Cao Thế Dung, thầy tôi

 

 

Đừng nghĩ thằng Mỹ nó yêu thương đất nước ḿnh.  Chúng nó đến đây v́ quyền lợi của chúng nó.  Một ngày nào đó, chúng nó sẽ ra đi.  Các em nên nhớ, không có ai yêu thương đất nước ḿnh bằng người Việt Nam ḿnh cả.  Nếu các em không yêu thương đất nước ḿnh th́ các em mong đợi ai sẽ yêu thương đất nước ḿnh đây?

 

Lời thầy Cao Thế Dung dạy học sinh La San Ban Mê Thuột

 

Trường Sơn Lê Xuân Nhị

 

 

Tôi may mắn biết thầy Dung từ trước khi thầy trở thành nhà văn nổi tiếng ở Việt Nam.  Khoảng năm 1965 hay 66 ǵ đó, trường Lasan Ban Mê Thuột chúng tôi có một giáo sư Việt Văn mới tên Cao Thế Dung.  Thường thường th́ các giáo sư mới hay bắt đầu vào dịp đầu năm, nhưng thầy Dung xuất hiện thật bất ngờ.  Chẳng ai báo trước, chẳng được nghe tin.  Chỉ thấy một buổi sáng, thầy mặc áo sơ mi trắng, thắt cà vạt, xách Samsonite bước vào lớp chúng tôi.  Lúc ấy chúng tôi mới biết đó là giáo sư Việt văn mới của lớp ḿnh.  Nghe nói, thầy là dân Sài-g̣n về đây.

 

Dân Sài-g̣n quả có khác…

 

Thầy người Bắc, đẹp trai, tướng người mảnh khảnh, ăn mặc sang trọng, luôn luôn đeo cà vạt và xách cặp táp đi dạy học, hoàn toàn khác với các thầy địa phương ở Ban Mê Thuột lúc đó.

 

Tưởng cũng cần nhắc thêm ở đây, và nếu ai c̣n nhớ những tháng ngày ở trường trung học, chương tŕnh gồm có nhiều môn học với nhiều hệ số.  Hai môn quan trọng, thứ nhất là Toán, thứ nh́ Lư Hóa đều lạ hệ số 4, và thứ ba Vạn Vật, hệ số 3.  Sau đó mới tới những môn khác như Việt Văn, Pháp văn, Sử Địa, hệ số 2, và mấy môn lẩm cẩm khác hệ số 1 là Công Dân Giáo Dục (Chúng tôi gọi là Công Rân Ráo Rục), môn thể thao, và Giáo Lư cho những người học trường thầy ḍng như chúng tôi.  Chúng tôi gọi những giờ hệ số 1 này là giờ... giải trí.  Giải trí cần thiết cho thần kinh bớt căng thẳng sau những giờ Toán Lư Hóa nhức đầu.

 

Đặc biệt, môn Công Rân Ráo Rục là một môn dễ dạy nhất.  Cứ lên bảng, mặt mày cần phải nghiêm trang một chút, không được cười, nói tía lia, nói thiên nói địa ǵ th́ cũng thành... Công Rân Ráo Rục... ráo.  Môn này hồi đó, với cái tài bốc hốt của tôi, nếu cho tôi lên dạy, tôi bảo đăm sẽ hay vô cùng.

 

V́ thế, có thể nói, những giáo sư dạy môn Toán, Lư Hóa, Vạn vật là những người mà chúng tôi sợ nhất và kính nể nhất.  Ăn một con zero của mấy ông này th́ đời tàn trong ngơ hẹp ngay.  Mấy giáo sư dạy Việt Văn hay Pháp văn, v́ là hệ số 2 cho nên chúng tôi cũng hơi nể nhưng... không nể lắm.  Hệ số 2 ăn zero th́ hệ số 4 vớt vát được mấy hồi.  C̣n nói đến những giáo sư dạy môn hệ số 1 như Công Rân Ráo Rục th́ bị chúng tôi coi thường vô cùng.  Lớp học vào giờ này luôn luôn ồn ào như một cái chợ, mạnh thầy nói th́ nói, mạnh tṛ th́ tṛ giỡn.  Có lẽ, các thầy dạy Công Rân Ráo Rục cũng biết cái thân phận ḿnh nên chẳng có thầy nào làm khó chúng tôi.  Đi qua các lớp, hễ nghe lớp nào vui vẻ náo nhiệt như ngày tết th́ biết ngay giờ đó là giờ Công Rân Ráo Rục hay Sử Địa vớ vẩn.  Bây giờ nghĩ lại, thấy tội cho những giáo sư dạy … Công Rân Ráo Rục thật.  Đặc biệt, giờ Giáo Lư tuy hệ số 1 nhưng đếch có thằng học tṛ nào dám làm ồn v́ giờ này luôn luôn được các ông thầy ḍng phụ trách, lạng quạng là ốm đ̣n như chơi.

 

Áy thế mà, khi thầy Dung vào dạy Việt văn th́ mọi người đều nể sợ, dù thầy chẳng bao giờ la mắng hay đánh đập đứa nào cả.  Trước hết, sợ v́ chẳng có ai biết thầy là ai, gốc gác như thế nào.  Không biết đến từ đâu, nhưng coi bộ tịch và cách ăn mặc sang trọng của thầy th́ thấy... khiếp quá, đây nhất định phải là dân thứ dữ.  Thầy c̣n hút thuốc lá hiệu Salem.  Chẳng bao lâu, mọi thứ tiếng đồn được tung ra về thầy.  Có thứ đúng có thứ trật.  Tiếng đồn quan trọng nhất, thầy là một lănh tụ một đảng phái chính trị đối lập nào đó, đang bị Nguyễn Cao Kỳ lùng bắt nên phải tạm lên Ban Mê Thuột ẩn danh một thời gian.  Cũng có thứ tiếng đồn ác ôn hơn như là thầy... giựt hụi ở Sài g̣n, phải đi trốn.... vân vân

 

Riêng thầy, luôn luôn bí mật, không bao giờ nói về ḿnh, cũng ít khi tṛ chuyện với ai.  Thầy có giáng dấp của một kẻ sĩ sinh bất phùng thời, hoặc một Lệnh Hồ Xung chưa làm xong lời sư phụ dạy nên chưa muốn về chùa.

 

Ngày đầu tiên học thầy, chúng tôi ngạc nhiên thích thú khi nghe thầy Dung giảng bài.  Phải công nhận thầy Dung có khoa ăn nói.  Thầy nói thao thao bất tuyệt, hớp hồn tất cả bọn học tṛ chúng tôi.  Và thầy dạy không cần theo chương tŕnh của nhà trường, mà theo sách của bộ QGGD ấn hành.  Thầy dở sách “Giảng Văn” lướt sơ qua một cái rồi đóng sách lại, quẳng lên bàn, bắt đầu thao thao bất tuyệt về một đề tài trong sách, tùy theo hứng của thầy.  Hồi đó, giờ Việt văn có một môn mà ai cũng ngán tới cổ đó là “Truyện Kiều”.  Nh́n cái b́a cuốn sách đă thấy nản, lật vào trong c̣n thấy khiếp đảm hơn.

 

Hồi đó, chúng tôi, với đầu óc dốt nát mà lại mê ... tân thời, không thể nào nuốt trôi nổi những câu thơ của Truyện Kiều.  Ông giáo sư trước thầy cũng dạy Kiều, nhưng hễ ông nói chừng vài phút là chúng tôi đứa nào cũng muốn ngủ gục.  Để khỏi ngủ gục, phải bày ra những tṛ giải trí cho vui.

 

Nhưng đối với thầy Dung th́ khác hẳn.  Thầy đă biến một môn học khô khan nhất trở thành một môn hấp dẫn nhất.  Thầy người Bắc, nên khi thầy đọc lên, một cách nhẹ nhàng trầm ấm, “Trăm năm trong cơi người ta... “ là chúng tôi cảm thấy nghe như nghe nhạc, không c̣n chán nữa.  Nhưng lâu lâu, thầy bỗng ngừng giảng bài, chỉ một thằng chắc có lẽ đang ngủ gà ngủ gật, quát lên như sấm động:

-Anh kia, tôi vừa nói ǵ đấy?  Lập lại cho cả lớp nghe coi.

 

Lập lại… thế đếch nào nổi v́ đang ngủ gà ngủ gật mà.  Thằng khốn nạn chỉ biết đứng lên lí nhí cái ǵ chẳng ai nghe nổi.

 

Thầy lại chỉ tay vào góc nhà, quát tiếp:

-Anh lên đây đứng ṿng tay lại trong góc này, xem cả lớp nghe giảng bài.  Học hành như thế mà cũng dám vác mặt đến trường làm tốn tiền bố mẹ.

 

Chỉ một vài lần như thế th́ đếch có thằng học tṛ nào dám ngủ gà ngủ gật nữa…

 

Nhưng cái tuyệt chiêu của thầy là Thơ Mới.  Thầy chẳng những giảng thơ và c̣n kể luôn tiểu sử của những nhà thơ.  Có lẽ thầy giang hồ tứ xứ và quen biết nhiều nên kể chuyện về những tác giả của người bài thơ mới như Phan Khôi, TTKH, Đinh Hùng vân vân thật là hay...

 

Một điều đặc biệt, thầy dạy Việt văn nhưng giảng qua luôn những vấn đề thời sự và chính trị.  Thầy gieo rắc vào ḷng chúng tôi những hột mầm của sự yêu nước.  Thầy thường nói, không ai thương đất nước Việt Nam ḿnh bằng người Việt Nam ḿnh cả.  Ngay hồi ấy, lúc quân đội Mỹ có đến nửa triệu người ở Việt Nam, nhưng thầy tiên đoán rồi Mỹ sẽ ra đi.  Thầy không ưa Mỹ, ghét Pháp thậm tệ.  C̣n Cộng sản là kẻ thù không đội trời chung.  Thầy chửi luôn cả bọn tướng lănh bất tài hồi đó.  Rồi thầy c̣n dạy chúng tôi luôn cả đạo làm người.  Thầy thường nêu câu sau này để dạy dỗ chúng tôi cách làm người, “Phú quư bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất.”

 

Nghe những lời thầy dạy, những tấm ḷng son trẻ của chúng tôi bỗng nổi dậy ḷng yêu thương tổ quốc, rạt rào và bừng bừng như sóng vỗ.

 

Nhưng rồi một ngày năm Đệ Tam, thầy Dung biến mất thật bất ngờ cũng như lúc thầy đă đến.  Không kèn không trống, không báo trước, không có lễ tiễn đưa, chẳng một ai trong chúng tôi biết.  Một buổi sáng, giờ Việt văn, một giáo sư lạ bước vào lớp, hỏi thầy Dung đă dạy đến đâu.  Chẳng có đứa nào trả lời được v́ thầy hứng đề tài nào th́ dạy đề tài đó, chúng tôi làm sao biết được.  Lúc ấy chúng tôi mới thấy tiếc thầy, nhưng ai cũng tưởng thầy bị đau, chỉ nghỉ vài ngày.  Nào ngờ, thầy biến mất thật.  Từ hôm đó trở đi, chúng tôi chẳng c̣n bao giờ gặp được thầy Dung nữa...

 

Ôi, tiếc nối thôi là tiếc nối...

 

Chỉ không đầy một năm sau, chúng tôi đọc được những bài thầy viết trên các tờ báo lớn như Chính Luận, Xây Dựng vân vân.  Măi cho đến lúc đó, chúng tôi mới biết rằng ḿnh may mắn được một người có tên tuổi như Cao Thế Dung dạy.  Thật đáng hănh diện biết bao.  Sau đó, thầy viết cả những cuốn sách nổi tiếng khác như “Làm thế nào để giết một Tổng Thống”, “Nhật Kư Đỗ Thọ” vân vân.  Cuốn nào cũng hay, làm tôi đọc say mê.

 

Rồi tôi vào lính.  Rồi mất nước...

 

Ngay từ những năm đầu tiên ở Mỹ, tôi bắt đầu được đọc thầy viết trên những tờ báo ở Hoa Thịnh Đốn với bút hiệu Hà Nhân Văn, và thầy có xuất bản cả sách nữa.  Măi đến năm 1992, thầy có dịp về New Orleans, ngụ tại nhà Lê Hồng Thanh, khu bộ trưởng của LMDCVN,  tôi có dịp đến gặp thầy và dự vài buổi tiệc với thầy.  Nhớ măi hôm đó, có cả nhà thơ Nguyễn Lập Đông.  NLĐ và thầy ngồi bàn về thơ Lục Bát làm mọi người ngồi nghe thật sướng.  Thầy bảo thơ Lục Bát coi tuy dễ làm, nhưng làm hay th́ thật là khó.  Thầy lại đem Nguyễn Du ra dẩn giải làm tôi lại nhớ đến những buổi chiều vàng ở trường La San Ban Mê Thuột năm nào.  Cuối cùng, thầy khen thơ lục bát của Nguyễn Lập Đông rất hay, làm cu cậu sướng rên người.  Làm tôi cũng ... sướng theo v́ có một thằng bạn làm thơ tới quá.

 

Tôi biết thầy khen thật v́ thầy là con người thẳng thắn, chẳng cần lấy ḷng ai.

 

Mới gặp tôi, thầy nhớ ra tôi ngay, hỏi thăm bố mẹ và gia đ́nh tôi.  Tôi được ngồi tâm sự với thầy khá lâu.  Tôi hỏi thầy viết như thế nào, đánh máy hay sử dụng computer.  Thầy cười, trả lời, thầy vẫn c̣n viết bằng tay và sẽ không bao giờ đổi.  Thầy bảo, ở Việt Nam có lần thầy đă viết thử bằng bàn đánh máy, nhưng không thể nào viết được v́ ... chữ trong đầu nó không chịu ḅ ra bàn đánh máy.

 

H́nh như đó là năm 1992 th́ phải.  Sau đó, tôi chằng c̣n bao giờ được gặp lại thầy.  Không được gặp nhưng tôi luôn luôn theo dơi những bài viết, những cuốn sách thầy viết.  Khi phong trào internet thịnh hành, tôi vẫn theo dơi những bài của thầy đăng trên net.

 

Nhưng mấy năm sau cùng đây, sức làm việc của thầy bắt đầu thấy yếu dần.  Lâu lâu tôi mới thấy một bài của thầy...

 

Cho đến hôm nay, khi được tin của anh Trương Sĩ Lương cho biết thầy đă ra đi, tôi ngậm ngùi.  Ngậm ngùi nhưng không buồn v́ biết rằng, cuộc đời này, ai trong chúng ta rồi cũng sẽ đến một ngày như thế cả.  Một trong những bi kịch to lớn nhất của con người là sự rũ áo ra đi mà.  Ra đi trong hoàn cảnh nào cũng thế.  Hễ ra đi là buồn rồi.  Có khác chăng là sớm hay muộn.  Khác chăng là ra đi mà được người người nuối tiếc hay bị nguyền rủa thống hận.  Khác chăng là con cái ḿnh sẽ được hưởng cái danh thơm tiếng tốt của ḿnh hay phải tủi nhục suốt đời v́ những chuyện ḿnh đă làm.  Khác chăng là khi xuống dưới Suối Vàng, ḿnh c̣n có can đăm nh́n mặt tổ tiên mà rập đầu quỳ lạy hay phải hỗ thẹn bỏ đi trốn v́ ḿnh đă làm thằng bán nước, bán bạn bè anh em.  Cuối cùng, khác chăng là, những ngày ḿnh c̣n sống, ḿnh đă làm được ǵ cho tổ quốc, cho đồng bào, cho anh em, hay chỉ là một thằng ăn nhậu nói phét, cướp vợ đàn em, trở về quỳ lạy kẻ thù cũ, làm ô danh gịng họ đến muôn đời muôn kiếp...

 

 

Thầy Dung kính mến,

 

Thầy ra đi, em ngậm ngùi tiếc nhớ thầy.  Nhớ lại những hạt mầm yêu nước thầy đă gieo vào ḷng chúng em ở trường La San Ban Mê Thuột năm nào.  “Đừng nghĩ thằng Mỹ nó yêu thương đất nước ḿnh.  Chúng nó đến đây v́ quyền lợi của chúng nó.  Một ngày nào đó, chúng nó sẽ ra đi.  Các em nên nhớ, không có ai yêu thương đất nước ḿnh bằng người Việt Nam ḿnh cả.  Nếu các em không yêu thương đất nước ḿnh th́ các em mong đợi ai sẽ yêu thương đất nước ḿnh đây?”  Thầy dạy chúng em nhiều lần như vậy.

 

Cuộc đời của thầy là một cuộc đời tranh đấu chống Cộng sản bạo tàn và chống luôn cả những bất công tham nhũng.  Trước sau như một, thầy đă thể hiện tấm long trung trinh với tổ quốc.  Thầy không đi lính nên không bắn được một viên đạn nào để giết kẻ thù, nhưng sự nghiệp văn chương của thầy, sự tận tâm dạy dỗ của thầy, đă vạch rơ và báo động cho nhân dân miền Nam biết sự tàn bạo dối trá của bọn Cộng sản, làm cho chúng em biết yêu thương tổ quốc và tin tưởng vào tương lai của dân tộc.

 

Chiều nay, sau khi được tin thầy Dung mất, tôi có chuyện cần phải lái xe đi.  Dừng xe ở một trạm đèn đỏ, tôi tự dưng nghiêng người ra cửa và đưa mắt lên nh́n trời, và chợt trông thấy những đám mây trắng đang chập chùng trên cao...

 

Đă hơn bốn chục năm rồi, kể từ khi không c̣n được lái tàu bay, tôi đâm ra ghét mây kinh khủng.  Ngày xưa, tôi luôn luôn nh́n chúng nó trước khi cất cánh để ước lượng xem thử ḿnh sẽ lái tàu, bay bên trên chúng nó, xuyên qua chúng nó, hay bay dưới chúng nó để tới mục tiêu.  Ai đă từng lái tàu bay th́ phải biết là Mây có tới 9 loại và nhiều màu sắc, nhiều cao độ.  Mây luôn luôn thay đổi biến hóa và nhiều khi cũng nguy hiểm tàn độc như con người.  Phi công nào coi thường mây, liều lĩnh xách tàu chui vào th́ có ngày sẽ chết mất xác.  Đă 40 năm tôi không c̣n nh́n mây nữa—dù ngày xưa chẳng ưa ǵ chúng nó nhưng ít nhất chúng nó cũng c̣n là bầu bạn, gặp gỡ nhau hằng ngày, trong những bầu trời bập bùng lửa đạn hay những ngày lặng im tiếng súng.  Nhưng bây giờ th́ đă “ngh́n trùng xa cách”, cho nên, mỗi lần nh́n lên chúng nó là mỗi lần thấy xót xa đau đớn trong ḷng vô cùng vô tận.  Cuối cùng th́ đừng thèm nh́n chúng nó là tốt hơn cả.

 

Nhưng hôm nay, thầy Dung chết, tôi bỗng lơ đăng nh́n lên những áng mây thật trắng, bay rất là đà và hiền lành dễ thương trong bầu trời xanh của nước Mỹ, nơi chưa bao giờ có đạn bom và hận thù như quê hương ḿnh.  Và tôi thấy, trong một đám mây nào đó, làm như có h́nh ảnh của một Cao Thế Dung, thầy tôi ngày xưa...

 

Thầy b́nh dị nhưng cao cả làm sao.  Thầy hiền lành nhưng bất khuất làm sao...

 

 

Viết cho thầy,

 

 

Trường Sơn Lê xuân Nhị, Học Sinh La San Ban Mê Thuột

New Orleans những ngày vào thu

11/5/2017

--------------------------------------------

 

 

 

Giáo sư Cao Thế Dung

 

Bút hiệu: Cao Vị Hoàng, Cao Đan Hồ, Hà Nhân Văn
đă từ trần hôm 31/10/2017 tại Silver Spring, Maryland. Thọ 85 tuổi.

Gs. Cao Thế Dung sinh ngày 28/11/1933 tại huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

 

Ông nổi tiếng từ trước năm 1975 trong ngành giáo dục là giáo chức lâu năm của hệ thống giáo dục Lasan Taberd, từng giữ chức Phụ tá Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Sài g̣n, nguyên Phó Khoa trưởng Đại học Bách khoa Nông nghiệp Viện Đại học HH tại Sài g̣n. Giáo Sư Dung cùng với Nhà văn Thế Phong thành lập nhóm Đại nam Văn hiến (1959). Chủ bút tạp chí tranh đấu Quần chúng (1968-1970). Thư Kư ṭa soạn tạp chí Giáo dục (Viện Khoa học Giáo dục Sài g̣n 1970-1972). Chủ nhiệm kiêm Chủ bút tạp chí Hành Tŕnh (Hoa kỳ 1978-1979).

 

GS Cao Thế Dung có nhiều tác phẩm biên khảo ấn hành trước và sau 1975.

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính