:

- Ông Thới. Trước “giải phóng” ổng là “Chửng úy” của Sư- Đoàn 25 Củ Chi. Em ổng là cán bộ tập kết, bảo lănh cho ổng khỏi đi học tập. Vợ ổng cũng là Kiến Trúc Sư, học trên ổng hai lớp. Bả học giỏi lắm, Công trường này, bả làm bản vẽ. Ổng thầu xây cất luôn. Cô Hồng là em ruột bả. Cổ có Trung-Học Ngụy chớ bộ.

 

Ba Thựng cong cái lưng ṛm, rít nốt hơi thuốc cuối cùng, cung ngón tay, búng nó xuống đất:

- Cái chú có râu, đẹp trai làm ǵ ở đây vậy?

- Chú nói ông có râu nào? Phải người hỏi chú ở cổng hồi năy hả?

- Ờ phải đó!

- Ổng là cháu ruột ông Tư Khỏe, Giám-Đốc Sở. Ổng làm Trưởng Toán Bảo Vệ. Ổng thương cô Hồng lắm. Hai người sắp làm đám cưới.

 

Ba Thựng cười như mếu:

- Hèn gi! Ổng tên chi?

- Ổng tên Chí. Nhậu một cây đó chú. Chịu chơi hết biết.

- Chịu chơi làm sao?

 

Thăng trai vung tay diễn tả:

- Chú biết hôn. Có lần ổng đi nhậu “uưnh lộn” với công an. Công an “dí” ổng. Ổng chạy về Sở. Công an đuổi theo. Ổng lấy AK lên đạn cái rốp. Mấy thằng Công an dzọt mất tiêu luôn!

- Rồi sao?

- Rồi vụ đó êm luôn chứ sao. Gặp người khác “thúi đời” là cái cẳng. Ḱa Ổng tới. Chú ngồi đó đi. Tụi cháu đi làm.

 

Ba Thựng mỉm cười chào lại đám nhỏ, rợm quay ra th́ nghe tiếng gọi:

- Chú Ba, à anh Ba ǵ ơi!

 

Chí sừng sững đi tới hỏi dồn:

- Xin được chưa?  Cô Hồng đâu?

 

Ba Thựng ậm ờ:

- Dạ, để đầu giờ chiều. Giờ này “văn pḥng” nghỉ việc.

- Vậy cũng được. Đi quanh đâu đó, chiều tới đây, tôi nói với chú Ba Dẹp và cô Hồng cho, nghe chưa!

- Dạ, cám ơn chú!

 

*

*        *

 

Đám công nhân chừng năm chục mạng, quần áo te tua, đứng ngồi lộn xộn dưới tàn cây dái ngựa lâu đời, mà bóng của nó, che muốn kín sân đánh bóng chuyền. C̣n hơn mười phút nữa, mới tới giờ làm. Thôi th́ đủ chuyện được khui ra nói: đánh lộn, chơi đề, t́nh ái, ghen tuông, thua bạc... Chuyện ăn cắp xi măng bị bắt... Chuyện trốn việc đi ngủ... Mỗi người một tiếng om ṣm, nhăo nhoẹt

 

- Nghe đây, tụi bay!

 

Như hiệu lệnh của ông Tướng trước hàng quân, tiếng ồn ào đột nhiên lắng  hẳn xuống rồi im bặt. Bỗng có tiếng la:

- Ui da! Đu mẹc nóng quá!

 

Tất cả lại rộ lên.

- Chú Ba, con có ư kiến.

 

Đứa trai tay cầm trái bắp nấu dơ cao, miệng vừa nhai vừa nói.

Đứng trước đám đông là Ba Dẹp, người chịu trách nhiệm quản lư tất cả các công nhân của công trường xây dựng. Ba Dẹp có quyền tuyển mộ, sa thải, lên lương, bồi dưỡng và phân công cho mỗi công nhân. Ông Chủ thầu Lê Hồng Thới trả tiền công cho thợ thuyền, theo đề nghị của Ba Dẹp và lo các việc lớn hơn, quan trọng hơn như Đấu thầu, tính toán lời lỗ, kỹ thuật xây dựng đồng thời giao dịch với các cơ quan, cán bộ nhà nước.

 

Ba Dẹp lừ mắt:

- Để tao nói đă. Mày có việc ǵ gấp, dzô văn pḥng gặp tao sau. Đoạn ngó qua đám thợ hồ, tiếp:

- Công việc như hồi sáng. Tổ hồ để sáu cặp, tô sao cho dứt điểm bên trong hội trường chiều nay. Trễ giờ, tao bồi dưỡng. Lấy hai đứa, xây bốn cầu thang từ lầu một lên lầu ba. Hai đứa đổ bê tông các lan can. Đổ th́ “chọc” thiệt kỹ, hông thôi nó rỗ! Đám phụ hồ trộn hai chục bả hồ, năm bả bê tông. Ba đứa tổ sắt “bo” hết mấy cái đà ở lầu ba. Tổ “cốt pha” dựng cho xong mười sáu cây cột để mai “đổ”...

 

Ba Dẹp đi một dây như đọc thuộc ḷng. Ngưng một lát, hắn hỏi đám lao động làm khoán:

- Tụi bay nhắm chiều nay dứt điểm nổi không?

 

Cả bọn nhao nhao:

- Hổng xong! Hổng xong! Sức mấy mà xong, chú Ba!

 

Ba Dẹp nạt đùa:

- Đứa nào, một đứa nói thôi. Xong không?

- Chớ chú Ba khoán tụi con bốn ngày lận.

 

Ba Dẹp nhướng đôi lông mày rậm như hai con sâu rọm:

- Th́ bốn ngày. Tao hỏi để coi tụi bay làm nổi không đặng tao c̣n khoán tiếp chớ.

- Ráng lắm cũng phải sớm mơi mai mới xong, chú Ba.

 

Ba Dẹp bỏ lửng câu chuyện, kêu lớn:

- Ai là Ba Thựng biểu coi!

- Dạ.. dạ.. có tui đây.

 

Ba Thựng nghe kêu, vọt đứng lên, sấn tới chỗ Ba Dẹp:

- Dạ... chào anh Ba!

 

Ba Dẹp lấy tay thoa thoa cái bụng thừ lừ như bụng đàn bà có bầu, sắp đến ngày  sanh, nheo nheo ngó Ba Thựng:

- Biết mần nghề không?

- Dạ... Không!

 

Dường  như có một chút ǵ đánh động tâm tư của Ba Dẹp với người đối diện:

- Muốn làm ǵ?

 

Ba Thựng găi tai cạch cạch:

- Dạ... xin làm cu li. Biểu ǵ làm nấy.

- Làm cu  li nổi không?

- Dạ.. làm để có... cơm ăn, anh Ba.

- Trước “giải phóng” chú làm ǵ?

- Dạ, không biết làm ǵ ráo. Chỉ làm mướn không hà!

 

Ba Dẹp chỉ đống cây gỗ dầu đỏ au:

- Rồi, chú  đưa mớ cây “sáu mười hai” lên lầu ba. Ráng từ giờ tới chiều chừng ba chục cây đặng sớm mơi cho người ta gác đ̣n tay, đóng sàn. Chú làm siêng, tôi sẽ bồi dưỡng. Lương của chú ba mươi bảy đồng một ngày. Lănh tiền mỗi cuối tuần. Chịu vậy không?

 

Ba Thựng cúi mặt:

- Dạ, cám ơn anh Ba.

 

Chờ cho ông Cai đi khuất, Ba Thựng mới kiếm chỗ để ballot. Anh ngắm nghía đống cây: bề dài cỡ năm thước hơn. Gỗ dầu tươi nguyên, tiền không! Anh đảo mắt từ đất lên lầu ba, đường lên dốc cao đă vậy, lối đi  vừa nhỏ lại vừa quanh co, thật khó xoay trở. Anh nghĩ, ba mươi cây gỗ trong ba tiếng đồng hồ, chắc “bỏ ăn” quá. Ba Thựng cúi xuống lấy thế, hai tay nắm chặt một cây, đưa nhanh lên cao, rồi mau mắn đặt vào vai, tự an ủi:

- Tới đâu cũng tới, lo ǵ.

 

Cây gỗ đă dài thêm to bản nên khó nắm. Ba Thựng chỉnh cho khoảng giữa thân cây nằm đúng vai để lấy thăng bằng, rồi hăng hái bước lên cầu thang.

- Rầm!

 

Ba Thựng xiểng niểng muốn té ngửa. Anh hoảng hồn sửa thế đứng. Ba Thựng quên mất đầu cây gỗ dài tḥong nên hăm hở đâm ngay vào vách. Anh tính toán thật nhanh, từ tầng trệt lên lầu một chia làm hai cấp. Đi hết tám bậc th́ đến mâm chờ. Ba Thựng lái ngọn cây dốc ngược lên trên và chậm chậm bước. Đến lầu một, anh tự cho phép ḿnh nghỉ vài giây lấy sức. Tới lầu ba, th́ hai chân run như thằn lằn cụt đuôi. Hơi thở như ngựa đua. Anh sực nhớ, từ chiều hôm qua đến giờ, không có hột cơm bỏ bụng! Miệng khô và đắng. Ba Thựng chợt thấy bóng dáng của đĩa cơm thịt heo kho với tàu hủ chiên, ở tiệm cơm b́nh dân đầu góc phố. Bụng cào cấu và nước miếng ứa ra. Anh cố kềm hơi thở, từ từ đặt cây gỗ xuống nền xi măng, sát chân tường, lê lết xuống lầu. Chưa hết lầu hai, anh đụng đầu Cai Dẹp đi cùng với hai người lạ, ăn mặc rất lịch sự: Áo sơ mi trắng thẳng nếp bỏ trong quần. Một người để tóc dài, đeo kính cận, mũi cao và đẹp trai. Người kia, tướng tá kệch cỡm, đôi mắt lồi nằm dưới hai hàng lông mày đen như lọ nghẹ.

 

Ba Thựng né qua một bên, cúi đầu chào.

- Người mới hả anh Ba? Người có đôi mắt lồi hỏi.

- Dạ mới dzô hồi chiều, chú Sáu.

- Tôi quên không dặn anh.Từ rày sắp tới, ḿnh không lấy người già. Lần này lỡ rồi th́ thôi. Anh lựa mấy thằng thanh niên. Thằng nào làm ngon, cuối tuần bồi dưỡng. Tôi ớn mấy cha già lắm. Anh mới tên ǵ?

 

Ba Thựng buột miệng:

- Dạ, tôi tên Thựng.

- Quê ở đâu?

- Dạ, “thành phố”.

 

Hắn ngó Ba Thựng chằm vằm, quay qua người đeo kiếng cận:

- Cha này trông quen quen. Có gặp ở đâu rồi nè. Đúng rồi! Hắn reo như mới khám phá ra cái ǵ mới lạ - Trước có đi “lính Ngụy” không? Có ở Củ- Chi, Căn Cứ Sáu Lớn không?

 

Ba Thựng cúi gằm mặt xuống:

- Dạ... không. Hồi nào tới giờ, chỉ có đi làm mướn... thôi!

 

Hắn vẫn chưa chịu:

- Quen lắm! Quen lắm. Ráng làm siêng, nghe chưa!

 

Dứt lời, ổng quàng vai người đeo kiếng cận:

- Anh Phượng, ḿnh lên coi tụi nó làm một lát, tôi c̣n phải đi hội ở Sở Xây Dựng. Anh đă lên khối lượng Hội-Trường Công-Ty Dầu khí chưa? Gấp lắm đó.

 

Phượng đẩy cái kiếng cho sát vào mắt bằng ngón tay chỏ:

- Tôi đưa cho bà xă anh sáng hôm qua lận. Bộ bả không cho anh hay sao?

- Vậy hả. Hổm rày bả bị cúm, khó chịu nên nhằn nhằn hoài. Nghe nói có ngân khoản của Bộ chấp thuận cho thi công vào tháng tới. Anh Ba chuẩn bị người ngay từ bây giờ mới kịp.

 

Khi tiếng nói của bọn họ loăng đi, Ba Thựng mới lững thững đến đống gỗ... “Ḿnh không lấy người già... Tôi ớn mấy cha già lắm...” Câu nói như những mũi đinh đâm thẳng vào tim. Cuộc đời của ḿnh “xuống” đến mức không có cái thắng nào có thể kềm lại được. Thân thể quí báu này do Tạo Hóa nắn nót gần mười tháng và chăm bón hơn bốn chục năm trời... mà giờ này, không đáng ba mươi bảy đồng bạc “cách mạng” - Số tiền chưa đủ cho hai lon gạo hạng bét!

 

Chuyển đến cây gỗ thứ hai mươi lăm th́ cái áo “bộ đội” không c̣n một chỗ nào khô. C̣n năm cây nữa. Ba Thựng ngán ngẩm. Anh ngồi xuống đống gỗ, nghỉ mệt. Đâu đó văng vẳng tiếng ai kêu:

- Chú Ba ơi! hết giờ làm rồi...

 

Bây giờ là đầu tháng Chạp. Ánh nắng buổi chiều vàng như bột nghệ, xiên qua tàn lá xanh ŕ của cây dái ngựa, rơi rớt trên nền xi măng, tưởng c̣n hừng hực lửa. Một cơn gió nhẹ từ mé biển thoảng qua, Ba Thựng thấy rơ ràng cảm  giác mát rượi, phủ ập lên mặt, lên lưng. Mồ hôi từ trán, tràn qua lông mày tuôn vào mắt, cay tựa ớt xát. Ba Thựng gục thấp đầu, chớp chớp cho nước mắt trào ra, rồi lấy vạt áo thấm khô khuôn mặt xương xẩu, sạm đen, vêu ra như đít nồi bẹp rúm. Anh vấn  điếu thuốc rê, thành thạo và mỹ thuật - Điếu thuốc tổ sâu, xinh xắn như ngón tay của mỹ nhân trong tranh vẽ. Chín năm tù chỉ học được có thuật này. Anh móc trong túi ra hộp quẹt “ga”, đặt  ngón tay cái lên bánh xe, xẹt một cái, ngọn lửa như sợi bánh canh, phụt lên xanh lét... Ba Thựng chợt nhớ ông già Chín Bộ - Bộ bà ba đen với cái khăn rằn, lúc nào cũng quấn quanh cổ. Điếu thuốc rê suốt ngày đêm nằm ở đầu lưỡi. Thuốc ǵ mà khét lẹt như lông ḅ cháy - Anh vẫn ghẹo ông già. Cứ sau mỗi hơi thuốc rít, ông già lại le lưỡi dài tḥong, hai con mắt nheo nheo né khói. Trăm lần như một, điếu thuốc cháy chưa hết phân nửa, ông già lại gỡ ra, dán lên cột nhà. Cột nhà xưa, làm bằng gỗ “Gơ mật”, tṛn láng như có trét dầu:

- Chú Chín! Cây cột đẹp vậy mà chú gắn thuốc lên, in hệt đàn sâu đang đậu,thấy ớn!

 

Ông Già Chín móm mém, đáp lời:

- Ậy! Mai mốt kẹt tiền, gỡ xuống “làm đỡ” mày!

 

Ba Thựng giục mạnh điếu thuốc cháy dở xuống đất, lấy mũi dép day day cho nó nát bấy, rồi đứng lên tiếp tục công việc. Đống gỗ vơi dần theo bước chân Ba Thựng. Nắng tắt th́ anh cũng xong nhiệm vụ. Công trường giờ này im ĺm như nghĩa địa. Tiếng gió biển thổi qua kẽ lá xào xạc, ŕ rào như tiếng than van của những hồn ma vô chủ. Ba Thựng nh́n quanh quất. Đàng kia có hồ chứa nước trộn hồ và ngâm gạch. Ba Thựng rảo bước đến bên, vọc cả hai tay vào chà rửa và vă nước lên mặt. Mùi nước nồng nặc xi măng nhưng mát rượi, thấm vào từng phân da, từng thớ thịt, tưởng như kéo ra được hết những cơ cực, nhọc nhằn.

 

Trời đang đi dần vào tối. Người qua, kẻ lại, vội vă, rộn ràng. Phía trước là chợ “tạm”. Tới vài bước nữa th́ đến rạp hát Ngọc Quế- nổi tiếng nhất của Thị Xă Vũng Tàu. Những năm trước, nơi này là chợ. Mấy năm sau này, Cộng Sản đă rời chợ ra kế Bến Xe mới và v́ thế, bỗng nhiên, nơi này mọc lên  cái chợ khác tuy lèo tèo vài người bán nhưng rất nhiều người mua! Không ai bảo ai, ngày hai lần: Sáng sớm đến tám, chín giờ. Chiều quăng bốn, năm giờ kéo cho đến tối mịt. Người có mớ rau, con cá, muốn bán bày ra hai bên lề đường. Người mua, làm biếng đi xa, ghé mua “Đại” trái ớt, đọt mùng... Hễ công an tới, mạnh ai nấy chạy, xong rồi th́ hè nhau tụ lại làm tiếp. Mà ngay cả Công an cũng nhảy dù đi chợ này, dầu  cho nó có mắc hơn chợ chính chút đỉnh.

 

Ba Thựng lết vào chợ. Rộn ràng, tíu tít với những cô, những bà công nhân viên nhà nước, son tô, phấn  điểm, kiểu dáng và kênh kiệu bên những chiếc xe gắn máy Honda, Suzuki... đủ kiểu. Xen vào đấy, là đám thợ thuyền lao động lem luốc, bèo nhèo từ các công trường xây dựng đổ ra, tranh thủ mua bán ít phút, trả nợ cho cái bao tử buối chiều. Ba Thựng thấy ḿnh chẳng giống ai. Đi mà cứ tưởng ḿnh đang chập chờn mê ngủ. Bụng đói như thắt, tay chân ră rời. Bù loong, đinh ốc trong cơ thể ḿnh sắp bung ra hết cả! Ăn đâu và ngủ đâu cho qua một đêm nữa, hả trời?

- Đời... chó đẻ bốn con!

 

Bóng tối như chiếc quần đen, phủ ập lên thành phố biển. Đâu đó văng vẳng tiếng ca vọng cổ quen thuộc của một nghệ sĩ Cổ nhạc lừng danh năm nào, trong chuyện tuồng “Thuyền Ra Cửa Biển”. Ba Thựng thất thểu trên con đường Đồ-Chiểu dẫn ra Băi Trước. Qua một tiệm vàng rực sáng ánh điện, Ba Thựng dừng lại, mím môi suy nghĩ...và từ từ lật ngửa bàn tay trái lên. Ánh vàng le lói ở góc bàn tay đầy nốt trai sần- Kỷ niệm mười năm trước. Bất giác, hai giọt nước mắt lăn dài trên khuôn mặt cằn cỗi, hạn hán lâu ngày. Ba Thựng cắn răng rút cái nhẫn ra, đoạn bước vào tiệm:

- Bà chủ. Tôi bán cái này.

 

Người đàn bà mập tṛn như đ̣n bánh tét, lạnh lùng:

- Vàng ǵ vậy? Đưa coi.

- Vàng Tây, ba phân đó, bà chủ.

 

Bà chủ tiệm cầm lấy ngắm nghía. Thoáng chốc, quay ḿnh, núng nính đi vào nhà trong. Lát sau, trở ra:

- Có hai phân rưỡi hà! Năm trăm chịu không?

 

Ba Thựng chợt nh́n ra mánh lới của Mụ chủ tiệm, có nói ǵ cũng thua, xuống nước:

- Vàng tốt trước năm bảy lăm. Bà cho thêm chút đỉnh.

 

Cái môi dưới của Mụ như con đỉa trâu no máu trề ra:

- Tốt ǵ mà tốt. Tôi c̣n có thứ tốt hơn mà cũng chỉ bán ra có ba ngàn một chỉ. Vàng của chú “non” lắm.Tôi trả sáu trăm đó. Không bán th́ thôi.

- Vâng, tôi đồng ư.

 

Mụ chủ nhanh nhẩu lượm chiếc cà rá bỏ vào ngăn kéo, rút  xấp bạc, đưa cho Ba Thựng:

- Chú kiểm lại đi.Trở lại kêu nài này nọ, tôi không hưỡn.

 

Ba Thựng không nói không rằng, quơ nắm bạc, bỏ vào túi quay lưng.

 

*

*           *

 

- Ê! Mấy người kia! Có dậy hay không th́ bảo!

 

Tiếp theo tiếng nạt, là một hồi tu huưt ré lên như xé màng tang. Ba Thựng ngồi bật dậy, dụi mắt: hai người đàn ông đồng phục màu cứt ngựa, đội mũ “kê pi” với vành đỏ chót. Mỗi người lái một chiếc Honda “Cúp”. Miệng th́ trợn trụa, quát nạt đám dân vô gia cư, nằm xắp lớp trên lề đường, dưới hàng hiên của Ngân Hàng Đầu Tư Xây Dựng. Ba Thựng quay sang bên, bốn năm người “hàng xóm” cũng đang lồm cồm ḅ dạy. Ba Thựng chưa biết tính toán làm  sao th́ lại nghe tiếng nạt tiếp:

- Biết mấy giờ rồi không? Chỗ đi lại mà c̣n ườn ra đó!

 

Ai đó đón lời:

- Dạ... bị thức  khuya quá nên ngủ trễ.

- Làm ǵ thức khuya, đi ăn trộm hả?

- Mấy ông thông cảm. Đêm hồi hôm mưa quá lớn, tạt ướt hết, đâu có chỗ nằm. Chớ có dám trộm cắp ǵ đâu, mấy ông.

- Căi hả? Phố phường, Du khách qua lại nườm nượp. C̣n ǵ là mỹ quan của thành phố nữa. Tôi trở lại mà c̣n thấy th́ đừng có trách, biết không?

 

Hai công an vừa rồ máy xe đi th́ đám người “tạm trú” cũng lần hồi giải tán.

 

Thành phố cựa ḿnh trở dậy bởi hơi gió se lạnh cuối năm. Ba Thựng xách giỏ đứng lên, bâng khuâng ngoái nh́n con lộ - Con đường Trần-Hưng-Đạo thẳng tắp với hai hàng cây cổ thụ âm u, sâu kín. Phía bên là Băi Trước. Xa xa, mặt biển mênh mông. Tiếng sóng vỗ  ́-ầm quyện với tiếng lá thông rít gió, có c̣n điệp khúc nào buồn nản hơn không? Vài quán cà-phê đă mở. Ba Thựng gọi ly cà-phê đen, vừa nhâm nhi vừa hút thuốc. Tít ngoài khơi, lăng đăng mấy ghe chài. Từ bên kia bờ Đại- Dương ngút thẳm, ai đó có biết được những đọa đầy? Nắng lóa trên nóc Dinh “Ông Thượng”. Đôi con chim trời đang xoải cánh ra khơi. Ba Thựng dơi theo cho đến khi vụt ngoài tầm mắt, anh khẽ thở dài, cầm ly dốc hết những giọt cà-phê cuối cùng vào  miệng và lặng  yên, cho vị đắng thấm dần vào máu thịt. Ba Thựng gọi người tính tiền và ḍ hỏi:

- Có xe đi Băi Dâu không, bà chủ?

 

Người đàn bà nhăn trán:

- Có xe “Lam”. Nhưng lâu lắm mới có một chuyến.Chú đi Băi Dâu chi vậy?

- Tôi có người bà con ở Băi Dâu, lâu rồi không gặp, muốn ghé thăm.

- Chú có “giấy” mới vô được. Lóng rày, công an kiểm tra dữ lắm... Bến Xe Lam ở góc nhà Bưu Điện.

- Cám ơn chị.

 

Ba Thựng rảo bước đến bến xe lam. Tài xế đi đâu vắng. Hai hàng ghế trống trơn. Anh lom khom bước lên lấy một chỗ ngồi. Tiếng chuông nhà Thờ tan lễ b́nh... boong ... đơn lẻ. Thấp thoáng tà áo ai vờn bay trong gió. Không mấy ngày nữa là lại đến Noel... Rồi Tết Nguyên Đán. Thời gian cứ lầm lũi trôi đi, để đời người lún dần vào hủy diệt. Trời cao quá! Đất dày quá! Trời Đất rành rành ra đó mà Trời Đất cũng ở tận đâu đâu.

- Ông anh đến chỗ nào, Băi Dâu?

 

Ba Thựng giật ḿnh. Người đàn ông cao lớn vạm vỡ, đeo kiếng đen, tay nắm mui xe, chân đạp lên bậc bước sau xe, chậm răi hỏi.

- Dạ tôi muốn t́m Ông Trương.

- Trương nào? Ở đó có mấy Trương lận.

 

Hắn ngưng lại, hướng về Ba Thựng, tiếp:

- Trương Mù-Trương Giẹo, Trương Chuột, anh quen Trương nào?

- Dạ, tôi chỉ biết ông Thái Trương thôi..

 

Người đàn ông thoáng sửng sốt:

- A! Ông quen Trương Mù thế nảo?

- Dạ... bà con.

- Bà con sao? Nói đi! Ở đây chỉ có tôi và ông.

 

Ba Thựng lảng tránh:

- Ông Thái Trương chắc c̣n ở đó?

 

Người đàn ông có vẻ bực ḿnh:

- Cái câu tôi hỏi, ông chưa trả lời, ông lại hỏi tôi!

- Dạ..xin lỗi, ông đừng giận. Tôi nghĩ, đó là chuyện riêng.

 

Hắn sẵng giọng:

- Chuyện riêng cái cục cứt! Kiếm Trương Mù để vượt biên hả? Nó chết mẹ nó từ lâu rồi.

 

Ba Thựng nghe hắn nói muốn xỉu. Tay chân run như cầy sấy.

 

Lúc sau, dường như thấy ḿnh đă có hành động vô lư, người đàn ông dịu giọng:

- Anh là ai vậy? Ai bảo anh đến t́m Thái Trương?

Ba Thựng làm thinh một lúc, mới đáp:

- Đúng ra, tôi là bạn với người em của Ông Trương.

 

Ba Thựng cầm tay hắn:

- Tôi muốn mời anh ly cà- phê.

 

Hắn nh́n ra biển:

- Tôi đă có nhận được thư của thằng Thụy. Tôi bỏ nghề lâu rồi v́ công an theo tôi gắt lắm. Tôi mướn đỡ chiếc xe Lam chạy kiếm sống qua ngày...

 

Ngưng một lát, Trương thở thật buồn:

- Cũng như anh vậy. Ở tù ra, tiền bạc, vợ con mất hết. Căn nhà của tôi, nhà nước quản lư. Tôi ở đậu một người bà con cùng xóm.Cuộc sống rày đây, mai đó...

 

Ba Thựng cúi đầu:

- Tôi từ Sài-G̣n xuống đây, đi làm phu hồ. Vừa kiếm cơm vừa cầu một dịp may...

 

Trương lắc đầu chán nản:

- Anh xuống quá trễ. Mười năm trước, người ta đi như đi chợ. Nhiều người chỉ “Canh me” chứ tiền bạc ǵ mà cũng lọt. Bây giờ th́, “Vô kế khả thi”. Ba Thựng cố gỡ gạc:

- C̣n nước, c̣n tát.

 

Trương Mù trợn mắt:

- Ghe lủng. Anh tính tát cho đến bao giờ? Anh tin là người ta có số?

 

Không cần biết câu trả lời thế nào, Trương Mù tới luôn:

- Hỏi “Trương Mù” ở đất Vũng Tàu này, đứa con nít cũng biết chớ chi đến công an! Hơn năm năm trời, tôi “đánh” gần chục chuyến, lọt tuốt. Chuyến chót, tôi chuẩn bị cuốn gói th́ thằng khốn nạn ở Phường, trở chứng ghen bậy, chơi tôi một phát, hốt tôi sạch sẽ. Tôi lănh bốn cuốn Tam Tông Miếu.

 

Ba Thựng thắc mắc:

- Sao lại ghen bậy?

 

Mặt Trương Mù bừng lên:

- Đù má. Vợ tôi mà nó dám ghen ngược với tôi. Vậy không ghen bậy th́ là cái ǵ?

 

Ba Thựng mủm mỉm:

- Chắc hẳn bả đẹp lắm.

 

Trương vênh mặt lên:

- Không đẹp ǵ lắm nhưng khó kiếm ai đẹp hơn. “Hoa Hậu Bà Ba” chớ bộ!

- Có nghe “Hoa Hậu Áo Dài”, “Hoa Hậu Học- Sinh”...

- Trường Nữ Trung-Học Lê-Ngọc-Hân tổ chức thi Hoa Hậu “Cây nhà lá vườn”. Người ta mặc áo dài, áo tắm, áo đầm... Ở đây, họ mặc áo Bà Ba  có ǵ lạ? Từ ngày thằng “chó chết” đổi về Phường này, mỗi lần gặp vợ tôi là săn săn đón  đón. V́ chuyện làm ăn, tôi dùng “Mỹ Nhân Kế”, giăng bẫy. Bẫy sập, nó không “dính” mà tôi “dính”, thế mới “vỡ đít”.

 

Ba Thựng cố gh́m một nụ cười:

- Vỡ chỗ khác mới đúng.

 

Trương nghiêm trang:

- Không nói phét. Gần chục chuyến vượt biên, như người ta, tôi hốt bạc. Trái lại, tôi giúp rất nhiều người. Lấy đủ để mua ghe khác và chia cho đàn em.Tôi giữ chút đỉnh. Chưa thu của ai quá “Một Đồng”. Số đi “chùa” không tính. Thằng khốn kiếp không muốn vợ tôi đi, giờ chót, nó toa rập với Biên pḥng, hốt ghe tôi. Đù má, nó làm sao “ăn” tôi được? Vợ con tôi đă từ Ngọc-Hà, bên Phước Tuy dzọt trước đó hai ngày lận.!

- Bà và các cháu hiện giờ ở Mỹ?

 

Giọng nói của Thái Trương đột nhiên thê lương, thảm năo:

- “Nó” tưởng tôi chết nên lấy chồng khác. Thằng chồng nó là thằng chủ ghe, tôi gửi gấm... tin tưởng. Là... là thằng bạn chí cốt của tôi. Đau đếch chịu được...!

 

Trương nh́n Ba Thựng ái ngại:

- Tôi không làm ǵ hơn được v́ công an quản chế kỹ lắm. Hơn nữa, tiền bạc không có. Thua!

 

Ba Thựng thở dài:

- Mong rằng, đây là duyên tri-ngộ. Đi hay ở do số. Sống, chết tại mệnh Trời. Không tin cũng không được. Tôi và Thụy cùng đơn vị. “Sụp tiệm” lại gặp nhau trong tù. Mỗi thằng lănh gần chín niên. Bây giờ, “tứ cố vô thân”, lây lất cho qua ngày, đoạn tháng. Mong rằng, thỉnh thoảng gặp, uống với anh ly cà-phê “giao hữu”.

 

Ba Thựng đi được vài bước nghe gọi và Trương đă đến bên cạnh, nói nhỏ:

- Có một chuyến sắp “đánh”. Không phải ở đây mà bên Chu Hải, Phước Tuy, do ông Cha tổ chức.

 

 Mắt Ba Thựng sáng lên:

- Bao nhiêu?

- Tôi không rơ lắm. Nghe đâu ba đồng. Đóng ngay một nửa. Một nửa, qua bển trả tiếp. Đi đêm Giao Thừa. Nếu anh muốn chơi, tôi dẫn đến giới thiệu.

 

Trương nh́n Ba Thựng như sói vào tim:

- Sự nguy hiểm cũng như may, rủi thế nào, anh đă biết. Suy tính thật kỹ trước khi vào cuộc chơi. Mười ngày nữa, giờ này, ở đây, trả lời tôi.

 

*

*       *

 

Năm ngày bay đi như cơn gió biển. Ba Thựng nghĩ nát óc, không biết chạy đâu ra tiền. Ngày đi làm phụ hồ. Tối lại đến dưới  mái hiên của Ngân-Hàng Đầu-Tư Xây-Dựng, ngủ đỡ qua đêm. Sang đên ngày thứ bảy, như thông lệ, Ba Thựng xách túi đi làm. Dợm tới cổng Công trường, đă thấy đám công nhân túm tụm, x́ xầm.

- Chú Ba ơi, đi dźa!

 

Ba Thựng ngạc nhiên hỏi đứa con gái:

- Về đâu?

 

Cai mới cho hay, hết vật tư. Thứ hai tuần tới đi làm lại.

- Ông Cai đâu?

- Ổng đi với ông thầu rồi. Nếu chú muốn làm, qua bên ông Sâm ở đường Nguyễn- Thái-Học mà xin. C̣n không, xuống ông Tám Rỗ bến xe. Ổng đang kêu người làm đó.

- Công Trường ông Tám ở đâu vậy cháu?

- Gần Bến Xe mới. Ổng đang xây ba hồ nuôi Tôm Càng Xanh. Làm cực nhưng lương cao. Cuối tuần bồi dưỡng đều đều.

- Làm ǵ cực?

- Đào đất, khiêng đá. Cu li bốn mươi lăm đồng một ngày. Có mấy đứa sắp đi cà!

 

Từ lâu, Ba Thựng vẫn nghe nói về “Ông Tám” - Một trong những tay giàu có mới nổi lên sau này của đất Vũng-Tàu. Có hơn chục chiếc xe tải. Có cả kho nhiên-liệu và vật tư trong nhà. Thủ kho là một ông “Sĩ-Quan Ngụy” đă đi cải tạo về.

- Út Tài! Út Tài! Mày chở Chú Ba giùm, tội nghiệp ổng.

- Sao mày không chở, kêu tao chi?

- Tao mắc chở con Êm chớ bộ đi không sao? Xí!

 

Út Tài rề cái xe đạp lại chỗ Ba Thựng:

- Chú Ba lên con chở. Thứ đồ gái thúi. Làm như hay lắm. Động cái sai!

Như cái máy, Ba Thựng ghé đít ngồi lên “bọoc ba ga” xe đạp của thằng trai đồng nghiệp. Tiếng bánh xe lăn kẽo kẹt, bệnh hoạn trên mặt đất gồ ghề, nhớp nhúa khiến cho Ba Thựng liên tưởng đến cuộc đời ḿnh.

 

Trước mặt là bến xe Vũng- Tàu. Khu dành cho xe lô đi Sài G̣n lu bu, hối hả. Khu đi các Huyện lẻ như Phước Tỉnh, Xuyên Mộc im vắng, quạnh hiu.

- Chú Ba cảm phiền xuống đây nghen. Con không làm cho Ông Tám đâu. Con đi dźa.

- Cám ơn cháu.

 

Ba Thựng tần ngần một lúc rồi ghé vào quán cà- phê, kêu một ly “Xây chừng”. Anh kéo cái ghế gỗ - Cái ghế chỉ cao hơn mặt đất khoảng hai gang tay, mặt ghế nứt nẻ với hai, ba đầu đinh đă ḷi lên như muốn chui ra khỏi mặt ván. Ba Thựng lượm cục đá, đập cho đinh tụt xuống rồi rê lại sát bàn. Cái bàn ốm yếu, đen đủi, loang lổ chỗ khô, chỗ ướt. Bầy ruồi nhặng bị đánh động ào lên, cuống quít, loạn xạ.

 

Mấy ai đó bàn bên cạnh, đang rộn ră biếm nhẽ về giấc mộng của kẻ muốn có nhiều tiền...

 

Người ấy mơ thấy ḿnh được tặng một con ngựa đẹp, nhảy lên cưỡi. Chạy một đỗi th́ kẹt đường v́ trước mặt, là một con sông lớn, rộng. Sóng  như sóng biển. Bỗng đâu, một con rùa, to cỡ chiếc chiếu, nổi lên ở giữa sông. Con rùa từ từ bơi vào bờ. C̣n đương xem rùa ḅ đi đâu th́ chợt nghe tiếng sét nổ vang trời và mưa như trút nước! Người ấy tỉnh dậy, bàng hoàng t́m thày đoán điềm giải mộng. Thày phán: “Giàu to! Giàu to!”. Hỏi lư do. Thày giải: “Đây là giấc mộng hoạnh tài. Ngựa là Mă. Rùa là Qui. Mă Qui tương ngộ. Qui Qui... Mă Mă.. Quá đẹp! Quá đẹp! “

- Là sao? Là sao? Nói rơ ra đi!

 

Thày cũng bực ḿnh:

- Là... qua Mỹ... qua Mỹ...! Chứ c̣n là sao! Chỉ có qua Mỹ mới giàu. Tiền vào như nước. Một Đô La ăn mười bốn ngàn!!.

 

Ba Thựng nghe trong ḷng như xát ớt. Qui Mă chỉ là giấc mộng “Có bột mới gột nên hồ, Tay không sao nổi cơ đồ mà ham?”

- Cướp!  Cướp!  Bớ người ta ăn cướp!

 

Cả bến xe nhốn nháo. Kẻ chạy ngược, người chạy xuôi. Rối mù, xoắn xuưt.

- Nó chạy về hướng Thắng Tam!

- Nó chạy về khu Giếng Nước!

 

Ba Thưng nhớm đứng lên, lại nghe:

- Cướp giựt! Bớ người ta cướp giựt .

- Giựt đồ! Bớ người ta giựt đồ!

 

Chỗ này la bị cướp. chỗ kia hô bị giựt đồ.

- Đùng!!  Đoàng!! Đoàng!!..

 

Mấy phát súng vang lên.Đám người vừa chạy vừa la khóc ỏm tỏi. Bốn phương tám hướng cát chạy, đá bay. Thiên hôn, Địa ám như trong trận Mê hồn

- Đùng!.. Đoàng!..

 

Người ta, lớp th́ đổ nhào vào các quán. Lớp th́ ḅ lăn, ḅ càng trên mặt đất. Ba Thựng đang ngơ ngác ngó quanh, bỗng thấy như trời giáng, xiểng niểng ngă vật xuống đất. Một thoáng tỉnh lại, thấy mát lạnh ở vai phải, bèn lấy tay rờ, rồi đưa bàn tay ra trước mặt: Máu đă thấm ướt ngực áo. Cánh tay phải mất hết cảm giác.

- Bớ người ta! Cấp cứu! Cấp cứu!

 

Người ta bu lại thật đông. Mỗi người một tiếng om ṣm, náo loạn. Ba Thựng lờ mờ thấy như có người sốc anh đứng lên, d́u đi. Anh cố nhướng mắt nh́n: Trương Mù với cặp kiếng đen đang ngó anh mỉm cười. Anh muốn nói một câu với hắn nhưng quá mệt. Bên tai anh, những âm thanh nhỏ dần và tan loăng...

 

 

(KENT, Mùa Hạ 2007)

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính