Chuyện Buồn Người Vợ Tù

 

Trần Thị Thanh Minh

 

 

Một ngôi biệt thự nhỏ khiêm tốn cuối đường Hoàng Diệu, Đà Lạt. Phía sau là vườn hồng và có thể nh́n thấy trường Couvent thấp thoáng aó xanh lam của các nữ sinh nội trú.  Đó là “ngôi nhà hạnh phúc” của chúng tôi cũng là tên do các bạn yêu thương đặt cho nó.  Chúng tôi sống êm đềm hạnh phúc với ba đứa con thật dễ thương và một em bé c̣n đang trong bụng mẹ. Căn nhà lúc nào cũng rộn ră vui tươi nhất là Tết đến c̣n thêm “những con bà phước” (tức là những sỹ quan Vơ bị không được về Sài G̣n ăn Tết v́ cấm trại) tất cả đều quay quần vui chơi như chính nhà của họ, bởi v́ các anh thích cái không khí thoải mái và thân thương nhất mà chúng tôi đă thật thân t́nh đón tiếp.  Nếu cuộc sống ấy được kéo dài th́ thật đúng là chúng tôi đă có một thiên đàng hạnh phúc thật sự rồi.  Nhưng đâu có ai ngờ rằng Buôn Mê Thuột mất, mọi nơi di tản về Sài G̣n.  Gia đ́nh tôi cũng trong làn sóng kinh hoàng đó.  Tôi và các con được ông bà nội các cháu yêu thương đùm bọc, và tôi đă sinh cháu bé ngay tháng tư năm đó.  Cũng v́ thế mà chồng tôi không thể ra đi một ḿnh.  Anh đă lên được tàu nhưng anh lại nhảy xuống bơi về. Nếu anh biết trở về rồi lại phải xa mẹ con tôi vĩnh viễn chắc anh đă chẳng quay về.  Đó cũng chính là nỗi đau ray rứt, niềm ân hận khôn nguôi của chúng tôi.

 

Tháng sáu anh đă đi tŕnh diện học tập cải tạo, với hy vọng sau mười ngày sẽ trở về ….. Không có chồng tôi ở nhà, tôi rất sợ hăi và buồn lo.  Anh đă cho tôi một đời sống ổn định vững vàng.  Nay không có anh tôi không thể làm ǵ hết, tôi đă mất hết, mất cả những ước mơ toan tính của chúng tôi cho con cái sau này.  Tôi không c̣n ǵ hết ngay cả mạng sống của tôi cũng rất mong manh v́ mới sanh cháu c̣n quá nhỏ.  Rất may nhờ sự lo xa của bà nội các cháu nên mẹ con tôi c̣n được ăn cơm thêm vài tháng.  Toàn dân ở thành phố đă phải ăn khoai lang, khoai ḿ và bo bo.  Lương thực bán theo sổ gia đ́nh, hoàn toàn không có gạo. Khi nào được mua bột ḿ th́ sung sướng lắm.  V́ có thể đổi bột lấy bánh ḿ (món ăn ngon nhất lúc bấy giờ) Nhờ có bánh ḿ tôi có thêm việc làm để kiếm được vài đồng đi chợ.  Tôi phải lo làm nước sốt (muối + cà chua) thái cà rốt củ cải dưa leo làm đồ chua mang ra trước cửa bán từ 4 giờ sáng.

 

Ngày tháng cứ qua đi với buồn lo nặng trĩu v́ 4 đứa con cần ăn để sống.  Tôi như con chong chóng hết bán bánh tôm bánh cuốn tại đường Duy Tân lại quay ra bún ốc bún riêu ở đường Gia Long.  Nhưng cũng không được bao lâu v́ “chiến dịch dẹp ḷng lề đường”.   Tôi lại phải chạy thuốc tây, ai cần bán cần mua là có tôi làm chân chạy. Tôi c̣n nhớ một lần có người cần mua 5 chai nước biển, mà tôi chỉ có đủ vốn cho 2 chai, thế là tôi phải chạy làm 3 lần từ chợ Vườn Chuối qua chợ Bà Chiểu mới giao đủ hàng được.    Đạp xe đạp muốn kiệt sức v́ mồ hôi và nước mắt nhoè nhoẹt đến không thấy đường đi.  Nhiều lúc đầu óc tôi muốn vỡ tung ra v́ những tính tóan cho cuộc mưu sinh, v́ những thay đổi khôn lường của xă hội chủ nghĩa và nhất là v́ những hoang mang lo sợ cho chồng tôi đă bao lâu biệt vô âm tín.  Ban đêm, nh́n những khuôn mặt ngây thơ của các con tôi trong giấc ngủ say sưa; tôi yên tâm v́ tôi vẫn c̣n có chúng ở bên tôi.  Nhưng chồng tôi nay ở đâu?  Đói no ấm lạnh ra sao?  Anh là người nặng t́nh chồng vợ, yêu qúy các con, liệu anh có yên giấc được không? Hay cũng như tôi thao thức suốt đêm thâu với bao nỗi lo âu tắc nghẽn không phương giải thoát.  Chỉ có lúc này tôi mới được tự do khóc nức nở để vơi bớt nỗi buồn lo nặng trĩu bên ḿnh.  Tôi không dám khóc trước mặt các con v́ chúng sẽ ̣a khóc theo ngay khi thấy tôi chảy nước mắt.

 

Măi gần một năm sau tôi mới được tin chồng tôi dù chẳng phải là tin vui. Anh đang bị một cơn sốt rét ác tính và thiếu thức ăn trầm trọng có thể chết bất cứ lúc nào. Mong ước của anh là muốn biết tin tức của mẹ con tôi trước khi anh nhắm mắt. Trời đất như sụp đổ dưới chân tôi. Tôi lạy van người đưa tin xin chỉ đường cho tôi đi gặp anh.

 

Sau cuộc hành tŕnh khá vất vả, lội suối băng rừng, những con vắt cắn tôi chảy máu tùm lum mà tôi không hề biết sợ biết đau. Quần áo ướt hết, gió lạnh làm tôi rét run, xanh mét. Tới nơi chưa kịp mừng th́ đă bị cán bộ trưởng trại tra hỏi lâu ơi là lâu. Cuối cùng v́ “cảm phục ḷng yêu chồng của phụ nữ miền Nam”. Họ cho tôi gặp mặt.  V́ chồng tôi đau nặng nên anh em cùng “láng” cho mắc vơng ở giữa c̣n các anh mắc vơng chung quanh để che gió lạnh. Thật sự th́ có che được bao nhiêu đâu v́ mỗi khi gió tạt vào th́ tất cả đều lănh gió cát đầy cả mặt mũi. Tôi chết đứng khi thấy chồng tôi chỉ c̣n là bộ xương sơn đen, hàm răng trắng nhô ra v́ đôi má đă hóp lại, cặp mắt lơm sâu không c̣n thần sắc. Tôi khóc lặng lẽ nước mắt như mưa nhào tới bên anh, ôm lấy tay anh, c̣n anh th́ không c̣n đủ sức để nắm tay tôi nữa. Thời gian như ngừng lại, các anh xung quanh cũng yên lặng ngậm ngùi.

 

Tôi không thể nào quên được đêm hôm ấy, trước đống lửa bập bùng, mấy chục khuôn mặt mà tôi chắc trước kia đẹp đẽ oai phong lắm trong bộ quân phục VNCH, bây giờ th́ chao ơi là tội nghiệp, họ chỉ c̣n là những bộ xương người biết cử động. Thương người, thương ḿnh tôi khóc đến đau nhức cả hai mắt. Chồng tôi th́ nằm thoi thóp, miệng vẫn cố cười, chắc anh đă măn nguyện? Đứa con gái út của anh mới tám tháng nên hăy c̣n bú mẹ. Hai bầu sữa căng nhức, tôi chợt tỉnh táo để xin lỗi mọi người ra xa để vắt sữa. Tôi bưng chén sữa bỏ thêm hai muỗng đường rồi đổ cho chồng tôi từng muỗng một.

 

Chồng tôi có lẽ nhờ vào mấy chén sữa của tôi mà tới sáng anh đă tỉnh hẳn. Mấy anh bạn cứ chọc anh là uống sữa tiên nên mới được như vậy.

 

Sau chuyến đi ấy tôi ngă bệnh cả tuần lễ. Vừa khỏi là tôi lại sửa soạn đi một chuyến nưă v́ tôi biết chồng tôi rất cần thuốc men và tẩm bổ. Hai chân anh ấy không mang nổi tấm thân gầy chỉ c̣n 40 kư lô. Nỗi buồn lo này chưa hết, lại đến nỗi buồn v́ con bé không thèm sữa mẹ nữa. Thế là tôi mất thêm niềm hạnh phúc vô biên là dược ôm con, ngắm cái miệng xinh xinh của con như gắn liền với bầu vú mẹ để dược mẹ chuyền cho gịng sữa chan chứa yêu thương.  Các cụ đă nói là khi dang cho con bú th́ không được cho ai sữa của ḿnh kẻo trẻ sẽ chê sữa mẹ. Tôi cũng tin như thế nhưng biết làm sao hơn khi thấy chồng tôi cũng đang cần sức sống.

 

Muốn có thuốc men và đồ ăn cho chồng th́ phải lo tiền nhiều hơn.  Bán ngoài đường bị đuổi, tôi soay ra làm bánh croissant ở nhà.  Tối nào tôi cũng nhờ mấy cậu hàng xóm sang nhào bột hộ, xong bắt bánh rồi chờ bột nở cho vào ḷ.  Lúc đầu tôi tự làm, tự bán nhưng sau tôi để bà con lối xóm lấy bánh đi bán các nơi, bán nhiều th́ lời nhiều.  Nếu không bán hết th́ tôi lấy lại để nướng khô bán cho các chị đi thăm nuôi.    Vậy mà cũng chẳng được bao lâu th́ hết vốn v́ bánh th́ vẫn phải làm mà tiền th́ không thu về được v́ ai cũng nghèo nên dù bánh bán hết cũng không đủ tiền mua gạo nên lại khất tôi lần sau, rồi lần sau nữa ….Dù sao tôi vẫn phải cố xoay sở cho có đủ tiền đi thăm nuôi chồng.

 

Tới năm 1977, chồng tôi bị “biên chế” chuyển từ Kà Tum qua Trại An Dưỡng Biên Ḥa. Lúc đó chúng tôi mới được đi thăm chính thức.  Cán bộ trong trại đă gửi giấy về nhà, cho phép thân nhân đi thăm sau gần hai năm biệt tăm tin tức.  Có được đặc ân này là do những xôn xao, bất măn của gia đ́nh tù nhân cải tạo.  Sau lần thăm đó, anh bị đưa ra Bắc lúc nào tôi không hay.

 

Thời gian này là khủng khiếp nhất v́ họ đổi anh đi lung tung, nào Lào Cai, nào Yên Bái, nào Lạng Sơn!  Vừa được tin ở nơi này th́ đă  bị chuyển đi nơi khác, không có cách nào thăm nuôi được.  Tôi phải mua chui những tấm phiếu để được phép gửi quà, mỗi gói chỉ có 3 kg thôi, địa chỉ phải viết theo ám số.  Tôi phải làm thịt kho với cả chai nước mắm, hy vọng mặn th́ để được lâu v́ không biết bao giờ gói quà mới tới tay người nhận.  Trông thấy tôi kho thịt, các con tôi nói: “Bố sướng quá, có nhiều đồ ăn ngon hơn tụi ḿnh!”  C̣n ǵ đau khổ và xót xa hơn cho tôi khi nghe thấy câu so sánh thơ ngây này!!

 

Cuối cùng tôi cũng t́m ra được họ chuyển anh về Vinh-Nghệ Tĩnh.  Tôi và chị anh vội ra thăm.  V́ không có giấy phép nên chúng tôi phải đi tàu với giá chợ đen, nghĩa là đi từng chặng một và giá vé gấp đôi.  Tới nơi tôi sẽ vào báo công an là tôi bị mất cắp nên mất luôn cả giấy phép thăm nuôi và xin họ chứng nhận cho.  Phải có giấy đó tôi mới được phép vào trại thăm chồng tôi.  Tôi đă phải nói dối mới thoát qua ải lính gác.

 

Vừa xuống tàu là tôi đă hoảng sợ v́ dân địa phương đứng chỉ chỏ bọn tôi: “Vợ ngụy ḱa!”  Cũng may họ không ném đá chúng tôi như đă ném đá các anh khi phải chuyển ra Bắc.  Chúng tôi tới nơi là chiều thứ Bảy, họ không kiếm được chồng tôi.  Qua ngày Chủ Nhật tôi vẫn c̣n hy vọng gặp mặt v́ họ nói anh đi xa làm việc, đă cho gọi rồi, thứ hai sẽ gặp.  Đêm Chủ Nhật, tôi nằm mê thấy anh về báo cho tôi biết là anh đă chết!?  Anh linh thiêng như vậy chăng?  Tôi tỉnh dậy khóc quá trời làm thức giấc mọi người.  Các chị đi thăm nuôi an ủi tôi “ Sinh dữ tử lành, yên chí đi, mai được gặp”.  Tôi không thể nào tả được hết nỗi buồn lo, bối rối của tôi đêm đó và thức luôn đến sáng, không thể nào ngủ lại được.  Mờ mờ sáng tôi đă dậy.  Mọi người lo nấu cơm v́ nghe nói ở đó không bao giờ tù nhân có cơm ăn.  Trời sáng hẳn.  Dưới lớp sương mù của núi, từ trên nh́n xuống, tôi thấy từng toán người đi ra lao động.  Tôi như người mộng du, như có ai đẩy tới, tôi từ từ đi xuống chân núi, nơi cấm các thân nhân tù cải tạo tới gần. 

 

Toán 1 đi qua, rồi toán 2, rồi toán 3, tôi nghe thấy tiếng gọi “Chị Chung, chị Minh” và tiếp theo tiếng ai la to: “anh Chung chết rồi!”  Tôi ngă xuống và không c̣n biết ǵ nữa.

 

Khi tỉnh lại, tôi thấy tay chân bị trói vào chơng tre, y sĩ đang chích thêm hai mũi thuốc khoẻ.  Tôi nghe kể là tôi đă ngất đi và họ khiêng tôi lên núi cả tiếng đồng hồ qua rồi. Họ phải trói tôi lại v́ sợ tôi vật vă làm gẫy kim chích.  Tôi nói tôi không sao, cởi trói ra cho tôi.  Sau cơn choáng quá đau tôi lại trở thành b́nh tĩnh quá làm họ cũng phát hoảng luôn.  Tôi yêu cầu ǵ th́ họ cũng cho phép hết. Tôi xin được gặp bạn bè thân của chồng tôi, trao lại cho các anh hơn 120 kí lô quà tôi mang đến. Ai cần ǵ th́ lấy rồi viết thư về nhà nhắn vợ con đem tiền trả tôi.  Cuối cùng cán bộ mang đến cho tôi một cái túi xách tay, trong chả có ǵ ngoài bộ bà ba cũ mèm của chồng tôi.  Họ cho tôi một chén cơm hẩm, hôi mùi gạo mốc, trên có quả trứng luộc dể mang ra mộ. Trẻ em theo sau để nh́n bát cơm, trầm trồ: “cơm ḱa! cơm ḱa!”  tôi di như  một thây ma sống, mắt mở to mà nào có nh́n thấy ǵ, tai cũng chẳng nghe thấy ǵ, bước thấp bước cao theo hai người d́u tôi đi, tim như đau buốt, nước mắt chảy không ngừng.  Khi ra tới mộ tôi lại ngất đi một lần nữa. Giá mà khi ấy tôi dược đi luôn theo chồng tôi th́ hay biết mấy!

 

Tôi trở về nhà với một thân xác ră rời, một đầu óc rỗng không, biếng ăn, mất ngủ, chả nói năng ǵ, mắt mở to mà chả nh́n thấy ǵ. Tôi đă phải ra, vào nhà thương Chợ Quán mấy lần.  Rất may cho tôi và các con tôi là lúc đó tôi có một cô em và một người bạn lo lắng và chăm sóc mẹ con tôi tận t́nh.

 

Vài tháng sau, tôi nhận được 2 thùng quà trả lại với hang chữ “Người nhận đă chết.  Trại yêu cầu hoàn.”  Ra bưu điện lĩnh 2 gói quà xong, vừa ra đến cửa tôi lại ngất đi. Rất may có anh bạn hàng xóm đạp xe xích lô đang chờ để chở tôi về nhà.  Tới bữa ăn, nh́n bốn đứa con ngồi ăn ngon lành với tóp mỡ ngào đường và nước mắm, quà của bố trả lại, nước mắt tôi lại chảy như mưa.  Rồi tới gần cả năm sau, phường trưởng mới cử đại diện đến chia buồn và đưa cho tôi biên bản “phạm nhân chết”.  Nhờ mảnh giấy này mà mẹ con tôi mới được đi Mỹ theo diện HO. (Tôi vẫn c̣n giữ mảnh giấy này, xin gửi kèm theo đây để mọi người biết “tội ác” của chồng tôi!)  Can tội: Giảng viên tâm lư chiến xă hội học Trường Vơ Bị Quốc Gia Đà lạt.  Án phạt tù: 3 năm; nhưng khi chết đă 3 năm 7 tháng.  Nếu họ đúng lời chắc chồng tôi không thể chết.

 

Thế là xong là tuyệt vọng cả đời.  Lúc đó tôi sống cũng như chết rồi, nhưng v́ bốn đứa con nhỏ, chúng đâu có tội t́nh ǵ. Bên nội bên ngoại ai cũng muốn nuôi dùm 1, 2 đứa nhưng tôi không thể nào chịu được nếu để 1 đứa con xa tôi.  T́nh thương con đă thắng cái “điên” của tôi để lo lắng cho chúng nhưng với phường khóm th́ tôi thật là một “mụ điên dữ dằn”.  Tôi không chịu đi họp tổ họp phường ǵ cả. Công an khu vực tới tận nhà bắt đi họp.  Tôi nói: “Người mà các anh thấy có tội là chồng tôi thi anh đă chết rồi, tôi và 4 con nhỏ không c̣n ǵ phải họp với hành nữa”.

 

Lúc trước ḿnh ngu nên cứ tin là phải họp hành cho tốt th́ họ xét cho chồng về sớm.  Nay tôi không c̣n ǵ để sợ nữa th́ họ lại để tôi được yên thân.

 

Tôi bắt đâu tính chuyện vượt biên, mấy mẹ con dắt díu nhau đi t́m đất hứa không biết bao nhiêu lần.  Hết đi từ Nhà Bè, Vũng Tàu, Mỹ Tho đến Rạch Giá, Sóc Trăng nhưng đều không thoát, ở tù cũng mấy lần.  Xuống ghe ra biển lại thấy hối hận v́ thương con, chưa thấy thoát mà chỉ thấy chết tới nơi.  Bị bắt tù đày th́ lại càng hối hận hơn v́ các con không có thức ăn, nước uống chỉ có một ca nhỏ.  Trong trại chỉ có 1 cái ao tù, ăn cũng đó mà tắm giặt cùng nơi.  Bẩn thỉu không thể tả cho nên trẻ con không bị đau bụng ỉa chảy th́ cũng ghẻ lỡ ghê hồn.  Tôi sợ quá đến không dám nghĩ đến đi nữa.  Phải cậy nhờ xin đi dạy lại dù biết là nhà giáo chỉ húp cháo thôi.  Nhưng dù sao đi nữa cũng c̣n có chỗ để mua “nhu yếu phẩm” và được “thầu” để bán quà cho học tṛ trong trường.

 

Thời gian này tạm ổn định, lo cho các con tới trường cũng phải chạy chọt v́ “nhất thân, nh́ thế” của xă hội lúc bấy giờ.  Phận ḿnh th́ xong rồi, bạn bè tôi c̣n rất nhiều có chồng dang tù tội. Thỉnh thoảng chúng tôi họp nhau để “lá rách nát đùm lá tả tơi” đứa nào có thứ ǵ cho tù ăn được th́ mang tới gom lại để chia cho những bạn sắp đi thăm.  Trong cái t́nh đó tôi lại thấy được nhiều sự đau khổ mà người vợ tù phải chịu đựng nhục nhằn mà không ai có thể chia xẻ với họ.  Chẳng hạn như một chuyện rất thật của một người bạn thân của tôi, chúng tôi đă chia sẻ từng bó rau muống từng chén nước mắm “muối + nước màu”  cho các con ăn.  Từng viên đường thẻ để mang vào tù cho chồng.  Chỗ chồng bạn tôi ở lại có “nhà hạnh phúc” và các anh tù phải làm việc thật tốt th́ cán bộ mới cho phép gặp vợ tại đó.  Lẽ dĩ nhiên chồng bạn tôi làm khổ sai cật lực để được ân huệ đó.  Chị cũng là một cô giáo, sống rất đạo dức và thành tín, thương chồng vô cùng, nhưng khi vào thăm đă thấy “nhà hạnh phúc” có mấy cái trơng tre và mấy anh cán bộ ngồi canh.  Chị đă không thể “cho anh” và điều này đă khiến anh nổi giận nghĩ là chị đă có “ai khác” ngoài đời.  Chị đă bị anh chửi bới tơi bời c̣n ǵ thê thảm hơn nữa không?  Thời gian đă qua tôi hy vọng anh đă thông cảm với chị về cái “không thể cho anh” đó.  Mặc dù giờ th́ anh chị cũng đă xa nhau, thật là một điều rất đáng tiếc. 

 

Lại thêm một cô bạn láng giềng, may mắn có ông chồng được thả về sau bảy năm tù tội.  Những tháng ngày trong lao tù khiến con người cũng thay đổi nhiều lắm.  Dễ nóng giận và mặc cảm đầy ḿnh.  Một hôm cô bạn tôi được nhà nước cho mua một khúc vải may quần với giá rẻ dành cho các công nhân viên nhà nước.  Cô mang về khoe nói là bán đi sẽ lời được sáu ngàn đồng.  Ông chồng lại muốn may để mặc v́ ông ta thấy cũng cần phải có một cái quần mới.  Bạn tôi ngần ngại nửa muốn cho chồng may, nửa muốn bán đi để thêm tư tiền lo cho gia đ́nh nên nói với chồng: “Khúc vải này sáu ngàn lận đó anh.”  Chưa nói dứt lời là bạn tôi bị một cái tát tai choáng váng mặt mày, sự việc xảy ra quá sức tưởng tượng của mọi người.  Anh chồng rất hối hận về hành động vũ phu của ḿnh; tuy nhiên anh vẫn đổ lỗi cho bạn tôi cái tội “coi cái quần hơn chồng”.  Đó lại là một trong muôn ngàn cảnh ngộ trớ trêu cuả vợ tù cải tạo.  

 

Thắm thoát đă qua 7 năm lúc này cuộc sống mấy mẹ con tôi đă dễ thở v́ chị em bạn bè ở ngoại quốc đă bắt đầu gửi tiền về cứu trợ. Tôi được mẹ chồng cho theo đi để bốc mộ Anh.  Tâm trạng tôi thật rối bời và lo sợ liệu bốc lên có phải là Anh không hay lại là mồ của ai khác?!!  Trên đường đi cũng không kém gian nan cực khổ như khi đi thăm nuôi tại Kà Tum.  Tôi phải gửi mẹ tôi tại Nghệ Tĩnh để cùng với người cháu đi vào K3 chỗ họ chôn xác Anh.  Đường th́ xa, đất sét trơn trượt tôi nghĩ đành phải bỏ cuộc v́ hai bàn chân đă sưng rát.  Tôi ngồi xuống bên đường vừa khóc vừa van vái “anh có linh thiêng xin phù hộ cho em tới nơi để mang anh về gần em và các con”.  Đang gục đầu khấn nguyện th́ nghe tiếng xe lọc cọc do một con trâu kéo, trên là các cán bộ đi công tác về.  Họ tra hỏi và tôi “thành khẩn khai báo” nên họ cho tôi lên xe quá giang tới tận nơi.  Tôi nhờ người cháu trở lại để đón Mẹ tôi trở vào trại ngày hôm sau để bốc mộ.  Tôi không thể nào quên cái cảm giác hăi hùng khi được anh cán bộ đưa lên núi, chỗ đó là chồ để các thân nhân tù lên ở tạm qua đêm v́ không có xe về ngay.  Khổ cho tôi là khi tôi tới nơi th́ chỉ có một ḿnh, có sợ cũng chẳng làm sao hơn được tôi đành cầu cứu nơi các đấng thiêng liêng, Chúa Mẹ, Phật Quan Âm Bồ Tát cứu khổ cứu nạn, cầu chồng tôi che chở bảo vệ tôi.  Cứ mở mắt to mà van xin cầu nguyện đâu có dám nhắm mắt mặc dù đă quá mệt mỏi.  Rất may trời bắt đầu tờ mờ sáng là mẹ tôi đă đến nơi.  Chúng tôi được cán bộ hướng dẫn đi t́m mộ, may mắn tôi gặp được anh cán bộ người miền Nam rất tốt bụng đă cho phép chúng tôi được gặp những người đă chôn chồng tôi lúc trước.  Lần đầu tiên trong cuộc đời, tôi mới biết bốc mộ là ǵ và nhất là thấu hiểu được câu nói “cát bụi trở về với cát bụi”. Thịt da đă tan vào với cát, chỉ c̣n bộ xương trắng mà các bạn anh đă từ từ cầm lên từng cái đầu, xương vai, xương cổ ống tay ống chân, và ngay cả những đốt xương nhỏ họ cũng ṃ t́m cho đủ. Một sợi dây làm bằng giây thép nhỏ, cái mặt làm bằng kính máy bay có h́nh dáng 2 người đứng bên nhau đă được anh bạn lấy lên trao cho tôi và nói chính chồng tôi đă làm để tặng cho tôi khi nào tôi lên thăm gặp mặt.  Anh đă phải cất giấu bao ngày v́ nếu cán bộ thấy là bị tịch thu ngay.  Rất may là có mẹ tôi và người cháu lo lắng lấy rượu rửa xương rồi quấn vào vải bỏ văo trong một cái bị to để chúng tôi mang về. C̣n tôi ngồi chết cứng với nước mắt rơi sầu tủi. Xót thương anh.

 

Trên đường về mới gặp toán người thăm nuôi. Gặp cô bạn cũng đi với mẹ già, đang chuyển quà từng khúc một, tôi chạy lại đỡ một tay. Khi tôi dắt bà cụ qua một người tù đang cuốc đất dưới ruộng, ngẩn nh́n và khẻ gọi mẹ. Tôi quay lại giúp cô bạn c̣n vài giỏ đồ ăn, chúng tôi vừa đi ngang th́ lại nghe anh ta gọi “em Liễu”. Cô bạn tôi nghe tên ngoảnh mặt lại nh́n và lại bỏ đi luôn. Đem đồ lên đặt cùng chỗ với bà cụ chúng tôi lại quay lại trở lại để đem nốt chỗ c̣n lại, tôi bảo cô bạn, có lẽ anh tù kia quen Liễu đấy. Ta thấy anh gọi Mẹ lại kêu tên Liễu đó. Chạm mặt nhau rồi mà Liễu vẫn không nhận ra. Tới khi anh ta quên cả sợ cán bộ chồm lên đường kêu Liễu. Anh dây, Tuấn đây mà. Lúc đó bà cụ cũng đă trở lại và nhận ra con, cụ khóc ̣a ôm lấy anh tù, c̣n Liễu cũng khóc nhưng la “không phải anh mà” không phải anh đâu. Người chồng yêu quư v́ tháng năm đói khổ phải ăn khoai ḿ nên mặt anh ta biến dạng v́ quai hàm bạnh ra và nhựa độc của khoai ḿ làm cho tất cả tù nhân đều có cái mặt vuông gần giống nhau cả.  Tôi cũng không cầm được nước mắt lại nghĩ rằng chắc chồng tôi c̣n sống th́ mặt mũi cũng chỉ như vậy mà thôi.

 

Từ trại về chỉ có độc nhất một chiếc xe đ̣, mọi người ngồi chật cứng trong xe, c̣n có nhiều người phải đứng bám vào cửa xe rất là nguy hiểm.  Mẹ con tôi về đến ga Vinh là trời đă tối, lại ôm cồng kềnh một cái bị hài cốt của chồng tôi.  Ngồi sân ga đợi tàu rất là nguy hiểm v́ mẹ con tôi nhơ ngác với xứ lạ quê người.  Mẹ tôi phải lấy giây buộc cái bị và cuốn quanh người.  Chỉ sợ lỡ mất đi th́ khổ lắm.  Tôi hồi hộp sợ hăi c̣n hơn khi đi vượt biên nữa.  Tôi đánh liều vào nhà nghỉ mát của nhân viên xe lửa. Sau một lúc nói chuyện gây cảm t́nh và nhờ có “thủ tục đầu tiên” ( xin trả tiền trước) nên mẹ con tôi được vào tạm trú qua đêm yên lành.  Sáng hôm sau cũng nhờ có ông quản lư nhà nghỉ đó mà chúng tôi được lên tàu ở trong toa xe của các nhân viên đi nghỉ mát.  Tôi phải tin tưởng là chúng tôi đă có ơn trên che chở nên đă mang thoát được bộ xương của chồng tôi về đến nơi đến chốn.  V́ nếu không được ở trong xe đó chắc chắn chúng tôi không thể thoát khỏi xự khám xét trên tàu mà nếu họ phát giác ra là có xương người là lập tức đuổi chúng tôi xuống giữa rừng hoặc quăng xuơng đi.  Giờ đây lâu lâu tôi lại có cơn ác mộng gặp lại cái cảnh mà công an đi sục sạo trên tàu, bắt mở tất cả mọi thứ để khám xét là tôi hét lên bật giậy mồ hôi ướt đẫm người.  Sau đó lại nằm xuống với nước mắt trào ra không thể ngăn nổi v́ nhớ thương anh và tủi phận ḿnh đơn độc.

 

Hiện tại th́ chồng tôi đă được yên nghỉ tại nghĩa trang Thiên Chúa Giáo ở B́nh Dương.  Nhưng cũng không biết được bao lâu nữa v́ họ c̣n tính dẹp cả nghĩa trang mặc dù đó là đất tư mà gia đ́nh tôi đă phải mua bằng những cây vàng lúc họ dẹp nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi ngay trong thành phố Saigon.

 

Bốn mẹ con tôi xuống phi trường Dulles vào một buổi tối mưa tầm tả của tháng 6 năm 1994.  Được gia đ́nh cô em ra đón, tôi mừng quá nhưng vẫn chưa hết lo sợ, không biết đây là thật hay mơ.  Nỗi ám ảnh bị bốc đi vùng kinh tế mới và sự không nói có, có nói không của nhà nước công sản đă khiến tôi mất hết niềm tin.  Tôi chỉ c̣n biết cầu Đức Mẹ ban cho tôi một phép lạ.

 

Chúng tôi cố gắng học hỏi để hoà nhập vào cuộc sống mới ở Mỹ.  Nay các con tôi đă lớn, đă thành đạt và rất hiếu thảo.  Chúng hết ḷng lo lắng, chăm sóc tôi.  Tôi thật măn nguyện, nhưng tôi biết tôi không thể ôm giữ chúng măi được.  Chúng phải có cuộc sống riêng, hạnh phúc riêng.  Dù biết vậy, nhưng mỗi khi chúng vắng nhà, c̣n lại một ḿnh tôi, tôi lại thấy sợ hăi.  Những năm tháng khổ cực, hăi hùng của thời dĩ văng lại kéo đến ám ảnh tôi.  H́nh ảnh chồng tôi lúc oai hùng, mạnh mẽ trong bộ quân phục, lúc rách nát, tả tơi, thoi thóp trên trơng tre lại chập chờn quanh tôi.  Tôi đă th́ thầm với anh: “ Đợi em đi cùng!”  Vâng, tôi ước mong được sớm ra đi b́nh yên dể được xum họp với chồng tôi.  Chúng tôi chỉ mới được hưởng hạnh phúc gia d́nh có 4 năm 5 tháng.  Tôi chắc chồng tôi cũng nuối tiếc như tôi và đang chờ tôi đi với anh.  Chúng tôi phải nối tiếp lại những ngày hạnh phúc ngắn ngủi xa xưa.  Tôi không thể sống măi trong cô đơn để run sợ trước những ám ảnh của dĩ văng và những nhung nhớ khôn nguôi người chồng mà tôi măi măi yêu thương như buổi đầu gặp gỡ!! 

 

  

Trần Thị Thanh Minh

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính