Một cánh Hoa Dù

(Phần 1)

 

Trương Dưỡng

 

 

I. TAI NẠN THẢM KHỐC.

 

 

H́nh Trương Dưỡng 1965 và 1980

 

Năm 1965, tui tốt nghiệp Trường Sĩ Quan Đà Lạt, k20 và được tuyển chọn về Binh Chủng Nhảy Dù. Tui đă tham dự nhiều trận đánh và bị thương nhiều lần tại mặt trận: Quảng Trị (lỗ tai và đùi phải), Thành Nội Huế năm Mậu Thân 1968 (lưng c̣n hơn 10 mănh lựu đạn), Tây Ninh (2 mănh B40 trên đầu), . . và bị thương nhẹ ở các trận chiến khác không đáng kể.

   

Tui đă được tưởng thưởng nhiều huy chương và thăng cấp đặc cách mặt trận (trung úy, đại úy, thiếu tá)

 

Trải qua nhiều gian nan nguy hiểm mà không sao nhưng năm 1973, tui ra thăm toán Tác chiến điện tử tại Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù, ở bờ Nam sông Mỹ Chánh thuộc tỉnh Quảng Trị. Trên đường về xe Jeep bị lật ở khúc cua quẹo ngay chân cầu Phong Điền, khiến lưng tui chạm nhằm viên đá, gây chấn thương cột sống! Thế là cuộc đời găy gánh giữa đường!

   

Sau khi tỉnh dậy chờ xe cứu thương di tản, tui bi quan nằm ngó trời đất mênh mông, nghĩ đến số phận tàn phế của ḿnh, chẳng lẽ phải tiếp tục kéo dài cuộc sống không lạc thú này hay sao?

 

Nghĩ đến người hiền thê c̣n trẻ tuổi (chưa đầy ba mươi!), tui muốn tự giải thoát để không liên lụy cuộc đời son trẻ của nàng.

 

Nhưng khi nhớ đến ba đứa con c̣n nhỏ dại rồi đây sẽ ra sao?  Chỉ trong mấy phút mà đầu óc suy nghĩ đủ thứ. Cuối cùng tui quyết định không buông xuôi, phải cố gắng tồn tại, dùng bộ óc và kiến thức sẵn có để d́u dắt các con cho nên người rồi sẽ tính sau.

       

a). Tại Tổng Y viện Cộng Ḥa.

        

Khi được chở về tới Trạm xá ở bộ Tư Lệnh Sư đoàn Nhảy Dù, nh́n thấy Tướng Lê Quang Lưỡng, Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù, Đại tá Phước, Tư Lệnh Phó, tới thăm; nhưng tui cứ nhắm mắt buông xuôi. Lúc đó tui không muốn gặp ai, chỉ mong được yên lặng để tiếp tục suy nghĩ về số phận tương lai của ḿnh.

   

Sáng hôm sau, đích thân Bác sĩ Trần Khắc Niệm, Y Sĩ Trưởng, kiểm soát lại bịnh t́nh rồi gọi về Hậu cứ nói Bác sĩ Trần Đức Tường cho người đón và đưa tui thẳng vô Quân y viện Cộng Ḥa để kịp giải phẫu lấy máu bầm sớm, may ra cứu văn được phần nào hệ thần kinh tủy sống. Bác sĩ Niệm, Bác sĩ Tường, y sĩ trưởng bệnh viện Đỗ Vinh, là những người bạn rất tốt. Lúc b́nh thường C̣ Thu, tui, và anh Niệm thích chơi bóng chuyền với nhau, tại sân Trạm xá Quân y.

 

Chúng tui cũng ưa rủ nhau ra thành phố Huế du ngoạn nơi các Lăng Miếu cổ xưa, vào Hoàng Cung Đại Nội xem các di tích lịch sử và ăn bún ḅ Huế "Mụ Rớt" nổi tiếng ở Gia Hội, . . . nhưng từ đây tui sẽ không c̣n những ngày huy hoàng đó nữa!

   

Vô Bịnh Viện Cộng Ḥa, họ chụp quang tuyến và đưa đi mổ ngay. Đây là cuộc giải phẫu lớn, gần một buổi sáng mới xong. Khoảng nửa ngày th́ tui tỉnh dậy, thấy miệng khô và khát nước vô cùng! Nhưng họ không cho uống, chỉ lấy bông g̣n thấm nước thỉnh thoảng để trên môi cho thấm xuống chút xíu, v́ mới mổ mà uống nước sẽ nguy hiểm. Lúc ấy tui bị hành sốt và lạnh run, miệng đánh ḅ cạp liên tục! Y tá đắp mền và lấy đèn sưởi mà không đỡ chút nào, thân nhân đứng ngoài pḥng kiếng nh́n cảnh như vậy mà đau ḷng xót ruột.  

  

Hiền thê tui sau này kể lại là thường ngày tui rất kỹ lưỡng, trước khi ăn đều rửa tay, vậy mà hôm đó cục bông g̣n ướt rớt xuống nệm dơ bẩn, tui vẫn cứ lượm lên liếm một cách ngon lành, giống như những em bé thèm  cục kẹo vậy!

   

Ở Hậu giải phẫu một thời gian, họ đưa tui tới pḥng điều trị.

   

Một trong những bịnh bi đát và khổ sở nhứt là bịnh chấn thương cột sống; hệ thống bài tiết bị đ́nh trệ, gần như không c̣n hoạt động tốt và gây rất nhiều biến chứng. Họ để ống “Xông” vào bọng đái thường trực gây ra nhiểm trùng, chuyền lên tới hai quả thận. Riêng tui c̣n bị ống xông loại cứng quá làm lủng từ bọng đái xuyên qua ruột già, khiến nước tiểu chảy qua đường hậu môn! Lúc đó họ định mổ tách ra, nhưng thấy tui c̣n yếu nên t́m loại ống xông đặc biệt đặt thường trực và bơm nhiều thuốc trụ sinh vào chai nước biển diệt vi trùng để bảo vệ thận. Họ cho trụ sinh nhiều quá đến đổi cơ thể tui không c̣n tiếp nhận được Pénicilin, hễ chích vào sẽ bị phản ứng, ngay cả uống Ambicilin cũng vậy. C̣n việc đại tiện thiệt là bế tắc, mỗi ngày tui nh́n thấy ra ba cục “thuốc tể” th́ mừng rỡ, nhưng nếu lớn bằng ba cục “cứt dê” th́ trong người thiệt khó chịu! Cứ ôm cái bụng ch́nh b́nh; không c̣n muốn ăn uống ǵ nữa; lúc đó tui ốm yếu cân mất hơn 50 pounds (gần 25 kí lô!).

  

 Cháu Thành bấy giờ đă hơn 3 tuổi, ngày nào cũng theo má vào thăm tui. Nó ưa leo lên giường nằm cạnh bên, khiến mọi cơn đau đớn về thể xác như tiêu tan mất hết. Có lần đi ngang qua hai chân, thấy tui đang lót báo, nó vội lật đật nhảy xuống cái rột, thiệt là đáng “ghét” vô cùng. Trước đó, mỗi khi Biệt Đội được ở hậu cứ, sáng nào Thành cũng canh thức sớm, leo lên xe Jeep theo tui vào văn pḥng làm việc. Nó thường trèo lên bàn lấy viết vẽ lung tung; nó thích cho chú tài xế chở đi chơi ṿng ṿng.

  

Các sĩ quan và quân nhân trong Biệt Đội đều thương. Mỗi lúc đi hành quân xa, tui thường lén thức dậy một cách nhẹ nhàng để trốn ra phi trường, nhưng lần nào cũng không gạt được, tui vừa ngồi dậy là nó liền mở mắt đen thui, làm như đă canh sẵn hồi nào tới giờ.

   

Khi phi cơ bắt đầu lăn bánh ra phi đạo, tui nh́n nó mà ứa nước mắt, thiệt sự không muốn rời xa con chút nào; nếu đào ngũ được tui cũng muốn làm. Có lần Huy lúc ở Tiểu đoàn 9 Nhảy Dù đă đào ngũ; vậy mà ra Quảng Trị, hắn cũng dám lại thăm tôi như thường (đơn vị Nhảy Dù chỉ cần người t́nh nguyện. Những ai quá nặng nợ, không ḱm giữ được bản thân th́ không giúp ǵ cho đơn vị thiện chiến). V́ vậy khi có con cái đùm đề, nặng nợ gia đ́nh, chần chừ mỗi khi đi hành quân xa, lúc đó tui cảm thấy không xứng đáng mang danh binh chủng này chút nào!

   

Nhà thương của Việt Nam đâu có máy lạnh nhiều như ở Mỹ, chúng tui ai cũng bị lở (mông hoặc xương khu) v́ hầm hơi, mặc dù thỉnh thoảng cũng nhờ thân nhân giúp trở ḿnh qua lại. Tui chỉ bị nhẹ, nhưng vết mổ th́ lành thiệt chậm. Hằng ngày hiền thê tui phải rửa bằng nước biển và băng bó kỹ lưỡng nhưng cũng không gom mặt. Sau này khi hành quân về, bác sĩ Niệm có tới thăm và cho hộp “Bô Mát Madecasole” làm bằng một loại nấm ǵ ở Phi châu, do Pháp sản xuất. Khi thoa vài lần, thấy vết thương có tiến triển, tuy đắt tiền nhưng bà xă tui vẫn kiếm mua, xức trong vài tháng th́ lành hẳn. Vết lở của tui bằng đồng bạc mà cũng nửa năm và tốn rất nhiều típ bô mát mới hết, đây đúng là bịnh nhà giàu! V́ mỗi lần lở lâu lành nên tui giữ ǵn rất kỹ; ngày nào cũng tắm rửa sạch sẽ; tối nào cũng thức giấc nhiều lần để trở ḿnh (thói này tập quen từ năm 1973 và đi theo tui tới giờ đă hơn 30 năm!).

   

Không khí sinh hoạt ở đây cũng dễ chịu, đồng cảnh thường thương mến giúp đỡ lẫn nhau. Thân nhân được đôi chút an ủi v́ những người xung quanh ai cũng nồng nhiệt, lúc rảnh rỗi mấy bà thường tụ họp chuyện tṛ thăm hỏi nhau, trong đó đề tài chánh thường bàn về vết lở và táo bón của người thân họ.

   

Một tháng sau, sĩ quan đại diện Sư Đoàn Nhảy Dù vào nhà thương gắn cho tui cấp bực Thiếu tá và chuyển xuống trại sĩ quan cao cấp. Tại đây, cấp trung và thiếu tá th́ hai người một pḥng, đại tá ở pḥng có máy lạnh, cấp tướng th́ rộng răi và tiện nghi hơn. Trưởng trại sĩ quan cao cấp là Trung úy Hai, sau ngày mất nước, nghe nói anh là nội tuyến nằm vùng (chỉ nghe nói chứ chưa xác định rơ). Dăy nhà cấp Tướng, lúc đó có Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân Đoàn I và Phó Tổng Thống Trần Văn Hương, . . Cụ Hương chỉ thích nằm vơng chứ không chịu nằm giường. Nghe nói tướng Trưởng đă bất măn vụ ǵ đó nên khai bịnh như để phản đối một cách quyết liệt.

     

Tui nằm cùng pḥng với thiếu tá Anh, là Phi công lái F-5 đầu tiên của ngành không quân. Anh ra ngoài Bắc oanh tạc, phi cơ trúng đạn, bị thương ở chân. Mỗi tối có một binh sĩ  Biệt đội thay phiên đến trông nom, v́ hiền thê tui lo ở nhà coi sóc 3 đứa con c̣n nhỏ dại. Tội nghiệp cháu Thiện lúc đó mới sanh 7, 8 tháng, ở nhà với anh Tâm (mới 6 tuổi) và chị Hảo, người giúp việc cho gia đ́nh mấy năm nay.

   

Cháu Hảo là con của một Trung sĩ Dù, nhà trong trại Hoàng Hoa Thám, tánh t́nh cương trực không tham lam. Có lần bà xă tui mua giấy số, cầu mong có chút đỉnh tiền lo cho chồng, con. Nhưng v́ đầu óc bối rối lo lắng đủ điều, tiền lương cố định; mà phải nào là thuốc men, nào là cơm gạo và nhứt là phải có tiền mua sữa cho cháu Thiện nữa. Mắt th́ ḍ giấy số mà đầu óc cứ nghĩ đâu đâu, như Tú Xương đă nói về vợ:

 

“. . . . Nuôi nấng ba con với một chồng

  Lặn lội thân c̣ khi quăng vắng. . . . ”

 

Hảo lượm giấy số đă quăng bỏ lên coi lại, bỗng la lớn: ”Trúng cặp 7 một trăm ngàn rồi cô ơi!”. Vợ tôi không tin, nhưng cũng miễn cưỡng coi, bỗng mắt nàng sáng lên v́ quả thiệt là trời đă ngó lại!

 

Ở trại sĩ quan cao cấp, mỗi ngày tui mang giày nẹp tập đi trong hai thanh paralel; ngoài ra c̣n lo vô nước biển, trong đó có thuốc trụ sinh, để chữa bịnh nhiễm trùng đường tiểu gây ra do đặt ống xông lâu ngày. Điều trị hơn một năm th́ sức khỏe tui hồi phục dần, hằng ngày có thể tự lăn xe đi ṿng ṿng trong khu trại nầy, và mỗi buổi sáng thường ra phơi nắng.

 

Chiều tới, khoảng năm giờ là bắt đầu thấy buồn, v́ hai mẹ con sửa soạn ra về, nhứt là cháu Thành cứ quay lại vẫy tay chào làm tui ứa nước mắt.

  

Không hiểu tại sao lúc đó tui dễ nhạy cảm và con người quá yếu đuối? Có lần Thành nghịch ngợm, mẹ nói hoài không nghe, nên giận quăng đôi giày của nó ra sân; chỉ có vậy mà tui cũng chảy nước mắt.

 

Có lẽ trước kia tui c̣n nghĩ đến quyền quư danh vọng, bây giờ th́ mất tất cả. Chỉ c̣n lại bốn mẹ con yêu thương trong tầm tay, tui muốn họ lúc nào cũng được yên vui hạnh phúc măi măi, không ai được động tới họ.

   

Những ngày ở nhà thương buồn chán, may nhờ có mấy đứa con vô chơi nên tui cảm thấy yêu đời dần dần và tự nhủ thầm: hăy bỏ mọi ước mơ ảo tưởng qua một bên, không nh́n về quá khứ để ngồi than thở, hối tiếc; mà nên bằng ḷng với định mệnh để nắm giữ cái hiện hữu thực tại, và cố ngoi lên trong khả năng hạn chế của ḿnh (Thực sự nếu cứ ngồi một chỗ để cằn nhằn so b́ tại sao ḿnh không đi đứng được như người ta, tại sao ḿnh không có nầy không có nọ như người ta? Tại sao và tại sao, . . .  th́ thà xuống địa ngục c̣n sướng hơn)

   

Thân thể tuy bất toàn nhưng không có nghĩa là cuộc đời đă chấm dứt; đôi chân không đi được nhưng khối óc vẫn c̣n nguyên vẹn. Nước chảy đá ṃn, thời gian dài chịu đựng sự dày ṿ về thể xác lẫn tâm hồn suốt năm qua; vẫn không bào ṃn được ư chí phấn đấu sẵn có trong con người từng xong pha vào làng tên mũi đạn quân thù như tui. Mấy tháng nay tui luôn tranh đấu với bản thân, quyết tâm hướng về tương lai, bỏ lại những quá khứ đau buồn từ ngày bị tai ương tàn khốc!

   

Sau khi nghĩ thông suốt, tui thường tự an ủi bằng cách so sánh với những người có cảnh ngộ khó khăn hơn ḿnh. Như những người bị liệt tứ chi chẳng hạn, họ c̣n khổ sở hơn rất nhiều: hai tay cử động yếu ớt, khó thở v́ phổi không được b́nh thường. Hoặc so với những người bị ung thư bất trị, hoặc những người già yếu lụm khụm. Ôi thế gian nầy c̣n biết bao nhiêu người đau khổ hơn ḿnh; tại sao họ chịu đựng được, c̣n ḿnh đường đường là một nam nhi, đă từng tôi luyện trong ḷ luyện thép tại Đà Lạt, đă từng “Nhảy Dù Cố Gắng”, chỉ huy binh sĩ trong các mặt trận thập phần nguy hiểm như Tết Mậu Thân ở Quảng Trị, Huế, và Vùng Ven Đô Sàig̣n. Nào là mặt trận Tây Ninh, nào là vùng Phi Quân Sự, Bồng Sơn, Tam Quan, Dakto, Hạ Lào, Campuchia, . . .

 

Rồi tui nghĩ đến những nhà tu hành đạo đức; họ đâu chú trọng về hưởng thụ bản thân, đă một ḷng hướng thiện và cứu rỗi chúng sanh đang đau khổ v́ cái ṿng lẩn quẩn: sinh, lảo, bịnh, tử. Bây giờ đă thấu triệt, nhờ vậy tui cảm thấy thoải mái và xin xuất viện về nhà để gia đ́nh tránh khỏi một kiểng hai quê, ḥng có dư chút đỉnh mua sữa cho cháu Thiện hiện c̣n quá thơ dại.

   

          b). Xuất Viện Về Nhà.

      

Sau khi về nhà được một tháng th́ có Tư, chồng của cô Tánh, là em họ của bà xă tới thăm. Tư ở Chợ Lớn là tay buôn bán lành nghề, chú chỉ tui cách sinh lợi là thu mua sắt vụn rồi sẽ đưa người tới chở đi bán cho hăng nấu thép. Lúc đó nhờ mới trúng số nên có tiền mở địa điểm mua sắt vụn tại nhà.

   

Gia đ́nh binh sĩ nghe tin, vội đem mấy thùng phuy lủng, vỉ sắt mục sét, đồ sắt vụn, . . . tới cân bán ào ào, chẳng mấy chốc sân bên hông nhà chất cao ngất toàn là sắt phế thải. Tư gọi người đem xe tới chở được vài chuyến th́ sắt vụn trong trại gia binh hết sạch, đành phải kiếm nghề khác. Lúc đó Đại Úy Vơ Tín, sĩ quan truyền tin, bạn đồng hương, cho tui một cuộn dây và Thiếu tá Nguyễn Đ́nh Ngọc, k19, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 2 Nhảy Dù, cho người kéo dây điện thoại xuyên qua doanh trại tiểu đoàn, nhờ vậy tii ở nhà mà cũng có thể liên lạc được bạn bè. Có một thương binh đă giải ngũ, chạy xích lô, thay v́ đem xe vào nhà ở trong trại Hoàng Hoa Thám, anh đă đem gởi tại nhà tui, để buổi chiều cậu em vợ, chở đi ṿng ṿng giải khuây.

   

Hết nghề thu mua sắt vụn, bà xă tui xoay qua nghề bán gạo, anh chị BS Hiền có lại ủng hộ giùm một bao gạo thơm. Khi c̣n ở Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù, bác sĩ Hiền là người chịu chơi nhứt trong các bác sĩ Dù mà tui đă gặp. Lúc mới về đơn vị thay thế bác sĩ Thiện, anh đă ḥa ḿnh ngay với sĩ quan trong tiểu đoàn; những buổi nhậu của chúng tôi đều có anh tham gia và tửu lượng khá cao, mọi người đều rất mến anh. Khi nghe gia đ́nh tui mới qua Mỹ, từ California xa xăm anh cũng gởi tiền giúp và chúc tui sớm ổn định trong những ngày chân ướt chân ráo tại đất khách quê người. Mặc dù bây giờ anh chị đă khá giả, nhưng nghe nói hễ gặp đám TĐ9 cũ như Mễ, Tâm, Thành là cố mời tới nhà nhậu để hồi tưởng lại những ngày cùng ngồi bên nhau uống rượu đế với khô mực, khô cá khoai, và soài sống chấm mắm ruốc!

   

Bán gạo được vài tháng th́ thua lỗ gần hết vốn, v́ không có địa thế tốt, tui lại chuyển qua nghề bán củi b́a. Một hôm đi ngang qua Tổng Tham Mưu, thấy ngôi biệt thự đối diện có những bó ván nẹp chất đầy sân, tui ghé vào thấy bên trong họ đang đóng thùng để đựng đồ sành, đồ sứ như ghế đôn, chậu, con voi. Tui hỏi ông quản lư về việc cung cấp ván nẹp, ông Hai ghi địa chỉ và nói khi nào rănh sẽ tới bàn chi tiết, v́ ông nói củi b́a có thể mót cưa thành những miếng nẹp bảng nhỏ mà ông đang dùng và giá thành lại rẻ, như vậy hai bên đều có lợi.

   

Vài ngày sau ông t́m đến nhà, thấy gia cảnh như vậy, nên khuyến khích tui làm bàn cưa tṛn để xẻ củi b́a thành các miếng nẹp theo thước tấc chỉ định, c̣n phần vạc bỏ th́ để bán củi vụn. Tui hứa với ông Hai sẽ làm một đợt cho coi thử, nhưng không ai rành nghề thợ mộc!

 

Tui điện thoại nói Phạm Thái Hóa,  trưởng Khối Bổ Sung, cho mượn thợ mộc tới chỉ những cậu trẻ tay ngang mà tui thuê như “Thợ vịn”, v́ đâu biết có làm được lâu dài không mà kiếm thợ giỏi. Hóa, bạn cùng Khóa 20 Đà Lạt, cho binh nh́ Ninh ra giúp vài ngày, chỉ cho Chương và Thanh cưa ván nẹp. Giao hàng đợt đầu tuy không hoàn hảo nhưng bà chủ và ông Hai đều là người phúc hậu, họ nhận hàng và đặt tiếp.

   

Sau đó tui đi tới hai chỗ bán đồ sứ ở đường Vơ Di Nguy, Phú Nhuận và đưa hàng mẫu, ở đây chỉ mua thùng chứ không mua ván nẹp. Sau khi thương lượng giá cả xong, tui về huy động những người lối xóm đang thất nghiệp. Trong đó có anh Bộ, thương binh Dù bị cụt hai chân, và con của Thượng sĩ Lớn, thuộc cấp của tui, xúm nhau ngồi đóng gia công (làm nhiều ăn nhiều làm ít ăn ít). Rồi từ tay ngang, tui ngồi trên xe lăn mà vẫn có thể điều động quản lư mọi việc, bà xă tui lo đếm tiền, phát lương, và nấu ăn.

   

Bây giờ làm ăn cũng kha khá, từ việc bán củi b́a, nay đă có hai dàn cưa máy chạy ngày đêm; từ việc bán nẹp giờ đây có thể đóng thùng và nhận vô bao b́ xuất khẩu. Thợ đóng thùng từ hai người lên mười hai người, ai cũng cố đóng nhanh để chiều nhận nhiều tiền, phụ giúp gia đ́nh được thêm sung túc. Tui th́ lo kiếm cách làm cho sản phẩm ngày càng tốt đẹp, giá thành phải chăng, và nhứt là giữ uy tín, giao hàng đúng hẹn. Cái nào v́ di chuyển bị hư méo, tui cho đem về đổi ngay. Nhờ vậy các chủ tiệm đồ sứ đều hài ḷng; tiền bạc vô ra, các con có dư đủ; làm tui quên hẳn ḿnh là người tàn phế, tinh thần vợ chồng tui lúc đó rất sảng khoái và yêu đời.

 

Nhưng! Ngày Quốc Hận đến, tui lại bị Găy gánh giữa đường!

    

 

2. SAU NGÀY QUỐC HẬN.

    

          a). Tiêu tan sự nghiệp!

    

Những ngày cuối “Tháng tư đen”, phi cơ của tên nội tuyến đă oanh tạc phi trường; v́ sợ liên lụy các con, tui tản cư qua nhà anh Ba ở Tân Định, thế là: “Sự nghiệp đang công đeo đuổi, nay cũng đành gián đoạn giữa đường!”

   

Toàn dân Miền Nam nói chung, gia đ́nh binh sĩ và quân cán chính đang bị chôn vùi trong biển hận. Con xa cha, vợ xa chồng, loài quỷ đỏ đă gieo rắc bao tang thương, bao khổ hận cho muôn người.

 

Công lao sự nghiệp đă gầy dựng, mới làm lại cuộc đời, sau những ngày bi quan tưởng ḿnh đă vứt bỏ như đồ phế thải. Nhưng chỉ một phút bị cướp giựt sạch.

Họ cho đổi tiền, mọi người đều trở thành vô sản. Muôn người đều chỉ c̣n 200 đồng, của cải bị tịch thu vào “Quỹ chung” (Cộng sản) để cho các tên đầu sỏ từ Bộ chóp bu tới những đảng viên thuộc loại “Ba Mươi” từ từ xài thỏa thích.

   

Dân đen bần cố nông th́ “Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi” c̣n các ngài th́ lúc nào cũng nhân sâm bồi bổ, v́ thế họ sống thiệt dai để hưởng mọi lạc thú. Người nào cũng quá tẩm bổ, nên đa số chết v́ bị tai biến mạch máu năo; nh́n mặt anh nào cũng chành bành bóng loáng to tṛn như trái bong bóng sắp nổ, so với những người nông dân, thợ thuyền gầy ốm th́ thiệt khác xa như hai thái cực.

 

Sau khi đưa một đống tiền để đổi lấy hai trăm đồng Việt Cộng, như vậy từ nay phải làm ǵ để sống?

 

Những người mạnh mẽ c̣n chịu không kham, huống chi gia đ́nh tui, cháu lớn mới 7 tuổi, mỗi ngày cứ đọc sách giáo khoa tuyên truyền toàn chuyện vót chông diệt ngụy, bắn phi cơ, và râu bác dài như. . . . khiến mỗi lần nghe tới là nổi sùng. C̣n Thiện mới một tuổi th́ làm ǵ có tiền mua sữa, đành cho uống nước lạnh pha chút đường mà chúng tui thường gọi đùa là “sữa bộ đội”. Uống riết cháu mặt mày xanh lét, mẹ nó th́ phải về quê mua heo con lên Saigon bán. Đồ đạc trong nhà tiêu dần, đồng hồ, Honda, ngay cả nhẫn Truyền Thống Vơ Bị (của thằng Măng, bạn cùng khóa, tặng cho lúc gặp nhau ở bờ sông Mỹ Chánh) cũng đem ra bán sạch.        

    

Nhà nhà đều sạch, người người đều xẹp, chính sách của họ đă đi “đúng hướng”, dân miền Nam càng lầm than th́ họ càng khoái chí!

   

Hết buôn heo rồi lại lo quấn thuốc lá để O5 giờ sáng leo xe đ̣ Hốc Môn ra Chợ Lớn dành chỗ trải dưới đất bán chui, hôm nào xui xẻo bị bọn “Mafia con”(cảnh sát hay đám cách mạng 30) ra tịch thu th́ sữa bộ đội của cháu Thiện chỉ c̣n nước lă, chứ tiền đâu mà mua đường! Ngày nào cũng ráng ăn bo bo độn khoai ḿ với nước mắm (tiêu chuẩn gần giống như cơm tù, v́ họ chỉ có nước muối thay v́ được nước mắm như dân ở ngoài), nhà là nhà tù, người là kẻ tội, cả miền Nam đang sống như tù tội!

  

Bán thuốc lá cũng không xong, tương lai mù mịt, tui không giúp được ǵ cho gia đ́nh, lúc này tư tưởng đầy bi quan, tinh thần xuống dốc đến cùng cực!!!

   

Một hôm D́ Sáu từ tỉnh lên thăm, bà là người phúc hậu tử tế, bị đánh tư sản. Chúng ụp vào nhà lấy hết vàng bạc (mấy trăm lượng), v́ bà có tiệm bán vàng và cầm đồ và bị kết tội “Tư sản mại bản”, . . . D́ Sáu thấy tui ngồi chiếc xe lăn đă mục nát, nệm lót đă rách nên cho tiền mua một chiếc xe khác làm chân (anh bạn Lê Tấn Huỳnh Long, nguyên bác sĩ Thủy Quân Lục Chiến, làm ở Nhà thương Quốc Gia Phục Hồi, định cấp cho tui một chiếc khác, v́ trong kho có mấy trăm chiếc; nhưng tên Sáu Châu không chịu, nói để dành chở ra Bắc (cái ǵ cũng chở về Bắc!). BS Long tức giận từ chức. Anh cũng bị pháo kích trúng xương sống, nhưng phục hồi được chút đỉnh nên đi nạng được. Qua Mỹ anh đă đổ bằng bác sĩ lại, nhưng ngồi lâu sợ lở mông, nên đi làm bất tiện. Khi qua đây anh chị cũng có làm giấy bảo lănh USCC cho gia đ́nh tui, không sợ gánh nặng của nợ, thiệt là tử tế vô cùng).

  

          b) Làm Lại Cuộc Đời.

  

Thay v́ sắm xe lăn, tui đă mua một chiếc xe lắc bằng tay.

 

Từ ngày mất nước không có ra ngoài, v́ xe xích lô và xe Jeep đâu c̣n nữa! Hôm nay có xe lắc tay, giống như được tháp đôi chân, như chim sổ ḷng. Tui cùng với cháu Thành (lúc đó được 6 tuổi) quyết định đi dạo một chuyến thiệt xa. Hai cha con hè nhau lắc xe từ nhà, qua ngang Bà Quẹo, theo lộ đá sỏi tới trường đua Phú Thọ; đoạn đường dài gần năm cây số! Tui muốn đến thăm thằng bạn già Trịnh Xuân Tiểu, cùng học Trần Trung Tiên ở tỉnh. Hai đứa rất thân từ mấy chục năm trước. Tiểu học sĩ quan Hải Quân khóa 14, v́ tánh quật cường không chịu khuất phục nội quy kỷ luật, nên phải trở lại khóa sau mới được ra Thiếu úy thiệt sự. Tánh nó rất tốt, lúc tui c̣n đang ở trọ tại Phú Nhuận, hắn đến rủ cùng đi lựa mua xe gắn máy hiệu Pusch. Sẵn dịp, Tiểu nói mẹ cho tui mượn tiền mua luôn xe Mobilet loại tự động mới ra đợt đầu; mặc dù lúc đó tui chỉ là học sinh đâu có tiền để trả nợ (má Tiểu chuyên cho vay lấy lời, nhưng nó đâu có cho tính phân lăi với tui xu nào!).

   

Tiểu biết địa chỉ, nên một hôm đi xích lô tới thăm tui; nó mượn xe lắc tay để về nhà mẹ ở trước rạp hát Trương Minh Giảng (Tiểu bị phục kích trên giang thuyền và trúng đạn bể xương đầu gối). Nhưng mới lắc tới Ngă Tư Bảy Hiền th́ bị xỉu, may nhờ những người đi đường đè xuống cạo gió làm nó hoảng sợ mỗi khi nh́n thấy chiếc xe lắc này.

   

Biết xe lắc không ổn, tui quyết định bán và tự vẽ kiểu cho anh Học, thợ hàn gió đá, cựu hạ sĩ quan Nhảy Dù, đệ tử tướng Đống, làm một chiếc khác với khung được uốn cong bằng ống nước loại thép tốt. V́ thế xe thiệt vững chắc, có gắn máy PC-50 và sức chịu đựng cao. Với xe có gắn máy, hằng ngày tui, cháu Thành, và cháu Vinh ra chợ Tân B́nh mua bo bo, đổi ḿ sợi tại các Hợp Tác Xă, hoặc đến hỏi mua từng nhà. Từ đó có đồng tiền vô ra giúp đỡ phần nào cho gia đ́nh, tui hết tự ti mặc cảm.

  

 Có lần vô Tân Phú mua bo bo, khi đủ bao th́ chở ra Chợ Lớn, qua đường Cầu Tre gập ghềnh khó đi. Hôm đó, v́ mua được nhiều, tui hăng hái chạy tới chạy lui vô Chợ Lớn bán hàng nhiều chuyến. Tới 2Oh tối, về tới nhà, tui mới phát hiện gót chân phỏng sưng to tới thấu xương (thịt gần như bị chín luôn)! V́ đường gồ ghề nên bao bo bo bị tuột ra sau, đẩy gót chân tui chạm vào ống bô (ống khói) nóng hực cả buổi, mà cứ tỉnh bơ chạy hoài.

   

Mặc dù không có cảm giác, nhưng lúc đó trong người tui cảm thấy rất bức rức, khó chịu. Có lẽ v́ ống bô quá nóng, khiến máu trong cơ thể cũng bị ảnh hưởng nóng theo, nhưng v́ nghĩ đến hôm nay được đắc lợi, ḷng cảm thấy phấn khởi, đâu c̣n để ư đến bản thân ḿnh, miễn sao làm ra tiền nhiều để gia đ́nh được đầy đủ là cảm thấy vui rồi.

   

Nhờ ngày nào cũng ngâm nước lá me (đâu có tiền mua “Bô Mát” loại tốt như của BS Niệm đă cho!) để làm tái thịt chỗ vết phỏng, nên một năm (tới một năm lận) mới lành hẳn.

   

Từ đó tui lấy miếng ván chận chân cho cách biệt với bô xe. Tuy bị phỏng nặng, nhưng v́ sinh kế, nên hiền thê tui băng bó gót chân kỹ lưỡng và hằng ngày vẫn tiếp tục đi mua bán bo bo như thường lệ.

   

Có lần bị nhiễm trùng đường tiểu hơi nặng, phải vào nằm pḥng cấp cứu tại bịnh viện Trưng Vương; nhưng suốt đêm đó tui cứ cảm thấy người bức rức, trằn trọc không ngủ được. Sáng ra mới biết chân ḿnh đă bị kiến lửa bu đen nghẹt tới không nh́n thấy mười ngón, chúng cắn nát bấy hai bàn chân suốt cả đêm mà cũng không hay biết! Tui phải xin xuất viện gấp; lại phải ngâm chân bằng nước lá me thêm vài tháng!

    

Lúc ở bịnh viện Trưng Vương, nằm cạnh giường có một bịnh nhân người vùng Cát Lái, Thủ Đức; ông bị vết mổ làm độc v́ chỉ khâu bị đứt, nên phải nhập viện xin giải phẫu lại. Để có tiền mua chỉ may vết thương, con ông là em Toàn phải nhịn ăn tới mặt mày xanh xao, tay chân run rẫy, đi đứng không vững! Toàn cứ nằm co ro, cố ngủ để cho qua cơn đói.

 

Tui thấy em tới giờ ăn trưa mà sao cứ nằm hoài, nên hỏi thăm th́ biết Toàn là đứa con hiếu thảo, v́ tiền túi mang theo đóng cho nhà thương hết, mà không thể bỏ cha ở lại một ḿnh; nền đành ráng nhịn ăn đợi bác sĩ giải phẫu may lại vết thương cho cha.

 

Lúc ấy bà xă tui có đem theo bánh ú, tui lấy chia cho Toàn ăn. Em mừng rỡ, cám ơn rối rít, tay run run lột lá bánh ú bỏ vào miệng ăn ngấu nghiến trông thiệt ngon lành. Hôm sau v́ bị kiến cắn bàn chân nên tui xin xuất viện, hiền thê tui lấy một ít tiền cho Toàn để làm lộ phí. Tuy số tiền và bánh ú nhỏ nhoi gọi là chia xẻ miếng khi đói bằng gói khi no, nhưng nửa tháng sau, Toàn đă ḍ được tới nhà để cám ơn và báo tin ba Toàn đă qua đời v́ nhập viện trễ quá (tại nhà nghèo cần phải xoay tiền nhập viện, thuốc men thiếu nên vết thương làm độc!).

    

Chính v́ nghĩ đến trường hợp này, nên khi mới qua Mỹ, mặc dù tôi lănh trợ cấp SSI và bà xă cùng cháu lớn đi làm nhà hàng, mỗi đêm được $20. 00; nhưng cứ vài tháng là chúng tui gởi về cho những người nghèo ở Việt Nam (mỗi lần $300 chia cho 10 nhà, chính anh Quách Vĩnh Trường, anh Triệu k19, và Lâm Sanh Kim đă đem phân phối giùm). Có lần anh Triệu cũng được 1 phần là $30, vợ anh dùng làm vốn nhỏ và ra chợ Tân B́nh mua bán áo quần cũ; nhưng bị bọn Cách mạng 30 t́m cớ tịch thu, c̣n nhốt 2 mẹ con vào tù (con anh Triệu mới sanh cần sửa mẹ mà cũng nếm mùi ở tù!!)

   

Ra ngoài tui mới biết có rất nhiều cách để làm ra tiền, khi mua bo bo ở một nhà nọ, thấy có một cái máy xay bột (hoặc bo bo) đang trùm kỹ. Tui hỏi mua với giá rẻ, v́ họ muốn trống chỗ nên bán đổ bán tháo cho xong. Khi đem máy về nhà, bà xă nói không có thợ làm sao xài được; tui trùm mền bỏ đó, chờ thời cơ sẽ có dịp dùng. Thấy mấy người Tàu từ Kampuchia tị nạn ở xóm Tân Việt gần nhà, hằng ngày họ chở từng bao bo bo đi xay thành bột, bán cho các ḷ bánh ḿ thùng phuy. Tui liền mướn cháu Đại, khoảng 15 tuổi, đứng máy để xay bo bo gia công. May quá, máy này xay ra bột nhiễn nên được người ta thích, từ đó máy chạy suốt ngày đêm, bà xă tôi rất phấn khởi.

   

Từ việc xay gia công, tui nghĩ ra ư mua bo bo về xay để bán bột trực tiếp cho các ḷ thùng phuy như ḷ Tám Cảnh ở Ngă Tư Bảy Hiền, Chú Thanh ở Bà Quẹo. Cháu Vinh phụ trách lo thu mua bo bo và liên lạc với những người Khmer tị nạn như ông Si, thằng Ḥa, A hắc, . . .

   

Cháu Vinh là con của Thượng Sĩ Luông, Thường Vụ của tui khi c̣n ở Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù. Sau ngày mất nước, thấy không ai săn sóc và gia đ́nh đơn chiếc, cháu Hảo đă đi vùng Kinh Tế Mới, ông cho con gái 15 tuổi là cháu Vinh qua phụ với nhà tui mà không đ̣i hỏi lương bổng (nhưng chúng tôi vẫn trả tiền và tăng dần mỗi khi làm ăn thăng tiến). Thượng sĩ Luông là người rất trung thành, ông đă bị thương lủng mấy khúc ruột rất tội nghiệp. Các con ông người nào cũng ngoan và giỏi.

   

Một hôm ba của Tiêu Anh, bạn học Trần Trung Tiên, đến chơi. Ông là chủ ḷ bánh ḿ ở Trung Chánh, trước kia chuyên cung cấp bánh ḿ cho Trung tâm Huấn luyện Quang Trung. Ông thấy có máy xay bột nên đưa ư kiến, mua xác khoai ḿ về xay nhiễn cung cấp cho các ḷ bánh ḿ làm bột áo thoa tay.

  

Thấy thị trường bo bo hơi hạn chế, người Khmer tị nạn cũng làm máy xay gia công. Do đó tui đi Hố Nai mua xác ḿ về xay bán cho các ḷ thùng phuy, rồi tui đem mẫu cho các ḷ bánh ḿ lớn. Lúc đầu thiệt khó khăn, v́ họ có người bỏ mối sẵn. Nhưng tui không nản chí, cố gắng t́m xác ḿ trắng, rồi cứ đi ṿng ṿng từ các ḷ Nguyễn Huệ, . . . ở Phú Nhuận, tới ḷ Đồng Khánh ở Chợ Lớn. Lúc đầu được một ḷ, rồi hai, ba, bốn, . . . dần dần hầu hết các ḷ ở Saigon đều là khách hàng của tui.

    

          c). Kinh Doanh phát triển.

 

V́ máy ở nhà quá nhỏ, nên tui phải vô Cầu Tre bao luôn nhà xưởng của ông Tám, họ lănh xay ngày đêm mới kịp giao đúng hẹn cho khách hàng. Nhà máy này khá lớn, nhưng v́ mới nên chỉ có hai người đặt xay gia công. Anh Hào th́ xay xương ḅ và trấu trộn cám cung cấp cho các tiệm bán thực phẩm gia súc; tui th́ cho chở từng xe vận tải xác ḿ cung cấp bởi anh Hùng, chủ thầu xác và bột khoai ḿ ở làng công giáo Hố Nai. Công nhân trong nhà máy ưa nói đùa:

“Xay xác ông Dưỡng xay xương ông Hào”!

 

Ngày nào tui cũng chạy theo xe Lam của chú Hoàng đi giao hàng khắp nơi. C̣n Cháu Vinh th́ đi theo xe ba bánh gắn máy của chú Hiền chở bột áo đi giao vùng khác (hai xe này bao chở mối thường xuyên cho tôi). Lúc này khách hàng nhiều mà bọn nhà máy quốc doanh làm việc không đàng hoàng, đôi khi sai hẹn, và họ c̣n định xay lén dành mối, đâm sau lưng khách hàng ḿnh (v́ chủ trương họ là bất chấp mọi thủ đoạn, miễn ḿnh có lợi là được rồi). Các nhà máy do người Hoa Kiều ở Chợ lớn th́ làm ăn rất có uy tín, nhưng họ đă có khách hàng sẵn nên không nhận thêm của tui được.

    

V́ thế để tự xay xác ḿ tại nhà, tui vô Chợ Lớn đặt cái máy xay to lớn, đường kính khoảng 8 tấc, mua Motor 25 Ngựa, dùng thùng phuy chẻ và tôn cũ làm vách.

 Nhà tui có sân rộng, bên cạnh là một lô đất trống (mỗi lô là 8x20 do Sư Đoàn Nhảy Dù cung cấp, trước kia đă mua được 1 lô, chỗ tui đang ở là xây cất trên lô của Đại úy Vị, đă nói ở Chương Ba). Hiền thê tui trồng cây ăn trái như ổi, mít, dừa, mảng cầu, đào lộn hột, . . Sau ngày Quốc hận, có lần bên Phường mượn sân trống đặt bàn làm thẻ cử tri; lúc đó Trưởng Ban An ninh, thấy bà Bảy là cô của y, đang ở nhà tui, nên sau này dễ chịu không cho người ḍm ngó kiểm tra ngầm nữa.

   

Bà Bảy là chủ nhà trọ cũ, bà rất thương tụi này, sau ngày mất nước bà hay tới thăm và ở chơi vài ngày; chúng tui thường cho tiền bà tiêu vặt. Lúc này hơi khá, con cháu của bà kẹt tiền, chúng tui sẵn sàng giúp đỡ. C̣n bà thượng sĩ Bạc v́ mấy đứa con trai đi nghĩa vụ, nên lúc kẹt cũng qua hỏi mượn, chúng tui không bao giờ do dự; v́ họ từng giúp đỡ gia đ́nh tôi nhiều phen. Ở Saigon chúng tui coi gia đ́nh bà Bạc, Bà Bảy, cụ Hoàn, anh Nhàn, Thượng sĩ Luông là những người bà con tốt. Hiền thê tui rất nể trọng những người nầy.

   

Nhà máy xay bột được dựng lên do những tay ngang, bà xă th́ lo tráng nền; Tâm, Thành, Thiện, và cháu Vinh phụ trách khiêng và trộn hồ. Nhằm đúng ngày chú Hùng ở Hố Nai tới thâu tiền xác ḿ, thấy thợ nhà làm lồi lơm nên ngứa mắt; anh xăn quần áo nhào vô phụ tráng nền.

 

Thế là nhà máy cũng xong, điện ba dây th́ câu nhờ với chị Hai (vợ của cố Trung tá Vinh, cựu Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Nhảy Dù). Bà xă tui may cái mùng chứa hơi bằng vải kaki trắng to giống như khinh khí cầu, rồi đóng thùng chứa bột bằng ván ép, không thua v́ thợ mộc. . . . mới học nghề! Cháu Vinh, Đại, Nhân, Tâm, và bà xă, . . . là những công nhân thường trực của “Nhà máy xay bột tư doanh” vừa mới dựng bảng hiệu Phát Lợi và khai trương này.

   

Mọi việc đều êm đẹp, bà xă tui vừa làm thợ mộc, thợ máy, thợ điện, và kiêm luôn thợ nấu ăn cùng quản lư tài chánh. Đàn bà mà, thấy tiền vô như nước, đếm hoài không biết chán, nên làm việc rất hăng, c̣n muốn mọc thêm nhiều cánh tay để “tăng gia sản xuất”. V́ khách hàng tới hối thường xuyên, nhiều khi phải làm suốt đêm để giữ đúng hẹn!

 

Xay bột dính đầy đầu mà cũng ham. Có lần v́ mưa dột ướt áo quần; Nhi, đang xay bột, đứng lên vén tóc, th́ tay ướt chạm nhằm dây điện, nàng bị giựt té cái rầm, ngă nguyên con trên sàn bột, thiệt nguy hiểm vô cùng!

Tui th́ lo chạy ṿng ngoài, lúc đi xa lộ đón mua bột và xác ḿ, chẳng may xe bị găy cốt gần rơi bánh sau. Cháu Thành (lúc đó được 8 tuổi) phải h́ hục đẩy xe từ bên kia dốc cầu xa lộ. Cầu này dài khoảng 1000 thước và dốc rất cao! Tội nghiệp cháu nhỏ tuổi ốm yếu mà phải đẩy chiếc xe cọc cạch nặng nề, tui th́ không thể xuống để xe nhẹ bớt phần nào! Đă vậy lại c̣n gặp thêm chuyện xui xẻo nữa chứ.

   

Số là khi Thành đang lo cặm cụi đẩy xe lên dốc, tới gần giữa cầu có cục đá to; tui vừa lo lách tránh, chưa kịp kêu th́ chân cháu đă vấp vào, làm ngón cái bị trúng chảy máu ṛng ṛng; mà Thành vẫn phải bậm môi, cắn răng nhịn đau tiếp tục đẩy.

V́ nếu ngừng th́ xe tuột dốc càng nguy hiểm thêm. Ḷng tui lúc ấy đau đớn đứt ruột! Cháu cứ để cho máu chảy và tiếp tục đẩy thêm gần 1 cây số tới phía bên này dốc cầu mới có chỗ sửa xe, và kiếm thuốc băng tạm vết thương!!!

 

Thiệt là tội nghiệp con hết sức, mới từng ấy tuổi đầu mà đă chịu nhiều đắng cay! Ở cái tuổi đó, đáng lẽ chỉ lo đi học và vui đùa, c̣n cháu th́ phải ngày đêm dầm mưa phơi nắng theo phụ giúp người cha tàn phế trôi nổi đó đây!

   

Lúc tui ra ngoài, bên lưng lúc nào cũng giấu một cái bóp nhét đầy tiền. Mỗi lần đi đâu đều có Thành theo phụ đẩy cho máy nổ khi xe khởi động.

 

Có lần ăn bún ở gần nhà Quách Vĩnh Trường trong Cư Xá Lữ Gia, tui kêu họ bưng 2 tô bún cho anh chị Trường. Hai cha cháu ăn uống ngoài đường ngoài xá, có bữa đi từ sáng tới chiều tối mới về tới nhà; v́ ngồi lâu nên một trái thận bị hư, coi như ngưng hoạt động.

 

Mỗi ngày tui có mời chú Tuyển tới châm cứu, v́ thận hư làm chân sưng và lở loét thiệt khó chịu, tối nằm ngủ chỉ nghiêng được một bên. Bây giờ bán bột áo và bo bo cũng khá, nhưng thấy các ḷ thùng phuy tiêu thụ bột ḿ rất nhiều; nên tui liên lạc với một vài chủ ḷ để trao đổi bột bo bo với bột ḿ.

 

Giai đoạn mua bán bột ḿ lúc đầu cũng gặp nhiều khó khăn, sau nhờ giữ uy tín nên các chủ ḷ giới thiệu cho nhau nên tui làm ăn càng ngày càng phát đạt.

  

Nhớ lại lần đầu muốn mua hai bao bột, O5h sáng, tui và cháu Vinh chạy lên Phú Nhuận canh ḷ vừa mở cửa để chồng tiền mua 2 bao bột (mỗi bao giá 2 ngàn đồng tương đương một lượng vàng). Lúc đó bà chủ tăng giá bất ngờ nên thiếu 100 đồng, tôi đ̣i thế chiếc xe đạp của cháu Vinh đang cỡi để về nhà lấy thêm tiền. Bà chủ ḷ không chịu, chỉ bán cho một bao, tui vừa chở bột về vừa tiếc rẻ và tủi hổ; nhưng chỉ nửa năm sau, chính bà chủ đó và nhiều chủ khác dám bán chịu cho tui mỗi lần một tấn (20 bao tương đương 20 cây vàng!).

   

Dần dần tui đă tạo được uy tín, lúc đầu có 1 ông chủ v́ kẹt bột dư trong ḷ lâu ngày chưa đem ra được (các ḷ thường làm bánh nhỏ hơn chút đỉnh ḥng có bột dư bán lén cho các ḷ thùng phuy, để kiếm chút cháo, v́ ḷ nào cũng bị quốc doanh). Sắp tới ngày kiểm kho, ông ta đang lính quưnh, th́ vừa đúng lúc tui đến giao bột áo; ông bảo đút xe Lam vô chở đám bột thặng dư đi bán giùm, giá bao nhiêu cũng được. Tui làm theo, chở bột đem giao cho vựa ở Chợ Vườn Chuối, và đợi vựa bán ra chút đỉnh mới đủ tiền trả tới 20 chục cây lận! Măi tới gần 23h đêm, tui mới đi tới nhà, để đem tiền tới giao lại cho chủ ḷ. Nửa đêm nghe tiếng gơ cửa, ông ta giựt ḿnh kinh sợ, chừng thấy hai chú cháu mới an tâm, đếm tiền xong ông ta nói: 

 

- Tại sao anh không để sáng đem lại cũng được?

- Đây là số hàng lớn, tui sợ ông lo suốt đêm. Thấy tui hiểu thấu tâm can, mặt ông vui vẻ và nói:

- Anh làm ăn rất có uy tín, tui sẽ giới thiệu các chủ ḷ khác.

 

V́ thấy tui không bắt chẹt và trả tiền bột cao giá hơn những người khác, nên lần nào có bột dư ông cũng đích thân lái Honda tới nhà gọi. Rồi các chủ ḷ khác nghe tiếng cũng lần lượt đến kiếm (trước kia tui phải đến từng ḷ bánh ḿ, bây giờ th́ các chủ ḷ đích thân đến nhà tui). Thế là việc bán bột c̣n thu lợi khá nhanh hơn xay xác ḿ nữa. Tiền vô ào ào, tháng nào tiêu chuẩn cũng phải sắm một cây vàng. Có tiền th́ nghĩ tới đi chui, tui cho cháu Tâm theo cậu Hai Lâm Ál; người lái tàu là Trịnh X Tiểu. Ra khơi được 3 ngày th́ gặp băo nên tấp vô và bị tóm ở Ḥn Khoai, Cà Mau.

   

Cháu Tâm trên thuyền cùng với cháu Vũ, con anh Hai Ál, rănh rỗi ra be thuyền nh́n nước biển và kể lúc ra khơi th́ gặp nước màu vàng, màu xanh, màu đen. Rồi đột nhiên thấy ngược lại màu đen, màu xanh, màu vàng, và đụng bờ bị bắt cả đám, tịch thu hết vàng bạc và đồ quí đem theo. Tội nghiệp Tâm lúc đó mới 10 tuổi đầu mà cũng nếm mùi tù, ăn cơm muối hơn một tháng. Tiểu bị tù vài năm và bị tịch thu nhà cửa! Sau này anh Hai Ál làm thêm một chuyến nữa, tôi lại bị mất hơn chục cây vàng mà cũng không xong, thôi đành t́m cách khác.

   

Lúc ấy nhân dịp năm Quốc tế người tàn tật, có diện cho xuất cảnh chữa bịnh, tui nhờ anh bạn tốt là cựu Thiếu tá Pḥng Ba SĐND tên Lâm Sanh Kim, k4 phụ TĐ nộp đơn thử.

 

Mặt khác vận động bạn bè ngoại quốc nhờ làm giấy bảo lănh USCC. Tiến hành như vậy giống như là nước lă mà khuấy nên hồ; v́ không có ai thân thuộc trong diện tứ thân phụ mẫu đang ở ngoại quốc như những người khác! Nhưng không hiểu sao ư chí tui tin tưởng và quyết tâm lo vụ này một cách nhứt quán.

   

          d). Kinh Doanh Thu Hẹp Lo Thủ Tục Xuất Ngoại.

    

Lúc ấy gia đ́nh D́ Sáu cũng được đi diện đoàn tụ (con lănh cha mẹ). Bà xă tui có nhờ bà kêu mấy em họ ở Mỹ làm cho giấy USCC, khoảng một năm sau th́ tui được một lượt tới 3 giấy USCC của Tuấn Anh, con bà D́; Hồng Nhàn, bạn học trước ở Đại đội Tiếp Liệu Dù; và Lê Tấn Huỳnh Long, BS TQLC (đă ṃn mỏi trông đợi gần 2 năm, bây giờ lại có một lúc ba người sẵn ḷng bảo lănh, khiến mọi người trong nhà đều mừng rỡ, hy vọng một ngày mai trời sẽ ngó lại)

 

Giống như những lần trước, từ nguồn tuyệt vọng, gia đ́nh tui cũng đă t́m được những điều mỹ măn ngoài tầm tưởng tượng.

   

Bấy giờ có một số sĩ quan ở tù được thả về, Lă quư Trang (3 năm), Nguyễn Thanh Nhàn (5 năm), Bác sĩ Tường, rồi tới Nguyễn văn Khen, Nguyễn Hiền Triết, Phạm Thái Hóa, Nguyễn văn Triệu, Ngô văn Nhị (em rể tôi), và đại tá Nguyễn thu Lương, . . . Những người sau này tù từ 8, 9 năm trở lên; như anh sáu Lương đă bị biệt giam và bị hăm dọa lên án tử h́nh nhiều lần v́ tánh khẳng khái, bất khuất mà các bạn tù chung đều khâm phục, thương mến.

 

Riêng Nhị vừa về là lo đi chui và bị bắt nhốt tại Bến Giá, Trà Vinh hơn một năm, đến khi bị ung thư ruột già mới được thả về chừng một tháng th́ chết, bỏ lại 4 đứa con c̣n nhỏ dại và hiền thê là em gái duy nhứt của tui phải chịu cảnh gà mái nuôi con, trong xă hội: “Nước trong leo lẻo cá đớp cá! Trời nắng chan chan người trói người!”   Nhị xuất thân K12 Thủ Đức, tánh t́nh rất hiền, 4 đứa con Nhị đều có cái miệng cười duyên dáng và hiền ḥa giống hệt Nhị.

 

Năm 1975, Nhị đi tù cải tạo th́ cháu lớn mới 7, 8 tuổi phải phụ bà ngoại trông coi của tiệm để cho mẹ chạy đôn chạy đáo vừa mua bổ hàng vừa lo thăm nuôi Nhị.

 

Nhứt là chuyến ra miền Bắc, em gái tôi phải mượn 1 lượng vàng mua đồ trên 120 kg kéo lê lết đem tới trại trong rừng sâu thiệt là cực khổ. Có lần tui vô Chợ Lớn mua bao đựng bột, thấy em tui vừa đi vưà chạy để mua sắm mặt mày bơ phờ thiệt tội nghiệp, vậy mà tối c̣n phải ngồi cầu thang giấu tiền vô ống chỉ rồi vừa ngồi quấn chỉ vừa ngủ gục! để sáng O4h thức dậy đi thăm nuôi Nhị ở Long Giao.

 

Nhưng trời cao cũng ngó lại, em tui được ông Ba ở chợ Kim Biên giúp đỡ trong một hội ngộ bất ngờ: số là 2 đứa con của Nhị được ông Ba cho bán hàng ở trước hiên nhà.

 

Ông nhiều lần thử nhưng các cháu lượm dây chuyền vàng và đồ quư đều trả lại, do đó ông thương t́nh giới thiệu nhiều mối bán sĩ và cho chứa đồ hẳn trong nhà. Nhờ địa điểm tốt và uy tín của ông Ba nên các cháu làm ăn mỗi ngày mỗi phát đạt, ông Ba tin và thương các cháu c̣n hơn con ruột. Bây giờ ông già yếu (trên 80) em tui cấp dưỡng và các cháu thường xuyên thăm viếng và châm sóc như ông ngoại ruột.     

 

Bán bột ḿ một thời gian th́ các chủ ḷ xuất ngoại dần, nên việc thu nhập chỉ c̣n một phần nhỏ, chúng tui lại có thêm nghề mới: làm bột năng. Tui mua khoai ḿ từ Hố Nai, Tây Ninh, . . . bà xă tui mướn người lột vỏ, xay nhiễn, bỏ vô bồng bột (bao vải), nhúng vào thau nước nhồi cho bột ḥa tan trong nước. C̣n bă ḿ th́ đổ ra thùng bán cho heo ăn, hoặc phơi khô xay nhiễn làm bột áo. Sáng ra đổ bỏ nước, lấy muỗng vớt lớp bột vàng (bột mủ) để riêng, c̣n lại bột trắng tinh th́ đổ ra phơi. Lúc trời mưa, tui sợ bột bị ướt thường la oé lên để mấy đứa bưng các nia bột vô nhà. Nhờ làm nghề này tui có thể nh́n mây đoán được trời sẽ mưa hay không!

   

Tui cũng làm đại lư thâu mua bột năng của bạn hàng từ Tây Ninh và Hố Nai. Các bạn hàng thiệt khôn lanh, lúc bột hiếm phải ra bến xe đón giành mua. Lúc vô mùa bột ứ động, họ đổ đại vô nhà mỗi ngày hàng tấn; làm tui phải lo t́m mối tiêu thụ trong Chợ Lớn, hoặc tới các ḷ làm bún tàu, bột bán, . . ở Cầu Tre. Nếu để lâu bột sẽ bị nổi mốc, coi như lỗ vốn. Tui cũng cho xay bột năng nhiễn và vô bao từng 10 kư lô, hằng ngày có ông Si, chú Biện đem xe đạp tới chở giao cho các sạp tạp hóa ở chợ, ḷ làm bánh Da Lợn, hoặc các hăng dệt để họ hồ bột.

  

 Ông Si là người Khmer gốc Hoa Kiều, lúc ở Miên ông đă nghe lời ngọt ngào của tụi du kích, nên có ủng hộ tiền của. Tới khi chiếm được miền Nam, vợ chồng tới gặp, họ làm bộ như xa lạ. Ông và những người Khmer tị nạn chửi rủa họ vô ơn bội nghĩa! Ông Si người ốm yếu  nhưng nhờ là người Tàu, làm ăn đàng hoàng nên cũng bỏ bột được nhiều mối. Ông lấy hàng trước chờ thu được tiền mới đưa tui.

    

Một hôm, vào năm 1982, ông và gia đ́nh định trở về Miên để t́m đường đi chui qua đường Thái Lan. Họ là dân bản xứ biết tiếng Khmer, nên cứ sống như dân du mục, đi dần tới gần biên giới. Rồi một ngày đẹp trời, cả gia đ́nh bắt đầu thực hiện kế hoạch. Họ ngày đêm băng rừng lội suối chạy vượt biên giới qua Thái Lan. Trước khi ra đi, bà vợ ngần ngại không muốn cho ông qua từ giă chúng tui; v́ c̣n kẹt một số bột chưa thâu tiền được để trả cho tui. Nhưng ông là người khẳng khái, tín nghĩa, chẳng lẽ bỏ đi không từ giă người đă đem công ăn việc làm cho ḿnh bấy lâu nay. Cuối cùng ông Si quyết định nói cho biết (thiệt ra nếu không nói tui cũng thông hiểu v́ vượt biên quan hệ tới nhiều sinh mạng, cần phải giữ bí mật tối đa).

   

Hiền thê tui làm tiệc tiễn đưa, trước khi đi ông ôm cứng tui như cảm động không muốn rời, rồi nhét vào túi cho tui một cọc tiền như để trả nợ; nhưng vợ chồng tui không lấy, v́ biết ông rất cần số tiền này.

 

Ông Si quả thiệt là một người biết trọng chữ tín, mấy năm trước, đang ở Cali, ông viết thơ về Việt Nam cho những người Khmer c̣n kẹt lại và hỏi thăm được số điện thoại. Ông mừng quá, vội gọi tui và nói muốn qua thăm, vài hôm sau ông bà mua ngay vé phi cơ. Khi gặp tui, mừng rỡ như t́m lại được bạn cố tri, bây giờ ông mập mạp giống x́ thẩu (ông chủ) như lúc c̣n bán tạp hóa ở Campuchia.

   

Sau ngày mất nước khoảng hai năm, anh cận vệ cũ của tui lúc c̣n ở Đại đội 91 Nhảy Dù là Nguyễn văn Năm, từ vùng Kinh Tế Mới xa xăm về thăm tui. Thầy tṛ lâu ngày gặp nhau mừng mừng tủi tủi, Năm kể lại sinh hoạt của gia đ́nh và anh em Tiểu đoàn 9 ở vùng kinh tế mới trong thời gian qua.

 

Năm và một vài bạn đă rủ nhau vô rừng cưa cây, cắt ra từng khúc để đun thành than, rồi dùng xe đạp thồ (chở) mỗi người trên trăm kư; vừa đạp trên đường nhựa, vừa dắt bộ trên đường đê để tránh trạm kiểm soát; đoạn đường dài từ G̣ Dầu tới Saigon (gần 100 cây số!). Đứa con trai đầu của Năm mới 12 tuổi mà cũng theo cha chở than đem lên Saigon, trên một  khoảng đường thiệt xa xăm, vất vả và đầy nguy hiểm. Nguy hiểm v́ du kích thường chận đường tịch thu bắt bớ hăm dọa đánh đập giống như những tên cướp cạn.     Lúc bấy giờ chẳng khác nào chế độ sứ quân thời xưa, du kích mỗi làng xă thường sách súng ra đường đón xe đ̣ cướp bóc, xét chận lấy những đồ bạn hàng giấu (đem về Saigon bán chui) như thịt heo, gà, vịt, gạo, . . . để đưa về cho vợ con chúng và chia nhau nhậu nhẹt hả hê! Mặc cho những người dân v́ muốn kiếm tiền nuôi sống gia đ́nh, nên phải độn đồ lậu vào đùi, vào bụng giả đàn bà có thai, nhưng không qua được những tay cướp bóc chuyên nghiệp này.

 

Chỉ v́ muốn bảo vệ 2 bao than xương máu, nên khi đi gặp du kích gọi lại bất ngờ, Năm biết tránh không khỏi, cũng ráng chạy trong tuyệt vọng, để mong giữ được gia tài sống chết vô cùng cần thiết cho vợ yếu (bịnh tim nặng) con thơ, đang chờ tiền để mua thuốc men và sữa cho đứa bé sơ sinh nhỏ dại. Lúc đó dù biết không chạy nhanh bằng đạn bay, nhưng anh đă quẩn trí, chỉ nghĩ đến vợ con, nếu không có tiền th́ họ sẽ nguy khốn, anh không c̣n nghĩ tới bản thân ḿnh nữa, chỉ cần họ được b́nh an th́ anh có chết cũng không màng!

   

Rồi một viên đạn thù xuyên qua vai anh, do tên du kích cướp cạn chỉ v́ bao than mà coi sinh mạng người dân như cỏ rác! Sau hơn một tháng trị thương, gia đ́nh bị sạch vốn. Hiền thê anh là con của Trung sĩ Chu cũng là thuộc cấp cũ của tui, đă khuyên Năm bỏ nghề nguy hiểm nầy và thử lên Saigon kiếm tui cầu cứu. Nhưng Năm ngần ngại v́ ông thầy ḿnh đang bịnh tật, dưới chế độ này không biết có tồn tại được hay không. Sẵn dịp c̣n yếu chưa làm ǵ được, anh định đi thăm “sếp” cũ một chuyến, c̣n việc nhờ cậy chắc không có hy vọng ǵ.

   

Cha con dùng hai chiếc xe đạp, đem theo mấy củ khoai ḿ, khoai lang, và cặp gà định đem lên Sài g̣n cứu đói thầy ḿnh. Năm không ngờ tui như vậy mà cũng c̣n kiếm ăn được, suốt hai ngày ăn uống chuyện tṛ mà không dám mở miệng, cuối cùng anh bạo dạn nói:  - Anh Tư, tôi muốn mượn anh chị 150 ngàn (lúc đó tương đương nửa lượng vàng) để làm vốn buôn bán, nếu anh kẹt vốn th́ để tui xoay sở cách khác.

   

Gia đ́nh tui lúc đó cũng mới bắt đầu kiếm ăn được, mặc dù chưa có dư nhiều, nhưng ở chung lâu ngày, biết Năm là người tự trọng, cần cù chịu khó, trước kia lúc đi hành quân, Năm lo cho tui từng miếng chỗ ngủ, nay chỉ v́ hoàn cảnh đặc biệt mới mở miệng nhờ ḿnh, ở thời buổi khó khăn chung của cả dân chúng miền Nam, và của gia đ́nh binh sĩ trong thể chế cũ nói riêng.

   

Tui bàn với bà xă nhín chút tiền cho anh mượn, nhà tui bằng ḷng, Năm vô cùng mừng rỡ. Chỉ một năm sau, anh đă hoàn trả đủ số tiền và c̣n đem cho tui một quày chuối to lớn, do chính tay anh trồng được. Bây giờ vợ Năm buôn bán gạo lẻ ở chợ trong khu kinh tế mới, Năm lo trồng trọt và thỉnh thoảng ra chợ G̣ Dầu Hạ chở gạo và hàng tạp hóa về cho vợ bán. Mỗi khi đi Saigon, Năm đều ghé nhà thăm, tui thường theo dơi và rất hài ḷng v́ với sự chịu khó cần cù, gia đ́nh anh mỗi ngày mỗi ổn định hơn.    

 

Sau khi nộp đơn xin xuất ngoại chữa bịnh, khoảng hai năm th́ được gọi bổ túc hồ sơ, tui và cháu Thành tới Nguyển Du, v́ bục tam cấp cao nên họ cho Thành (mới 10 tuổi) vô đại diện. Họ bảo tui về làm tờ tường tŕnh bản thân. Họ kêu tới kêu lui nhiều lần ư muốn làm khó dễ đủ điều, nhưng tui vẫn kiên tŕ; rồi họ bác đơn, tui khiếu nại. Họ làm khó dễ, bảo chỉ cho một ḿnh tui đi chữa binh thôi. Tôi ưng chịu.

   

Quách Vĩnh Trường và tui qua sở Ngoại Vụ khiếu nại, ở đây gặp cô thơ kư (có lẽ là nhân viên thể chế cũ) rất tử tế và nhơn hậu, lúc nào cũng ưu tiên cho người tàn phế. Thấy tui và Trường đến đưa đơn khiếu nại, cô từ trong pḥng bước ra ngoài nhận đơn và vui vẻ trả lời những câu thắc mắc của hai đứa. Một tháng sau chỗ làm thủ tục xuất cảnh thông báo gia đ́nh tui đă được chấp thuận và đợi ngày gọi đi phỏng vấn. Khi ngồi ở văn pḥng đợi phái đoàn Hoa kỳ kêu vào, các cô thơ kư coi hồ sơ nói: - Chú không ở diện tứ thân phụ mẩu trực thuộc (v́ người bảo lănh là em bạn d́ bên vợ!), chắc không đi được đâu!

(Phi trường Trà Vinh có trại tên Châu Ngọc Sanh)

 

Vợ chồng tui nghe vậy th́ vô cùng chán nản! Lúc vào bên trong, sau khi hỏi lung tung, viên Trưởng Phái Đoàn Phỏng vấn Mỹ lật danh sách hồ sơ lớn bằng cái bàn, t́m luôn hai cuốn cũng không thấy tên trong sổ. Ông ta lắc đầu, nhân dịp cô thông dịch ra ngoài lấy đồ ǵ đó, nhanh tay tôi đưa cho ông tờ tường tŕnh về thành tích 10 năm ở quân ngũ, trong đó có ghi hai huy chương Mỹ và huy chương Việt Nam như Đệ Ngũ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương, chiến thương bội tinh, nhành dương liễu, sao vàng, sao bạc, . . . cùng h́nh ảnh sĩ quan Cố Vấn Hoa Kỳ mà Đại tá Nguyễn Thu Lương đă cho tui. Đọc xong, ông bảo chúng tui ra ngoài, chờ gọi về Thái Lan kêu họ dùng “Số quân”, hỏi ban hồ sơ ở Mỹ coi tui có những huy chương Hoa Kỳ như đă ghi trong tờ giấy mà tui vừa mới đưa không? Chừng một tiếng đồng hồ sau ông gọi trở vô và hỏi: -Anh bị thương lật xe có được quy trách công vụ không? Tui vừa gật đầu vừa đưa ông ta tờ copy giấy chứng thực (khi hành quân dù bị tai nạn cũng được quy trách công vụ)

 

Chắc ông ta đă nhận được điện thoại xác nhận cái huy chương With “V” Devive kèm nhành lá liễu mà Cố Vấn Trưởng TĐ9ND đă gắn cho tui trong trận chiến vùng Ven Đô. Ông đích thân đứng dậy bắt tay và rót trà mời tui, uống ly nước trà mà ḷng tui cảm thấy mát dạ làm sao, v́ từ đây tương lai ba đứa con tui sẽ sáng sủa, bản thân tui sẽ không c̣n nghe những luận điệu điêu ngoa trên đài truyền thanh, truyền h́nh, và nhất là những cô búi tóc Phường thỉnh thoảng cứ lại nhà dạy đời, nói móc họng: “Hai chân anh không đi được chứ đầu óc c̣n vướng nhiều tư tưởng Mỹ Ngụy lắm!”.  Khi đi khám sức khỏe bác sĩ thấy phim quang tuyến có nhiều mảnh đạn c̣n trong ḿnh tui, ông ta hỏi: “Trong này có nhiều mảnh đạn, lúc trước anh đă đi quân đội phải không?”

   

Tui sợ bị làm khó dễ nên nói dối:  - Đây là những mảnh bị pháo kích từ Tết Mậu Thân!

   

Nh́n tướng tôi một lúc, ông ta hỏi gằn: “Anh cứ nói thiệt t́nh đi.”

- Phải, lúc trước tôi có đi lính.

- Lính ǵ, nh́n tướng anh có vẻ không phải lính trơn?

- Tui là cựu Thiếu tá Nhảy Dù.

- Như vậy mới được chứ, anh đừng lo tui sẽ phê tốt cho.

- Cám ơn Bác sĩ!

 

 

(Mời xem tiếp P2.)

Trương Dưỡng

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính