Kư ức một thời tù “Cải tạo”

 

Trần Nhật Kim

 

 

 

 

Tôi không mấy tin tưởng vào các tin đồn sẽ có đợt thả tù nhân dịp những ngày kỷ niệm “gọi là quan trọng”, như ngày 19/8 hoặc 2/9 của cộng sản Việt Nam và ngày kỷ niệm tháng 10 của cộng sản Nga.  Tuy nhiên, tin đồn cũng làm nhiều người mất ăn mất ngủ.


Một người bạn cùng pḥng với tôi được bạn hữu cho hay kỳ thả tù này sẽ có tên anh, v́ nghe nói anh có người họ hàng dây mơ rễ má, làm chức vụ quan trọng ǵ đó ngoài Hà Nội, một chỗ dựa khiến anh tin tưởng.  Trông anh vui hẳn lên, niềm vui đă làm anh thay đổi.  Anh cho bạn các thứ đồ dùng, chia một phần thức ăn, v́ khi được về anh cũng không cần những thứ này.  Thời gian trôi qua, đến ngày lễ lớn không có đợt nào về, niềm thất vọng tác động mạnh, khiến anh x́u xuống như một người mang bệnh nặng.


Tin đồn thả tù lần này xuất hiện từ đầu tháng 8.  Mọi người nghĩ đến ngày 19 tháng 8, kỷ niệm “Cách mạng mùa Thu” của đảng CSVN.  Không khí vui nhộn ngày một lan rộng, một hiện tượng tâm lư v́ trông đợi lâu ngày.  Theo kinh nghiệm những người miền Bắc, 6 năm không về sẽ phải đợi thời điểm 9 năm và như thế kéo dài sự chờ đợi “3 năm” vào lần kế tiếp.  Người ta ví “án lệnh 3 năm tập trung cải tạo” như một sợi giây thung kéo dài vô tận.


Ngày lễ 19 tháng 8 qua đi, vẫn không có một dấu hiệu nào xẩy ra.  Tin đồn lại hướng về ngày 2 tháng 9.


Một ngày sau khi đi lao động về, anh Đèo Văn Tsé nói riêng với tôi:


 - Cán bộ cho tôi hay có đợt tha vào dịp lễ này.


Tôi tin lời anh Tsé, một người “Dân Tộc” miền Bắc.  Tính anh hiền lành và thẳng thắng nên được cán bộ tin tưởng, nhưng tôi vẫn hỏi anh:


 - Anh có nghe rơ không.  Cán bộ nói là ngày nào?


 - Tôi có hỏi nhưng cán bộ chỉ nói tới đó.


Tôi bảo anh Tsé:


 - Ngày mai đi lao động, anh hỏi lại cán bộ là trong danh sách đợt tha này có tên anh không?


Ngày hôm sau anh Tsé cho tôi hay:


 - Tôi đă hỏi lại và cán bộ cho biết đợt tha này có tên tôi.  Cán bộ c̣n nói Chuẩn úy Ḥa phụ trách mua vé tàu.


Tôi nghĩ tin đồn lần này có thể tin tưởng phần nào v́ chính cán bộ quen anh Tsé nói.  Tuy nhiên, tôi bảo anh Tsé:


 - Anh nói có quen cán bộ Ḥa, nên đi hỏi cho chắc ăn.


Đối với tôi h́nh ảnh “được tha” rất mơ hồ.  Tôi nhớ tới ngày lănh gói quà 3 Kg đầu tiên từ ngày tôi ra Bắc mà vợ tôi gửi qua đường bưu điện.  Khi Thiếu úy Lăng gọi tên tôi lên lănh quà, có sự hiện diện của Đại úy Bông, Trại Phó.  Thấy tôi, Đại úy Bông hỏi:


 - Anh Kim đi lănh quà phải không?


 - Thưa vâng.


 - Anh có nhận được quà thường xuyên không?


Tôi tự nhủ, mới từ trại Quyết Tiến (Cổng Trời, Hà Giang) chân ướt chân ráo về trại này làm ǵ có phiếu gửi quà.  Trong mấy năm nay, v́ di chuyển bất thường nên gia đ́nh tôi cũng không biết tôi đang ở đâu.  Khi về trại này, nhờ bạn có gia đ́nh tới thăm nuôi nhắn tin nên vợ tôi mới biết tôi ở đây.  Không hiểu vợ tôi lấy phiếu gửi quà ở đâu, hay nàng mua chợ đen tại khu Bưu điện Sài G̣n như lời đồn.  Tôi chậm răi trả lời:


 - Mấy năm đi cải tạo, đây là lần đầu tiên tôi nhận được quà.


Đại úy Bông đột nhiên đổi giọng với vẻ mặt giận giữ:


 - Gia đ́nh anh gửi quà cho anh nhiều vào, anh ăn cho khỏe để chống lại nhà nước.


Tôi im lặng mỉm cười.  Qua khung cửa sổ, bên ngoài tấm vách ngăn, hai anh Tô Tứ Hướng và Nguyễn Khắc Linh đang đợi đến lượt vào lănh quà, đă nghe rơ câu Trại Phó nói.  Tôi nghe thấy hai bạn nói nhỏ: “Chuyến này Kim thê thảm rồi, bị trại Phó ghim th́ khó mà sống yên thân."  Tôi quay nh́n ra ngoài, thấy anh Hướng dơ cao ngón tay cái.


Dưới sự chứng kiến của trại Phó, gói quà của tôi trong tay cán bộ Lăng đă trở thành một mớ xà bần.  Ngay ống thuốc đánh răng cũng bị hắn tháo phần đáy, lấy chiếc đũa tre ngoáy bên trong, không thấy ǵ, hắn liệng ống kem vào gói quà.  Bánh thuốc lào hiệu 3 số 8 cũng bị xé nhỏ.   Hắn nghi ngờ trong gói quà của tôi có dấu những thứ trại cấm, như tiền hay tài liệu vo tṛn trong thức ăn.  Hắn đổ lọ thuốc B1 trên tấm giấy, v́ viên thuốc quá nhỏ nên tha không đập vỡ.  Dù sao, gói quà đến với tôi thật đúng lúc.  Tôi đang ở trong t́nh trạng hạn hán đợi mưa, như cây khô chờ từng giọt nước.  Phần thịt trên người đă để lại trên trại Cổng Trời, thân thể tôi chỉ c̣n da bọc xương…


Tin đồn ngày một rơ.  Một số anh em cũng được cán bộ cho hay có đợt tha vào dịp lễ này.  Tôi cũng chỉ biết vậy, không mấy hứng khởi, v́ hồ sơ của tôi đă ghi đầy đủ nhận xét của những trại tôi đi qua.  Từ trại Ty lên Thành, với hàng chữ lớn “CIA” thêm nhiều dấu hỏi in đậm bằng bút ch́ mầu đỏ, viết bên lề bản lấy cung, đến các trại miền Bắc, cả về “lao động: xấu lẫn kém”, kèm thêm h́nh ảnh một tên “Phản động, chống  cách mạng và nhà nước cộng sản.”


Vào một buổi sáng đầu tháng 10, trước giờ lao động, chúng tôi được lệnh tập họp dưới sân trại.  Khi Ban giáo dục của trại đến, một cán bộ đứng trước hàng chúng tôi nói lớn:


 “Tôi gọi tên người nào, người đó đứng lên bước sang bên xếp hàng.  Các anh có tên trong đợt tha kỳ này về pḥng thu xếp đồ dùng cá nhân, sẽ được chỉ định chỗ ở sau."


Hắn cầm tờ giấy đánh máy đọc tên 34 người.  Các anh Tô Tứ Hướng, Nguyễn Ngọc Liên và anh Nguyễn Văn Thành cùng pḥng 5 với tôi có tên trong danh sách về đợt này.  Một số tên khác được gọi tiếp.  Tôi ngỡ ngàng khi nghe đọc tên ḿnh.  Tôi chưa kịp có phản ứng, th́ người bạn ngồi bên cạnh vỗ nhẹ lưng tôi, nhắc: “có tên anh”.  Tôi đứng lên theo các bạn được gọi tên trước ngồi theo hàng bên cạnh các đội đi lao động.  Trong danh sách có 34 tên nhưng chỉ có 32 người thuộc trại Thanh Cẩm, c̣n hai tên khác nghe lạ hoắc.  Măi sau này tôi mới biết có 2 người thuộc trại Thanh Cẩm được về kỳ này cho đủ số 34, nhưng bị đưa lầm tên sang trại khác và 2 người thuộc trại khác lại có tên trong danh sách chúng tôi.


Chúng tôi chuyển lên “khu kiên giam”, sẽ ở đây ít ngày để đợi tàu về miền Nam.


Khi lên khu kiên giam, anh Hướng nhắc lại chuyện cũ:


 - Kể cũng lạ, khi rời trại Nam Hà, trại thưởng công cho anh ở căn nhà mới vài giờ v́ anh đă đổ mồ hôi hoàn chỉnh, để có chỗ cho anh em từ Hoàng Liên Sơn chuyển tới, c̣n bây giờ, anh lại được lên khu kiên giam ở vài ngày trước khi về.


Khi tới trại này, tôi và anh Hướng “góp bữa ăn chung” và bây giờ chúng tôi lại về cùng một chuyến tàu.  Tất cả 32 anh em chúng tôi chia nhau chỗ nằm trên khu kiên giam, nơi mà 2 năm trước đội 16 của chúng tôi chịu trách nhiệm hoàn tất mái bằng với xi-măng cốt sắt.


Đứng trên khu kiên giam nh́n xuống, hai dăy nhà hai bên và cổng gác ôm trọn khoảng sân rộng.  Ở giữa sân, căn hội trường, biểu tượng uy quyền của chính sách nhà nước, chiếm một khoảnh đất rộng gần phía khu kiên giam, mái dốc đứng như căn nhà Rông của người Thượng vùng Cao Nguyên Trung Phần, mà tôi và anh Trương Văn Tuyên (Quốc Gia Hành Chánh) lănh phần lợp lại mái tranh đầu hồi chỉ c̣n trơ xương tre.  Hội trường lâu ngày không c̣n xử dụng, mái tranh xơ xác, tả tơi như cặp cánh gà chọi sau một lần thua trận.  Tôi thường nói đùa với các bạn, nh́n cảnh tiêu điều của căn hội trường chẳng khác nào chính sách của chế độ này.

 
Phía dưới, gần khu nhà bếp, một giếng nước cung cấp nước uống cho trại, tạm ngưng không xử dụng v́ nước đục ngầu do đất bùn lọt qua khe hở của thành giếng.  Tôi và hai bạn Phan Công Tôn, Lê Ngọc Thạch được chỉ định sửa lại chỗ hở nơi tiếp giáp hai ống xi măng thành giếng.


Tôi và anh Lê Ngọc Thạch đứng trên, dùng giây kéo ống xi măng để anh Phan Công Tôn ở dưới giếng điều chỉnh hai ṿng ống thành giếng.  Hai chúng tôi cố sức kéo ống xi-măng để không gây nguy hiểm cho bạn ở dưới.  Ống xi-măng quá nặng trong lúc sức khỏe chúng tôi ngày một suy sụp, khiến phần xương sống dưới thắt lưng của tôi rêm nhức.  Từ đó, cơn đau hành hạ tôi ngày đêm nhất là vào mùa Đông giá lạnh, lưu lại như một kỷ niệm khó quên của thời “tù cải tạo”.


Từ cổng trại, vượt qua con đường nhỏ chắn ngang, gịng sông Mă nằm sâu phía dưới, nước phù sa đục ngầu, cuồn cuộn như bóng ngựa phi.


Nhớ lại chuyện cũ, v́ t́nh h́nh chiến sự ngày một nghiêm trọng tại các tỉnh vùng biên giới phía Bắc, chúng tôi rời trại Quyết Tiến chuyển về đây.  Chúng tôi xa dần vùng đất chết Cổng Trời, rũ bỏ được nỗi ám ảnh bỏ xác trên “đồi Bà Then”.  Tôi thoát được nơi rừng xanh núi biếc quanh năm sương phủ của vùng biên giới, mà cái đói cái rét và lao động khổ sai đă nhận ch́m ước vọng của đời sống cũng như nhân cách một con người.  Như một vết chém khó lành in sâu trong tiềm thức, thường ẩn hiện trong giấc ngủ trằn trọc về khuya.


Hậu quả của “đói, rét, bệnh tật” nhất là hoàn cảnh đời sống đă biến đổi một con người, luôn ám ảnh tâm trí của tôi.  Tôi nhớ măi nét mặt của Cẩn, một tù nhân h́nh sự miền Bắc với án trung thân khổ sai v́ can tội trộm cướp giết người.  Hắn đói đến nỗi, vào một ngày lao động, trông trước trông sau khi thấy cán bộ vơ trang quay nh́n hướng khác, hắn lấy một nắm rau muống xanh non cao hơn một gang tay vừa tưới phân chuồng, chỉ kịp giũ bỏ phần nào nước tưới và gịi bọ c̣n bám trên lá rau, cho vào miệng nhai.  Tôi nh́n rơ những vệt nước mầu xanh ứa ra hai mép, vội bảo hắn:


 - Cháu ăn như vậy rất nguy hiểm cho sức khỏe.


Hắn không trả lời tôi ngay v́ mắc kẹt nắm rau trong miệng.  Một lát sau hắn mới nói:


 - Bác ơi! Chết no c̣n hơn chết đói.


Tôi hiểu ư câu hắn nói, dù chỉ là một câu đơn giản nhưng lại là một điệp khúc được người tù h́nh sự miền Bắc thuộc nằm ḷng:


 Sống no c̣n hơn sống đói,

 Sống đói c̣n hơn chết no,

 Chết no c̣n hơn chết đói.


“Bóp miệng túm dạ dầy” vốn là chính sách độc trị hàng đầu của CSVN, nên “đói rét” và “lao động khổ sai” được tận dụng, đă hủy diệt cả về thể xác lẫn ư chí đấu tranh của một dân tộc, đẩy con người xuống hàng súc vật.  Với bản chất ngu dốt, tàn bạo, đă biến đổi thành phần cầm quyền trở lên mất tính người.


Chúng tôi thoát khỏi vùng đất chết Cổng Trời.  Về đây, trại Thanh Cẩm với nắng ấm, khí hậu ôn ḥa bên gịng sông Mă, tinh thần trở lên phấn chấn dễ chịu hơn, gạt bỏ được phần nào h́nh ảnh đen tối trước đây.  Tôi sống ở trại này đă 4 năm với nhiều kỷ niệm.  Nhóm Quyết Tiến chúng tôi có 48 người, khi chuyển về đây được đưa vào căn nhà mang số 5, căn nhà cao nhất dẫy về phía bên trái, sát với khu kỷ luật.


Chúng tôi được lập đội, mang tên đội 16, đội “xây dựng nhẹ”.  Đội “xây dựng” được gọi là “nhẹ” v́ gồm những tay mơ, chưa một lần cầm đục cầm tràng.  Cả đội chỉ có vài cái quốc cái xẻng và một chiếc cưa tay nhỏ.  Một đội mà người nào người nấy như những bộ xương biết đi, thân xác tả tơi như những con “c̣ ma” gặp ngày mưa băo, v́ phần thịt trên cơ thể đă để lại trại Cổng Trời.


Các bạn trong trại ưu ái đặt cho đội của tôi danh xưng “Đại Đội Trừng Giới”, những con người sống sót từ trại Quyết Tiến - Hà Giang nằm sát biên giới Việt - Trung, một trại tù được mệnh danh là “Trại kỷ luật số 1 của Bộ công an Hà Nội” với 4 năm cầm cờ đỏ.


Sau vài ngày ổn định chỗ nằm, một số anh em trong nhóm Quyết Tiến đi kỷ luật, trong đó có các vị Linh Mục.  Có phải đây là một hành động dằn mặt những người mới tới, hay trại muốn ngăn ngừa hành động bất trị của chúng tôi có thể lây lan trong trại.  Đến lượt Nguyễn Tiến Đạt, một người anh em trẻ nhất trong nhóm, đă cùng tôi dắt díu nhau từ trại Ty lên Thành rồi chuyển ra các trại miền Bắc, cũng vừa lên khu kỷ luật.


Chúng tôi chưa có công việc nào gọi là ra hồn, vẫn chỉ làm vệ sinh trong khuôn viên trại.  Vào một buổi lao động, một cán bộ trẻ đi qua, thấy anh Nguyễn Đức Khuân đeo kính cận, hắn gọi anh tới gần, nói lớn: 


  - Tại sao anh đeo kính khi lao động? 

 
Khuân trả lời hắn:


 - Tôi cận thị nên phải đeo kính.  Tôi đă đi qua nhiều trại trước khi tới đây, chưa có cán bộ nào thắc mắc tôi đeo kính khi lao động.


Hắn bực tức trước câu trả lời của Khuân.  Mọi người dừng tay chờ xem hành động của tên cán bộ.  Có tiếng nói trong đám anh em:


 “Nó ngu thật, cận mà không cho đeo kính th́ khác ǵ mù."


Hắn nghe rơ câu nói, quắc mắt nh́n về phía anh em như t́m người vừa buông lời sỉ nhục.  Hắn quay qua Khuân, quát lớn:


 - Đưa kính đây.


Khuân đưa kính cho hắn.  Hắn cầm kính ném xuống đất, đè gót giầy lên rồi bỏ đi.  Cặp gọng kính như cặp cánh gà vặn ngược trước khi cắt tiết, một mắt kính đă rời ra khỏi khung tṛng.  Khuân như kẻ mù, nhất là sau thời gian dài bị hành hạ, cùm xích trong pḥng tối, cái đói và cái khổ cùng cực đă làm đôi mắt anh ngày càng tăm tối.  Anh cận nặng nên không nh́n rơ h́nh ảnh trước mắt.  Mọi người đều tức giận. 


Sau vụ của Khuân, không khí sinh hoạt của đội 16 căng thẳng hơn trước.  Trong một buổi sinh hoạt hàng tuần, anh Lê Văn Khương (Chín Khương, ṭng sự tại trại giam Côn Sơn) đưa lời phản đối hành động của cán bộ trại.  Anh bảo anh thư kư buổi họp:


 - Xin anh ghi rơ và đầy đủ lời phát biểu của tôi.


Mọi người chưa biết anh nói ǵ, nhưng nét mặt anh đầy vẻ bất b́nh.  Anh nói tiếp:


 - Từ sau ngày miền Nam bị xâm chiếm và trong suốt thời gian đi tù tại các trại từ Nam ra Bắc, tôi xác định một điều, chế độ cộng sản là một chế độ vô nhân đạo, tước bỏ quyền sống của con người.  Tôi không bao giờ chấp nhận và không thể sống chung với chế độ bạo tàn này.


Anh thư kư ngưng viết, nh́n anh Chín như thầm hỏi anh có ư định thay đổi lời vừa phát biểu không.  Anh Chín quay qua anh thư kư nhắc:


 - Xin anh ghi lời tôi phát biểu đầy đủ.


Anh thư kư vẫn chưa ghi vào biên bản, quay nh́n anh em trong pḥng như ḍ hỏi, để xem có lời nào can ngăn.  Cả pḥng vẫn im lặng như tán thưởng.  Bất chợt, phút giây căng thẳng vụt biến mất, trả lại không khí vui tươi cho mọi người.  Anh thư kư nh́n các bạn mỉm cười.  Tập thể “Đại Đội Trừng Giới” đă vượt qua nhiều thử thách, “48 người” vẫn chỉ là một.


Buổi họp vẫn sôi động.  Đến lượt anh Ninh Vệ Vũ dơ tay xin phát biểu, mọi người im lặng chờ nghe.  Vũ nói:


 - Tôi quyết tâm.  Thà chết không chấp nhận chế độ cộng sản.  Một chế độ hủy diệt quyền sống của con người…


Tôi nh́n Vũ bắt gặp một nụ cười.  Anh vẫn như ngày nào, hồi c̣n ở trại Phan Đăng Lưu, Sài G̣n.  Ra vào pḥng kỷ luật như cơm bữa.  Anh trải qua mọi kiểu cùm xích, từ xích chân xích tay trong pḥng tối, đến xích thành xâu người tại pḥng 7 khu A.  Tôi nh́n anh Chín Khương đến Vũ, nét mặt họ thật cương quyết.  Tôi cảm phục họ, những người bạn cùng chung một chiếc thuyền, có chung bầu tâm huyết.


Mấy ngày sau, anh Chín Khương đi “làm việc”.  Khi đội lao động về, chỗ nằm của anh Chín trống trơn.  Anh đă ra khỏi pḥng.  Anh Chín Khương không có trên khu kỷ luật, mọi người đều hiểu  anh bị chuyển trại.  Mấy năm sau này, anh Nguyễn Tường Ánh (con ông Hoàng Đạo) cho hay, anh Chín Khương chuyển về trại Nam Hà (Xă Ba Sao, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam Ninh), là trại đầu tiên tôi tới khi ra Bắc.  Anh Chín Khương trở lên ngơ ngác, không nhớ điều ǵ.  Tôi liên tưởng tới chính sách “tẩy năo” mà chúng tôi đang được “học tập cải tạo”.


Sau khi anh Chín rời trại, đến lượt Vũ đi “làm việc”.  Trước khi đi lao động, tôi bảo Vũ:


 - Chuyện đến đă đến.  Có chuyện ǵ anh nhắn cho anh em biết.


Vũ mỉm cười trả lời:


 - Chuyện cũ tái diễn.  Tôi đă sửa soạn tinh thần xa anh em một thời gian.  Dù sao chúng ta cũng vừa trải qua những ngày thật vui và đáng ghi nhớ.


Sau khi Nguyễn Đức Khuân và Nguyễn Tiến Đạt đi kỷ luật, chúng tôi sẵn sàng chờ đợi đến lượt ḿnh v́ biết tai ương sẽ ập đến bất cứ lúc nào.  Bộ Nội vụ nắm giữ mạng sống chúng tôi, nhưng thân xác chúng tôi lại nằm trong tay đám cán bộ trại, nên họ có quyền hành hạ chúng tôi.


Số anh em đội 16 đi kỷ luật khá đông, nhân số c̣n lại hơn 30 người, nên thường đảm nhận những công tác vệ sinh trong khuôn viên trại, như dọn dẹp khu kỷ luật mới vừa hoàn tất, gạch đá c̣n ngổn ngang.  Nh́n xung quanh khu kỷ luật chỉ thấy ṿng tường cao, trên giăng nhiều hàng kẽm gai.  Đứng trong ṿng tường, không nh́n thấy khung cảnh phía xa, ngoại trừ những tàng cây bên sườn núi thấp thoáng trên đầu tường.


Đến giờ giải lao, anh Đặng Văn Tiếp đề nghị tôi hát lại khúc hát, mà có lần tôi hát cho anh nghe khi c̣n ở trên trại Quyết Tiến, ghi lại những giây phút đen tối của một kiếp người, sau nhiều tháng bị cùm xích trong pḥng tối của khu kỷ luật.  Tôi trả lời anh Tiếp:


 - Có lẽ trong hoàn cảnh này tôi muốn diễn tả tâm tư của tôi, và có lẽ của cả chúng ta, một ngày nào đó, không sớm th́ muộn, sẽ lần lượt bước vào chốn này, chung hưởng nỗi cay đắng với các bạn trong kia.


Dù không phải là ca sĩ, nhưng hát hay không bằng hay hát, nhất là khi con người không nghĩ tới ngày mai xa xôi của ḿnh.  Tôi hát lại bài hát “Cacho / Xà Lim” dựa theo âm hưởng nhạc bản “Paloma”, một bản nhạc tôi đặt lời Việt trong căn xà lim, thuộc khu kỷ luật trại Băng Ky tỉnh Gia Định.  Để diễn tả tâm trạng của người tù dưới chế độ CS, bị đầy đọa trong căn pḥng tối tăm nhơ nhớp, mà sự sống vốn thê lương ngắn ngủi, dù thức hay ngủ cũng chỉ là một giấc mộng phù du. Tôi đă hát bản nhạc này cho bạn tù trong các căn xà lim bên cạnh vào đêm giao thừa năm Bính Th́n 1976, để đón chào một năm mới với kiếp sống đọa đầy.


Khi tôi dứt tiếng ca, anh Tiếp vỗ tay, như quên hẳn sau lưng ḿnh là khu kỷ luật thuộc vùng đất nổi tiếng Lư Bá Sơ.  Mái tóc điểm muối nhiều hơn tiêu, khuôn mặt xương xương pha mầu trắng xanh xao thể hiện quăng thời gian khổ ải đă qua, thêm đôi kính cận trông thật hiền ḥa thân ái.  Anh Tiếp cười vui:


 - Mẹ kiếp! Hát được quá đi chứ, đúng là ca sĩ thứ thiệt ngoài đời.  Nếu có chiếc “kèn sắc” phụ họa th́ hay biết mấy.  Nhưng không hiểu sao, với nhạc điệu Tango trang trọng, vui tươi mà lời ca anh đặt lại đau thương như con tim đang rỉ máu và giọng ca của anh lại tan nát thê lương, diễn tả đúng kiếp sống không ngày mai của chúng ḿnh.  Phải!  Chúng ta đang đi tới con đường cùng.  Chua xót thật…


Tôi nhận ra, cũng nhờ tinh thần của những lời ca, bài hát làm trong tù, đă giúp chúng tôi giữ được ḷng bất khuất trước đàn áp, cực h́nh trong một cuộc sống quá khắc nghiệt. 


Rồi anh Tiếp đi kỷ luật.  Anh tử nạn vào sáng ngày 2 tháng 5 năm 1979 v́ những trận đ̣n thù trong một lần trốn trại.  Cùng trốn với anh có LM. Nguyễn Hữu Lễ, Đại tá Trịnh Tiếu, giáo sư Nguyễn Sĩ Thuyên và anh Lâm Thành Văn.  Anh Tiếp bị đánh chết tại chỗ, thân xác anh được trật tự Bùi Đ́nh Thi kéo lê trên những bậc tam cấp qua cửa pḥng 5, đường lên khu kỷ luật.


LM. Nguyễn Hữu Lễ không khá hơn.  Cũng như anh Tiếp, LM. Lễ bị đám cán bộ trẻ đánh hội đồng ngay bên bờ sông Mă.  Kéo qua cổng gác và tiếp tục đánh cho đến khi ông ngất xỉu, rũ xuống như xác không hồn.  LM. Lễ thật may mắn, trật tự Bùi Đ́nh Thi tưởng ông đă chết nên kéo xác anh Tiếp đè lên người ông.  LM. Lễ được trật tự Thi kéo lên khu kỷ luật, liệng bỏ vào pḥng như một hành động phủi tay.  Sau này các nạn nhân sống sót kể lại, trật tự Bùi Đ́nh Thi cũng tiếp tay cán bộ, hành hạ thân xác các bạn tù tại sân trại.


Sau nhiều ngày trăn trở giữa sự sống và cái chết trên nền đá nhơ nhớp, LM. Lễ tỉnh lại.  Thương tích bầm tím đầy người, tiêu và tiểu pha máu kéo dài cả tháng.  Không có thuốc chữa trị, cầm bằng thần chết cận kề.  Nghe Nguyễn Tiến Đạt, một người bạn trẻ trong nhóm Cổng Trời chúng tôi kể lại, mỗi lần trật tự Bùi Đ́nh Thi gánh phần ăn lên khu kỷ luật, hắn không dám vào pḥng LM. Lễ v́ xú uế xông lên nồng nặc, nên gọi Đạt bị giam kỷ luật ở pḥng bên cạnh sang làm vệ sinh.  Lợi dụng khi trật tự Thi ra ngoài, Đạt nhúng chiếc khăn mang theo vào tô nước muối, và vắt những giọt nước muối vào miệng LM. Lễ trước khi lau chùi người ông và dọn dẹp căn pḥng.  Có lẽ nhờ những giọt nước muối ấy phần nào đă làm dịu những vết thương đang loang máu trong cơ thể LM. Lễ, và cũng nhờ ư chí sống c̣n mạnh mẽ, ông đă thoát khỏi lưỡi hái của tử thần.


Cuộc sống cam go của chúng tôi qua đi như một khúc phim quay chậm thường ẩn hiện mỗi đêm trong giấc mơ hăi hùng.  Người chết đă yên phận, mặc dù thân xác được vùi lấp thật vội vàng.  Nghĩ tới LM. Lễ, một bạn tù đă cùng tôi rời trại Nam Hà trên chuyến xe định mệnh vào đêm Giáng Sinh, ngày 24-12-1977.  Khi đó tôi không biết ḿnh sẽ tới đâu, xa hay gần, nhưng được nhắn nhủ nơi đó là “vùng đất chết”, không hứa hẹn có con đường về.


Vào nửa đêm, sắp đến giờ hành lễ, anh em trên xe yêu cầu LM. Lễ làm phép lành. Trong xe đột nhiên yên lặng.  Tôi nghe rơ từng hơi thở của các bạn ḥa nhịp với lời kinh nhè nhẹ thanh thoát.  Trong hoàn cảnh, vào giây phút này, bên bờ giữa sự sống và cái chết, tôi càng kính trọng hơn đối với người đại diện Chúa trước mặt.  Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ cùng đi với tôi trên chuyến tàu “Sông Hương” từ Nam ra Bắc, đă chia xẻ với bạn tù nhiều cay đắng.  Chẳng phân biệt giữa đạo và đời, giữa con chiên và người đại diện Chúa.  Địa vị trước đây đă trở thành vô nghĩa, tất cả chỉ c̣n t́nh huynh đệ, là t́nh yêu thương con người mà sự sống và cái chết đă gắn bó với nhau.


Mặc cho tiếng la hét, đe dọa của đám cán bộ công an vơ trang trên xe, lời kinh vẫn trầm bổng, như gửi hồn vào chốn thiêng liêng tối thượng.  Tôi nghe rơ cả tiếng trái tim ḿnh đập trong lồng ngực, đă tự hỏi, tại sao những người này lại không khiếp sợ trước bạo lực, những đ̣n thù vào ngày sắp tới.  Phải có ǵ mầu nhiệm khiến con người đă hết ḷng tin tưởng, vượt qua những hiểm nguy đe dọa.  Tôi chợt hiểu khi nhớ tới gương sáng của các “thánh tử v́ đạo” với đức tin cao cả.


Anh Lâm Thành Văn chết sau đó một tuần.  Anh bị đau dạ dầy nên phần ăn bo bo nguyên hạt chưa nấu chín, lần vỏ cứng sắc như lưỡi dao đă làm dạ dầy của anh chẩy máu.  Khi chết chân của anh Văn vẫn c̣n trong ṿng cùm.  Đại tá Trịnh Tiếu và giáo sư Nguyễn Sĩ Thuyên cũng chẳng khá hơn.  Thân thể bầm dập v́ những trận đ̣n thừa sống thiếu chết, bị cùm xích lâu ngày trong pḥng kỷ luật, sức khỏe yếu dần sau lần trốn trại.


Đội 16 không đủ nhân số cho một đội lao động, nên trại đă chuyển một số anh em từ các pḥng khác lên pḥng 5.  Anh Nguyễn Cao Quyền, nguyên Chánh Án Ṭa Án Đặc Biệt, chuyển từ khu kiên giam xuống đội 16, dáng người cao nên trông anh càng gầy.  Rất may anh c̣n đi lại được.  Anh luôn vui vẻ, thân ái đối với anh em trong pḥng.  Trong đợt chuyển pḥng lần này c̣n có anh Nguyễn Văn Thành, nguyên Chánh án, dược sĩ Phạm Văn Diệm và bác sĩ Trương Khuê Quan.  Theo nội quy của trại, bác sĩ Trương Khuê Quan không được “hành nghề”, nhưng ông thường xem bệnh và cho lời khuyên khi anh em bị bệnh.


Tôi nhớ bác sĩ Trương Khuê Quan có lần nói: “Nhiều người ngại không dám gần nhóm Cổng Trời các anh v́ họ sợ bị ảnh hưởng tới ngày về của họ.  Nhưng tôi muốn gần các anh, để được lây cái hên v́ các anh đă thoát chết ở trại Cổng Trời.  Tôi cũng thích câu anh thường nói, trời sập cũng thế thôi."  Đây là câu tôi thường tự nhắc nhở, v́ cuộc đời của chúng tôi trong lúc này không c̣n tùy thuộc vào chúng tôi nữa, kể cả sự sống và cái chết.  Nên c̣n ǵ để lo, để sợ.


Đội 16 làm công tác xây dựng, các bác Phạm Văn Diệm (tiến sĩ Dược) và Bác sĩ Trương Khuê Quan (Giám đốc Quốc gia Nghĩa tử) trở thành phụ hồ trong tổ xây với tôi.  Đó là nét “ưu việt” của Xă hội Chủ nghĩa, cải tạo mọi thành phần trí thức trở thành lao động chân tay.  Đứng trên dàn dáo, tôi kéo phụ hai bác những thùng vữa đầy lên dàn trước khi xây và nhận ra sự thay đổi một cuộc đời thật dễ dàng và chua xót:


“Bác sĩ Quan cuốc đất, 

Dược sĩ Diệm phụ hồ…”


Về phần tôi, trong suốt thời gian “tù cải tạo”, đă đi lên từ công việc hạ tầng, từ đào mương vác đá đến chặt nứa khiêng cây, từ gánh nước tưới rau đến thợ mộc thợ nề.  Và bây giờ, cuộc đời tôi dính liền với dao xây thùng vữa.  Cán bộ trại thường nhắc nhở, chúng tôi “may mắn” được xă hội mới cải tạo, tôi luyện từ thể xác đến tinh thần, để trở thành “con người mới Xă hội Chủ nghĩa”, có tay nghề vững chắc, mà nhờ đó có cuộc sống ấm no sau này.


Pḥng 5 ngày một đông.  Các anh từ Hoàng Liên Sơn chuyển về đây, được thành lập đội 15, ở một nửa căn pḥng 5 gần cổng ra vào.   Nhờ có thêm anh em ở pḥng khác tới, không khí đội 16 vui hẳn lên.  Văn nghệ cũng khởi sắc.  Ngày chủ nhật sân trại vắng tanh v́ trại cấm tù nhân qua lại các pḥng.  Tôi nh́n về phía cổng gác, t́m lúc cán bộ trực gác đi khuất, băng qua khoảng sân rộng cuối hội trường để sang pḥng 4.  Một số bạn “mê” giọng ca của Nguyễn Hữu Phúc, Đại úy Không quân nên các bạn thường gọi anh là “Phúc giặc lái”, đă quây quần ở sàn trên.  Chúng tôi yên tâm v́ có một số anh em ngồi nơi cổng ra vào buồng canh chừng cán bộ bất thường tới kiểm soát.


Bên ly trà bốc khói, chúng tôi lắng nghe Phúc hát, giọng hát trầm ấm, êm dịu diễn tả nỗi ḷng thương nhớ cố nhân.  Mà hiện tại chỉ c̣n là “Hoài Cảm”, âm hưởng nghe như đứt đoạn:


 “…Chờ hoài nhau trong mơ, nhưng có bao giờ thấy nhau lần nữa…” 


Tất cả chỉ c̣n lại ngậm ngùi, để “…nhớ nhau muôn đời mà thôi…”


Khi Phúc hát đến khúc ca “Sài G̣n ơi! Vĩnh biệt” của nhạc sĩ Nam Lộc, giọng ca của Phúc trở lên day dứt, uất nghẹn như tiếng nấc tự đáy ḷng làm nhạt nḥa nước mắt.  Tất cả ch́m vào dĩ văng với những tiếc nuối về một thời huy hoàng đă qua:


 “…Sài G̣n ơi!  Ta đă mất người trong cuộc đời…, Sài G̣n ơi!  Thế là hết thời gian tuyệt vời…”


Sài G̣n đă trở thành bất diệt, không thể thiếu trong tâm tư người miền Nam, đă lưu lại trong ḷng  người tới đây những h́nh ảnh dịu dàng nhưng trung thực.  Cũng nhờ tính “Người Sài G̣n” ấy, đă chan ḥa một thứ t́nh cảm quyến luyến, bao dung của người mẹ hiền, dang rộng ṿng tay ấp ủ những đứa con lạc lơng.  Và chính “Người Sài G̣n” ấy cũng thể hiện sự mời gọi của một người t́nh tha thiết thủy chung.  Sài G̣n là nơi chốn đượm t́nh yêu thương.  V́ vậy, xa Sài G̣n vẫn nhớ, vẫn mong muốn trở về.


Đời sống tinh thần của người tù cải tạo khi vui lúc buồn bất chợt, phấn khởi lo âu lẫn lộn.  Tâm tư luôn bị giao động với ư nghĩ không có ngày về.  Đang im lặng chịu đựng, bỗng chốc ḷng căm hờn trỗi dậy.  Đêm 30 Tết là đêm khó ngủ.  Mọi người tưởng nhớ tới khung cảnh gia đ́nh xum họp đầm ấm trước đây.  Sau bữa cơm chiều, khi cửa pḥng đă khóa phía ngoài, từng nhóm xúm quanh ngọn đèn dầu nhỏ nhắc lại chuyện cũ, những thăng trầm trong thời gian tù đầy, những tăm tối khổ ải đă trải qua.  Bác Trần Duy Đôn (nguyên Thượng Nghị sĩ - VNCH) chợt lên tiếng:


 - Bác Kim, bác Quyền ơi!  Hát cho anh em nghe đỡ buồn.  Nhớ nhà quá…


Không riêng ǵ bác, vào giờ phút thiêng liêng này, ai cũng liên tưởng tới gia đ́nh.  Rồi chẳng cần men rượu, tại chiếu nằm sàn trên, Huỳnh Thế Hùng ngồi quay lưng ra phía cửa sổ mở rộng, cất tiếng ca bản nhạc “Việt Nam – Việt Nam”.  Mọi người trong nhóm ca theo.  Có lẽ đó là bản nhạc đầu tiên được ca vang trong thời gian tù đầy.  Tiếng hát trầm hùng bùng lên, gợi nhớ tất cả một dĩ văng đau thương với mảnh đất quê hương miền Nam, mà những đứa con đă tận tụy một đời hy sinh bảo vệ, đang trầm luân khổ ải trong kiếp sống nửa vời.


Ṿng người được nới rộng, như muốn đóng góp cho khí thế hào hùng, như men rượu lâng lâng thấm bầu nhiệt huyết.  Mọi người thay nhau đơn ca những bản nhạc t́nh cảm miền Nam, nhuộm thắm t́nh yêu quê hương đất nước.  Rồi bất chợt lời ca uất hận, căm hờn của các bản nhạc sáng tác trong tù, diễn tả những thân xác rũ liệt tả tơi trong pḥng tối, quằn quại trên mặt nền nhơ nhớp v́ trận đ̣n thù.


Nhạc bản “Đôi Giầy Dũng Sĩ” vừa cất lên, tôi nhớ đến anh Nguyễn Văn Hồng, một sĩ quan trẻ tuổi, đă làm bài ca này.  Cả trại truyền nhau hát.  Cán bộ trại bắt anh vào kỷ luật, cùm xích ngày đêm.  Anh đă gục ngă trong xà lim tăm tối của trại Nam Hà (Xă Ba Sao, Hà Nam Ninh).


Khi sáng tác bài ca này, anh chỉ có ước mơ nhỏ bé, được là đôi giầy dưới chân lớp trẻ mai sau, đập tan xiềng xích, khôi phục đời sống tự do hạnh phúc của quê hương.  Lời ca diễn tả:


 “………

 “Này em, ta không quên đâu những ngày tù tội.

 “Này em, ta không quên đâu mối thù muôn đời.

 “Cho tôi xin một lần được chết,

 “Cho em tôi một trời yêu thương…”


Ngoài hiên, trong không khí giá lạnh của ngày cuối năm, một cán bộ vơ trang trẻ tuổi im lặng, thỉnh thoảng dừng lại lắng nghe những ḍng nhạc trữ t́nh của miền Nam.  Hắn không có một phản ứng nào.  Anh em trong pḥng thấy hắn từ lâu, làm như không biết có hắn đứng ngoài.  Mọi người vẫn say sưa ca hát, cố tận hưởng những giây phút quư báu hiếm có trong cuộc đời tù cải tạo.  Thấy hắn, tôi nhớ tới lời của một cán bộ trẻ tâm sự: “Các bác được ở trong pḥng ấm áp, trong khi cháu phải đứng gác ngoài trời vào mùa đông giá rét.  Các bác có nơi chốn để về, c̣n cháu có nơi nào đâu!”


Trong thời gian vừa qua, theo yêu cầu của các bạn trong pḥng, anh Nguyễn Cao Quyền đă chuyển lời một số bản nhạc quen thuộc của miền Nam từ tiếng Việt qua tiếng Pháp, như các bản: Khi người yêu tôi khóc: “Larmes D’amour”,  Ai đưa em về:  “Ce soir qui t’accompange”, Nh́n những mùa Thu đi: “Et l’automne s’enfuit”….


Tiếng ồn ào trong pḥng chợt lắng xuống khi tiếng đàn ghita của anh Nguyễn Ngọc Liên nổi lên, xoa dịu những tâm hồn đang ngút lửa với thương hận tủi hờn.  Tiếng đàn êm dịu ḥa theo tiếng hát của anh Nguyễn Cao Quyền trong bản nhạc với tựa đề “Larmes d’amour”, chuyển qua lời Pháp từ nhạc phẩm “Khi người yêu tôi khóc” của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh.  Âm hưởng lời ca như những giọt nước mắt ân t́nh của người vợ hiền đang ngóng đợi chồng về:


 “Quand tes larmes tombent, le ciel est sombre.  Ces perles d’amour froissent mes jours.  Tes beaux yeux en larmes, c’est si charmant.  Sais tu, je t’aime si doucement et si tendrement."


 “Comme l’éclair qui brille dans l’ombre du soir.  Toi, pourquoi tu viens si près de moi.  Puis tu me donnes tant de désespoir.  Vois tu tes larmes de bonheur ravagent mon coeur."


 “Quand tu as dit oui pour toute ta vie je suis perdu.  Nous avons vécu de si beaux jour de notre amour.  Et pourquoi tu choisi de quitter loin pour toujours."


 “Quand tes larmes tombent j’oublie le tempt.  Et tes mots d’adieu glacent mon sang.

 “Moi, je prie Dieu pour ton bonheur.  Sais tu ma vie sans tes douceur n’est plus que malheur."


Để tô đậm không khí đắm ch́m trong nhớ thương của nhạc phẩm nhuốm đầy nước mắt người yêu, một bạn cuối pḥng góp vui bằng lời Việt:


 “Khi người yêu tôi khóc trời cũng giăng sầu.  Cho từng cơn mưa lũ xoáy trong tâm hồn.  Khi người yêu tôi khóc thành phố buồn thiu.  Em ơi tôi níu một lần ưu ái trên cung ngà hắt hiu."


 "Mây từ đâu trôi đến mờ dấu chân trời.  Em, tại sao em tới cho anh yêu vội.  Cho một lần yêu cuối là những lẻ loi.  Em ơi hăy nói vạn lời sầu đắng như em vừa trách anh…”

 
Trong pḥng thật im lặng, mọi người đang ḥa theo lời ca tiếng nhạc, trở về một thời không xa trước đây với nếp sống đầy ắp niềm vui.  Anh Lâm Minh Lê, nguyên chủ nhà hàng Bồng Lai, đường Lê Lợi Saigon, bước ra giữa lối đi, hai tay ṿng ra phía trước, nhẹ bước theo tiếng nhạc, dáng điệu như đang d́u người t́nh trong mộng.


Trong khoảnh khắc, tôi có cảm tưởng tâm tư ḿnh lắng đọng, du hồn trong sóng nhạc, đắm ḿnh dưới ánh đèn, với men cay, như đang theo bước chân lướt nhẹ trên sàn gỗ vào những ngày vui thuở nào.


Nhạc bản “Nước Mắt Mưa Ngâu” của  Nguyễn Đức Khuân nói lên tâm trạng người tù trong pḥng kỷ luật, với tay xích chân xiềng.  Tương lai quả thật xa vời.  Mọi thứ như vuột khỏi tầm tay.  Có chăng chỉ c̣n h́nh ảnh yêu thương của người vợ hiền.  Lời ca diễn tả:


 “Trời mưa hiu hắt như lệ em khóc đêm thâu.  Tiếng mưa tí tách tiếng mưa nhẹ khơi cơn sầu.  Ḷng ta tê tái với bao nhiêu nỗi thương đau.  Bóng đêm mênh mông không gian ch́m sâu.  Đời cho ta biết bao ngày xa vắng âm u.  C̣n đem mưa băo táp trên cuộc sống lao tù..."

(Cuồng Sĩ Thanh Cẩm)


Khuân đă sáng tác nhiều bản nhạc được bạn tù truyền nhau hát.  Nhưng khi bản “Ngày Địa Ngục Trần Gian” mang theo đi lao động bị phát hiện.  Anh bị những tên công an vơ trang đánh đập ngay tại cổng gác.  Kèm theo tiếng thét:  “Anh dám bảo chúng tôi là loài quỉ đỏ…” là những cú đá, cái đấm không nương tay trước khi nhốt anh vào pḥng kỷ luật.  Khuân đă bị cùm xích và chịu đựng  sự hành hạ tàn nhẫn trong pḥng kỷ luật kéo dài gần 4 năm sau đó.  Chúng ta hăy xem nội dung của bản nhạc khiến anh bị cực h́nh:


 "Ngày địa ngục trần gian dâng lên với nỗi kinh hoàng.  Ngày vừa nghe tiếng 'keng' vang lên lúc trời mờ sương chưa nḥa bóng tối.  Từng người tù như bầy ma vươn ḿnh lên đang đón chờ những cực h́nh một ngày đọa đầy.  Mùa đông lạnh căm gió rét từng cơn như cắt thịt da vào thấu tận xương.  Chợt nghe dậy lên cơn đói triền miên đay nghiến cuồng điên từ khi thức dậy nh́n nhau ái ngại trong nỗi đau vươn dài."


 “Bầy quỷ đỏ như lũ sói hung chờ.  Cửa địa ngục khua vang ba tiếng khóa, tiếng báo số kêu tù vội vă đi ra phơi bộ xương khô trên đồi nắng.  Tiếng thét, tiếng búa, tiếng đ̣n hận thù, trên lưng oằn đau tím bầm đ̣n thù; trời rét căm căm mặc gió mưa dầm."

 
 “Rồi người vào trong đêm đen bằng những giấc mơ kinh hoàng…và bóng tối tương lai mịt mờ!”

(Cuồng Sĩ Thanh Cẩm)


Với tâm tư của tác giả trong lời nhạc cũng như ḷng bất khuất trong cuộc sống, danh xưng “Cuồng Sĩ Thanh Cẩm” đă được anh Nguyễn Cao Quyền mến tặng, khi tác giả di chuyển từ trại Cổng Trời tới trại Thanh Cẩm, lưu lại như một kỷ niệm với các bạn tù đă cùng nhau san sẻ những niềm vui hiếm hoi trong quăng đời nhiều cay đắng. 


Tiếng hát có khi lên cao, có lúc trầm lắng, tắc nghẹn như tiếng thở dài.  Mọi người bị khích động, lôi cuốn ḥa nhịp với niềm vui, quên hẳn những hiểm nguy đang ŕnh rập trong lúc này, sẽ tới vào ngày mai hay những ngày kế tiếp.


Số phận của tù cải tạo thật mong manh.  Sau những đọa đầy khổ ải, nhiều người thiếu may mắn không có ngày trở về, đă nhận mảnh đất nơi này là “quê hương”, sau khi trả xong “món nợ máu” cho “đảng CSVN”, được diễn tả qua lời thơ của bạn tù:


 Hai tên cầm súng bước đi đầu

 Tên nữa AK tiếp phía sau

 Một xác bó tṛn đôi manh chiếu

 Hai đầu buộc chéo bốn giây lau

 Không kèn, không trống, không đưa tiễn

 Chẳng khói, chẳng nhang, chẳng nguyện cầu

 Chỉ có bạn tù khiêng lặng lẽ

 Vùi nông một khối hận thù sâu.


Tôi ở căn “nhà 5” này đă lâu, cùng với các bạn cũ mà t́nh thân như ruột thịt, những người bạn đă chia sẻ với tôi những giây phút đau thương của quăng đời “tù cải tạo” từ Nam ra Bắc.  Như  “LM. Nguyễn Hữu Lễ, các anh: Tô Tứ Hướng, Vũ Văn Vang, Nguyễn Tôn Tính, Mai Văn An, Dương Văn Lợi, Ngô đ́nh Thiện, Nguyễn Văn Hà, Trần Phụng Tiên, Mai ngọc Y, Nguyễn Tiến Đạt, Nguyễn Đức Khuân, Phạm văn Thông, Đỗ Duy Hùng, Huỳnh Thế Hùng, Phạm Hồng Thọ, Ninh Vệ Vũ, Nguyễn Sĩ Thuyên, Lê Văn Khương và Nguyễn Văn Huyền”.


Và những người bạn thân trong 4 năm qua tại trại Thanh Cẩm, như quư anh Nguyễn Cao Quyền, Nguyễn Ngọc Liên, Nguyễn Văn Thành, Đèo Văn Tsé, Phan Công Tôn, Lê Ngọc Thạch, Phạm Phú Minh, Đỗ Việt Anh, Nguyễn ngọc Xuân, Nguyễn Khắc Linh, Nguyễn Văn Bảy, Lê Sơn, Nguyễn Văn Vững, Ngô Trung Định, Nguyễn Mạnh Tuấn, Nguyễn Vũ Dương… đă cùng với tôi san sẻ những niềm vui hiếm hoi trong quăng đời nhiều cay đắng.  Mà có những người bạn, tôi không c̣n cơ hội gặp lại, như lúc tôi chia tay với những người bạn thân thiết vào mỗi khi đổi pḥng hay chuyển trại.


Sau một tuần chờ đợi vé tàu, chúng tôi ra khu cơ quan, mỗi người nhận 23 đồng tiền ăn 3 ngày trên tàu và giấy ra trại.  Khi cầm giấy ra trại tôi nói với các bạn, “đây là giấy biên nhận” chúng ta đă để lại vùng rừng núi này cả mồ hôi, máu và nước mắt, đă chôn vùi quăng đời tuổi trẻ đẹp nhất của ḿnh, để trở về một nhà tù lớn hơn.


Khi đưa giấy ra trại cho tôi, cô cán bộ Tư thấy tôi mặc bộ bà ba xanh trại phát, xé ngắn tay đă bạc mầu, trong khi các bạn tôi mặc quần áo dân sự, cô hỏi tôi:


 - Anh không có quần áo dân sự mặc về hay sao?


 - Thưa không.  Tôi chỉ có bộ quần áo đang mặc.


 - Anh mặc quần áo này về coi sao được.  Anh đợi tôi một lát.


Cô chạy sang pḥng bên lấy một bộ quần áo nâu mới, thứ quần áo dành cho tù h́nh sự miền Bắc khi được tha.  Cô bảo tôi:


 - Anh mặc tạm bộ quần áo này, c̣n mới nên dễ nh́n hơn.


Tôi nhận bộ quần áo nâu và cám ơn cô.  Nhưng tôi vẫn muốn mặc bộ quần áo xanh trại phát cho tù cải tạo miền Nam trên đường về, mặc dù đă bạc mầu.  Tôi muốn mặc v́ hănh diện là một người miền Nam đă đi tù dưới chế độ CS.


Tôi nhớ măi lời nhận xét của cô Tư, người mà tôi, anh Hướng và anh Cảnh đă sửa nhà cho gia đ́nh cô vào dịp Tết vừa qua.  Khi công việc đă xong, cô Tư tỏ lời cám ơn và hỏi:


 - Gia đ́nh các anh đă ra thăm nuôi chưa?


Tôi trả lời cô Tư:


 - Chúng tôi đă được gia đ́nh ra thăm.


 - Tôi thấy gia đ́nh các anh ra thăm mang hàng trăm kư quà, ăn cả năm chưa hết.  Khi khám quà tôi thấy đầy đủ mọi thứ.


Anh Hướng góp lời:


 - Chúng tôi thiếu dinh dưỡng đă lâu, không thể ăn dè được.  Hơn nữa anh em chia nhau mỗi người một chút cho vui.  V́ vậy, gói quà cả trăm kư chỉ được 1, 2 tháng.


Tôi có cùng ư nghĩ như anh Hướng, cuộc đời tù cải tạo “no nhất thời, đói muôn thuở”, nay ở mai đi, di chuyển bất thường, biết cách nào mà mang, mà giữ để ăn dần.


Cô Tư nói tiếp:


 - Nh́n thân nhân các anh tới thăm nuôi, tôi biết gia đ́nh các anh rất khá giả, mặc dù các anh đi cải tạo đă lâu…


Cô nh́n quanh căn nhà tiếp lời:


 - Nhà cửa của các anh trong Nam hẳn là khang trang đẹp đẽ, chẳng bù cho chúng tôi, nhà cửa nghèo nàn, chật hẹp.


Tôi nh́n cô Tư đang diễn tả thực trạng đời sống của ḿnh, nét mặt chứng tỏ lời nói.  V́ ở địa vị cô, là người đang có quyền, không cần phải nói một lời “xuống nước” trước mặt người tù cải tạo.  Nên khi nói ra, phải là lời thành thật, một nhận xét sau thời gian tiếp xúc với tù cải tạo miền Nam.


Tôi tiếp lời cô Tư:


 - Chúng ta ở hai hoàn cảnh đời sống khác nhau, nhưng có điều cần thiết là phải sống vui, cô hăy sửa soạn để các cháu vui Xuân.


 - Cám ơn các anh đă sửa nhà giùm tôi.  Sau khi quét vôi và làm lại nền, căn pḥng sáng sủa hẳn lên.


Chúng tôi ra nhà thăm nuôi, ngủ tại đây một đêm, sáng sớm mai xe tới đón đưa chúng tôi ra ga Thanh Hóa.  Anh Hướng đề nghị tôi sang khu gia đ́nh cán bộ mượn gạo để nấu bữa cơm tối nay, v́ đă lâu chúng tôi không biết tới mùi hạt gạo, nhất là trong không khí này.  Tôi tới nhà cán bộ Chương.  Thấy tôi cán bộ Chương hỏi:


 - Anh Kim.  Ngày mai các anh về phải không?


 - Vâng.  Sáng mai chúng tôi sẽ rời khỏi đây.


Cán bộ Chương hỏi tiếp:


 - Anh cần ǵ không?


 - Trời đă tối, chúng tôi không thể vào làng mua gạo, định mượn cán bộ vài lon gạo nấu ăn tối nay.  Sáng sớm mai chúng tôi vào làng mua gạo sẽ hoàn lại cán bộ.


Tôi thấy hắn ngưng giây lát, sau đó kéo tôi vào căn trong gần bếp, mở nắp vại đựng gạo bảo tôi:


 - Đúng ra tôi phải có chút quà mừng các anh được về.  Rất tiếc nhà không c̣n một hột gạo.  Cả ngày hôm nay chúng tôi phải ăn sắn.


Nh́n thấy vại đựng gạo trống trơn, biết hắn nói thật.  Tôi bảo cán bộ Chương:


 - Không sao cán bộ.  Chúng tôi muốn có bữa ăn để kỷ niệm ngày cuối cùng ở đây.  Cán bộ đừng để tâm.


Tôi chào hắn và chúc vợ chồng hắn có đời sống hạnh phúc.


Chúng tôi có một đêm chuyện văn để sáng mai sẽ ra ga Thanh Hóa, sau đó mỗi người mỗi ngả, mỗi người có một cuộc sống khác biệt trong một xă hội mọi thứ đă thay đổi.


Chúng tôi dậy thật sớm uống ly trà nóng.  Phải 10 giờ sáng xe mới tới đón.  Hành trang của tôi chẳng có ǵ nhiều, ngoài chiếc mền nỉ, chiếc màn lưới của Mỹ, bộ quần áo nâu cô Tư đưa ngày hôm qua và chiếc khăn mặt hiệu Canon mà vợ tôi mang ra vào dịp thăm nuôi vừa qua, tất cả để trong túi vải.

 

Tôi bước lên bậc tam cấp trước nhà thăm nuôi.  Trời c̣n tối.  Khu gia đ́nh cán bộ bên kia đường vẫn im ĺm say ngủ.  Nhớ lại chuyện cũ.  Khi sửa mái tranh khu gia đ́nh cán bộ, tôi đă chứng kiến nhiều cảnh xum họp rồi chia ly nơi nhà thăm nuôi.  Và cả tiếng sáo miệng theo âm điệu bản nhạc “Người Yêu Tôi Đâu” trong phim “Bác sĩ Jivago” của các bạn tù đang ngóng đợi người thân.

 

                                                            Ga Thanh Hóa

 

Tôi nhớ măi gương mặt đầm đ́a nước mắt của vợ tôi mỗi lần tôi về khuya, cũng ẩn chứa nét đau khổ, tuyệt vọng vào đêm tôi bị đám công an bắt tại nhà, như khi chia tay vào lần thăm nuôi vừa rồi sau nhiều năm bặt tin, những tưởng tôi không c̣n sống trên cơi đời.  Một h́nh ảnh tưởng chừng đây là lần chia ly không hẹn ngày gặp lại.  Thực ra, lấy ǵ để bảo đảm cho một kiếp người khi cái chết luôn ám ảnh cận kề.


Giọt nước mắt của mẹ tôi vào đêm tôi bị bắt tại nhà, cứ ám ảnh, theo đuổi tôi trong nhiều năm tù đầy.  Tôi nh́n rơ gương mặt đau khổ của bà khi bọn công an t́m ra lá cờ Vàng 3 sọc đỏ mà bà cất giữ, và đinh ninh đây là chứng cớ khiến tôi bị bắt.  Tôi thông cảm với ước vọng thầm kín nơi bà, v́ lá cờ Vàng là biểu tượng của đời sống tự do hạnh phúc, một đời sống thể hiện nét tự hào, xứng đáng là một con người.  Lá cờ Vàng là h́nh ảnh mà người miền Nam luôn trân quư, giữ ǵn như linh hồn của dân tộc.


Tôi lặng nh́n những gịng nước mắt đau khổ của bà tuôn rơi khi tôi bước ra khỏi nhà.  Hai bàn tay bà che mặt cố ngăn tiếng nấc nghẹn, như không muốn nh́n thấy cảnh chia ly đứt ruột.  Cha tôi ngồi im lặng, chua xót nh́n tờ biên bản bắt giam để trên bàn kính trước mặt.  Ông thừa hiểu mảnh giấy này chỉ là một tờ giấy lộn, một việc làm cho có, v́ ngay cả các Hiệp Định đă kư kết với quốc tế họ cũng chẳng thi hành đứng đắn.  Ông biết rơ bản chất tàn nhẫn của chế độ này, nên đă dắt díu vợ con di cư vào miền Nam sau ngày chia đôi đất nước năm 1954.


Chúng tôi rời trại Thanh Cẩm vào lúc 10 giờ sáng trên một chiếc xe chở hàng không mui che, thẳng đường tới ga xe lửa Thanh Hóa.  Cùng đi với chúng tôi có Trung Úy Tuy, Ban giáo dục và cán bộ Ba.  Khi tới ga, cán bộ Ba đi lo vé tàu.  Chúng tôi mời cán bộ Tuy vào một quán ăn đối diện ga xe lửa dùng bữa ăn tối, v́ từ sáng đến giờ chúng tôi không có chút ǵ vào bụng.  Trong túi tôi chỉ có 23 đồng, chắc đủ ăn một ngày.  Tôi nhờ bà chủ quán bán hộ tôi chăn màn và bộ quần áo nâu để có thêm tiền ăn đường.


Tôi gọi một cốc nước đá chanh lớn, Sài G̣n gọi là “ly cối”.  Đă lâu tôi chưa được nếm vị thơm của mùi chanh và cảm giác lành lạnh của viên đá tan dần trong miệng.  Tôi uống một hơi cạn cốc nước trước sự ngạc nhiên của bà chủ quán.  Thấy cán bộ Tuy nh́n khi tôi uống một hơi cạn cốc nước đá chanh, tôi nói:


 - Tôi thèm cốc nước chanh này đă hơn 6 năm.


Tôi lấy chiếc khăn mặt lớn c̣n mới, một vật duy nhất c̣n lại trong túi vải, mà vợ tôi mang ra khi thăm nuôi.  Tôi đưa cán bộ Tuy và nói:


 - Tôi chỉ c̣n cái khăn này biếu cán bộ.


Cán bộ Tuy cầm chiếc khăn ngắm nghía, chắc cảm thấy khác lạ đối với những chiếc khăn thường gặp.  Tôi chỉ dấu hiệu mang chữ “Canon” phía đầu cái khăn nói tiếp:


 - Chiếc khăn này hiệu Canon. Sản xuất tại Mỹ.


Tôi nhớ măi lần chở phần gỗ trại cho cán bộ Tuy trước khi hắn về hưu.  Hắn mời tôi uống bát nước trà xanh nóng hổi, loại trà tươi gia đ́nh tôi thường uống tại miền Nam.  Trong câu chuyện, như một lời “phân bua”, hắn nói khi giảng dậy trên hội trường đă nói theo chính sách.


Tới giờ tàu khởi hành.  Chúng tôi chào cán bộ Tuy và cán bộ Ba trước khi lên tàu. Cả 32 chúng tôi ngồi vào một toa, chia nhau những hàng ghế gỗ có lưng tựa.  Hai hàng ghế đối diện nhau, một bàn gỗ nhỏ ở giữa.  Tôi và anh Hướng ngồi một ghế. Tôi chọn chỗ ngồi sát bên cửa sổ, mong t́m một chỗ tựa vai.  Bây giờ vào cuối năm, mùa Đông miền Bắc đă bắt đầu.  Tàu chuyển bánh, đă gần nửa đêm.  Tôi tựa vào lưng ghế, duỗi chân lên chiếc bàn nhỏ, nhắm mắt mong t́m một giấc ngủ.  Suốt đêm hôm qua chúng tôi không chợp mắt, mải mê nói chuyện v́ biết rất hiếm cơ hội gặp lại.


Anh Hướng chợt quay qua tôi:


 - Anh ngủ được không?


 - Mặc dù chúng ḿnh thức trắng đêm hôm qua và cả ngày hôm nay trên xe di chuyển, nhưng tôi vẫn cảm thấy khó chợp mắt.


Hướng tiếp lời, giọng như chùng xuống:


 - Chúng ḿnh như vừa trải qua một giấc mơ.  Một thoáng đă hơn 6 năm qua đi.  Biết bao nhiêu chuyện đổi thay trong đời sống xă hội.


 - Tôi có cùng ư nghĩ như bạn.  Niềm vui đến với chúng ta thật bất chợt, cuộc sống của chúng ta như đang ở ngoài tầm tay.


Tôi hỏi Hướng:


 - Anh có ư định ǵ không?


 - Để về nhà xem hoàn cảnh gia đ́nh ra sao rồi mới tính được.


 - Các cháu của anh ở Mỹ ra sao?


 - Chúng ở với các em của tôi, ngoan và rất chăm học.


Tôi mừng cho bạn đă có những hạt giống tốt ở miền đất hứa.  Tôi chợt nhớ tới lời cán bộ Chương: “Hồ sơ cá nhân của các anh sẽ chuyển về địa phương nơi các anh cư ngụ để địa phương quản lư…”, tôi nhận ra một điều, đời sống riêng tư của người dân luôn bị theo rơi, nhất là hoàn cảnh của chúng tôi, những người có “nợ máu” với đảng và nhà nước cộng sản, khó thoát khỏi cặp mắt của công an khu vực.  Tôi quay qua Hướng:


 - Khi về, chúng ta bị địa phương theo rơi từng bước, chưa chắc đă sống yên thân.


Chúng tôi trở lên yên lặng.  Khó nói ra những suy nghĩ vào lúc này khi mà hoàn cảnh xă hội đă hoàn toàn thay đổi.  Chúng tôi vừa trải qua một giai đoạn thăng trầm của lịch sử, là chứng nhân của một chế độ hà khắc, đă hủy diệt ước vọng của một dân tộc.  Và cũng là nạn nhân của một tập đoàn cầm quyền, v́ cuồng vọng nhất thời, đă đưa dân tộc tới bờ vực thẳm đói nghèo, biến đổi một nếp sống văn minh trở thành chậm tiến, lạc hậu.


Tàu đỗ ở ga Đồng Hới khá lâu, chúng tôi có đủ thời gian tắm gội sau 2 ngày ngồi bó chân trên ghế và tối ngủ trên tấm báo trải xuống sàn tàu.  Chúng tôi uống cạn những giọt bia với miếng gà luộc, một thức ăn b́nh thường trước đây, đă trở thành “xa xỉ” trong 6 năm qua.


Con tàu mải miết chạy, khi tới địa phận Long Khánh, không c̣n bao lâu nữa sẽ tới Sài G̣n.  Ḷng tôi nôn nóng về nhà.  Tôi chợt thèm hương vị cà phê, nên cùng các bạn vào toa ăn.  Theo lịch tŕnh tàu chạy, giờ này toa ăn cũng sắp đến giờ đóng cửa để thu dọn trước khi tới Sài G̣n.  Chúng tôi tới toa ăn, trong toa không c̣n khách.  Thấy chúng tôi, một cô tiếp viên hỏi:


 - Các anh cần ǵ không?


 - Chúng tôi muốn mua ly cà phê.


Cô quay vào trong hỏi các bạn.  Tôi nghe thấy một giọng nữ nói vọng ra:


 - Mời các anh vào.


Cô đứng bên cửa mời chúng tôi vào.  Trong toa ăn có 5, 6 cô cả giọng miền Nam và Bắc.  Tôi ngồi vào bàn với các anh Nguyễn Văn Thành, Tô Tứ Hướng, Nguyễn Ngọc Liên, Ngô Trung Định và các bạn khác... Thấy tôi mặc bộ áo tù, một cô hỏi:


 - Các anh vừa đi cải tạo về?


 - Vâng, chúng tôi vừa rời trại Thanh Cẩm, Thanh Hóa là lên tàu về miền Nam.


Chúng tôi được tiếp đón thật nồng hậu.  Ngoài thức uống, cô trưởng toán c̣n mời chúng tôi một chai Champagne của Liên Xô đă ướp lạnh với tôm khô và củ kiệu, để mừng ngày chúng tôi trở về. Chúng tôi chuyện văn, dù chỉ trong khoảnh khắc nhưng thấm đượm t́nh người.  Chúng tôi được biết quư danh các cô, nguyên là học sinh trường Gia Long-Sài G̣n, những người đă mang đến cho chúng tôi một thứ t́nh cảm thật gần gũi khó quên, hiếm có trong cuộc sống nhiều thay đổi này.


Chúng tôi hy vọng có dịp gặp lại: Cô Oanh: 138/2 Cô Bắc, Phú Nhuận – Cô Cúc: 116/33/25 Tô Hiến Thành, Q.10 – Cô Duyên: 530 Lư Thái Tổ, Q.10 – Cô Liên: 212/11/27 Nguyễn Thiện Thuật, Q.3 – Cô Lan: 195/32 Hoàng Đạo (Cống Bà Xếp.)


Bất chợt có tiếng gơ cửa toa ăn.  Qua ô cửa kính nơi cánh cửa, một vị khách mặc quân phục muốn vào toa ăn.  Tôi nghe rơ câu trả lời của cô tiếp viên:


 - Toa ăn đóng cửa v́ sắp tới ga chính.

 

Vị khách nói:


 - Những người ngồi trong toa th́ sao?


 - Những người này khác.


Sau câu trả lời, cô quay vào làm tiếp công việc đang làm.  Chúng tôi cám ơn các cô tiếp viên đă dành cho chúng tôi một sự ưu đăi đặc biệt.  Đây là h́nh ảnh đẹp nhất sau một thời gian dài ch́m đắm trong sự hà khắc.  Một h́nh ảnh gợi nhớ t́nh cảm thân thiết của quê hương miền Nam.

 

Tàu dừng lại ga Long Khánh, một người đàn ông lên tàu, tới cửa sổ chỗ tôi ngồi, đón nhận những bó củi, bao than và nhiều thứ khác được chuyển từ dưới sân ga qua cửa sổ.  Đây là những món hàng được chuyển về bán tại thành phố.

 

                                                                   Ga B́nh Triệu

 

Tới ga B́nh Triệu trong túi tôi không c̣n một đồng.  Tôi đứng trước cửa ga t́m phương tiện về nhà.  Một chiếc xe xích lô máy chạy tới bên tôi.  Người tài xế c̣n trẻ, mặc chiếc áo trận xanh đă bạc mầu, da mặt nhuộm nâu v́ nắng gió.  Anh dừng xe và hỏi:


 - Bác về đâu?


 - Tôi về đường Tự Đức, Phú Nhuận.


 - Cháu biết đường này.  Bây giờ đường Tự Đức đă đổi tên là Nguyễn Thị Huỳnh.


 - Tôi không có sẵn tiền.  Anh chở tôi về nhà lấy tiền được không?


 - Không sao.  Bác yên tâm.


Anh chợt hỏi tôi:


 - Bác mới đi cải tạo về?


 - Tôi vừa về tới.


Thấy tôi tay không, anh tài xế hỏi:


 - Hành lư của bác để đâu, chỉ chỗ cháu xách cho.


 - Tôi không có ǵ mang theo.


Anh tỏ vẻ ngạc nhiên, có lẽ tôi là người đầu tiên, khác với những người anh gặp trước đây.  Bất chợt anh lấy từ túi áo trận gói thuốc lá “Basto xanh”, thứ thuốc tôi bắt đầu hút từ sau ngày 30-4-1975.  Anh đưa gói thuốc, hỏi tôi:


 - Bác hút thuốc không?


Tự nhiên tôi thấy thèm khói thuốc.  Từ lúc rời toa ăn ở Long Khánh đến giờ tôi chưa hút điếu thuốc nào.  Tôi rút điếu thuốc và nói:


 - Cám ơn anh.  Trời về chiều se lạnh.  Hút điếu thuốc vào giờ phút này sẽ ngon vô cùng.


Anh lấy chiếc bật lửa Zippo đưa cho tôi mồi lửa.  Như một thói quen, tôi bật lửa bằng hai ngón tay.  Vẫn âm thanh quen thuộc đă một thời theo tôi với gói thuốc Pall Mall.  Tôi hít hơi dài, nuốt trọn phần khói trong miệng.  Dĩ văng như quyện trong khói thuốc, vừa thơm ngon đậm đà của một thời huy hoàng yêu thương thuở trước, nhưng cũng dậy lên vị đắng của cơn mê “Thiên đường hoang tưởng” hiện tại.


Thấy cách tôi hút thuốc, anh hỏi:


 - Bác thường hút thuốc trong trại?


 - Tôi thường hút thuốc lào ba số 8, v́ thời tiết ngoài Bắc vào cuối năm rất lạnh. Thuốc điếu hút không đă cơn thèm.


 - Trước kia bác hút thuốc loại nào?


 - Tôi hút Pall Mall, nhưng sau 30-4 tôi đổi qua thuốc Basto xanh.


 - Cháu cũng như bác.  Bây giờ cháu hút thuốc này, dù kém ngon nhưng không nhạt nhẽo như thuốc lá Điện Biên hay Vàm Cỏ.


Tự nhiên tôi thấy gần gũi với người thanh niên này.  Tôi hỏi anh:


 - Anh cho tôi biết tên được không?


 - Cháu tên Thành.


 - Anh Thành trước kia có vào quân đội không?


 - Cháu vào lính được hơn một năm th́ miền Nam mất.


 - Anh ở đơn vị nào?

 

 - Cháu thuộc sư đoàn 18.


 - Hiện giờ gia đ́nh anh Thành ra sao?


 - Cháu có 2 cháu nhỏ, nhà cháu buôn bán ở chợ gần nhà. Cháu cố kiếm đủ sống cho gia đ́nh.


Thấy tôi đứng đă lâu, Thành mời tôi lên xe, nói:


 - Trời c̣n sớm.  Cháu chạy một ṿng Sài G̣n để bác nhớ lại khung cảnh ngày xưa.

 - Cám ơn anh Thành.  Tôi xa nhà đă lâu, mọi thứ đều khác lạ.

 

oOo


Tôi nắm chặt tay Thành khi chia tay anh, một người tuổi trẻ đă đóng góp phần ḿnh để bảo vệ mảnh đất thân yêu này.  Tôi cảm nhận một điều, miền Nam mới chính là quê hương của tôi, mặc dù tôi sinh ra và lớn lên tại miền Bắc, nhưng vẫn cảm thấy lạc lơng khi trở về quê cũ.


Tôi bước vào nhà.  Vợ tôi nét mặt vui tươi, ngấn lệ long lanh khóe mắt.  Nàng và các con vây quanh.  Tôi xúc động ôm chặt các con vào ḷng, để tận hưởng hơi ấm gia đ́nh xum họp, mà trong suốt thời gian tù đầy vừa qua, những h́nh ảnh thân yêu gia đ́nh đă là đốm lửa cuối đường để tôi nhắm tới mà hy vọng.


Ḷng tôi hân hoan.  Chúng tôi thật may mắn, vừa t́m lại được t́nh yêu thương mà tưởng chừng đă mất.

 

 

Trần Nhật Kim

(Đặc San Lâm Viên)



Chú Thích:

 

                                                                              Trại tù Thanh Cẩm

 

Trại Thanh Cẩm nằm trong xă Cẩm Thành bên bờ sông Mă, thuộc huyện Cẩm Thuỷ tỉnh Thanh Hoá.


Xă Cẩm Thành:  Năm 1964 xă Cẩm Thành và xă Cẩm Liên được tách ra từ xă Cẩm Thạch.  Sau khi được thành lập, xă Cẩm Thành gồm có 14 xóm: Chanh, Én, Muối, Vạc, Ngọc, Nấm, Phâng, Bọt, Bèo, Trẹn, Khạt, Chiềng Tràm, C̣ Cánh và Hồng Thái.


Diện tích xă Cẩm Thành:  30,64 km2.


Phía Bắc giáp các xă: Điền Trung và Lương Trung, (huyện Bá Thước).  Phía Đông giáp xă Cẩm Lương (huyện Cẩm Thuỷ).  Phía Nam giáp các xă:  Cẩm Thạch và Cẩm Liên (huyện Cẩm Thuỷ).  Phía Tây giáp: xă Điền Hạ và Điền Trung (huyện Bá Thước).


Xă Cẩm Thành nằm về phía Tây Bắc Huyện Cẩm Thuỷ, phần lớn nằm về hữu ngạn sông Mă.  Xă Cẩm Thành có tỉnh lộ 217 chạy qua.

 

Huyện Cẩm Thuỷ:  là một thị trấn của tỉnh Thanh Hoá, gồm 19 xă:  Cẩm B́nh, Cẩm Châu, Cẩm Giang, Cẩm Liên, Cẩm Long, Cẩm Lương, Cẩm Ngọc, Cẩm Phong, Cẩm Phú, Cẩm Quư, Cẩm Sơn, Cẩm Tâm, Cẩm Tân, Cẩm Thạch, Cẩm Thành, Cẩm Tú, Cẩm Vân, Cẩm Yên và Phúc Dó. Cẩm Thuỷ có diện tích 425.03 km2.  Dân tộc gồm: Mường, Kinh và Dao.


Về giao thông, huyện Cẩm Thủy có đường Liên vận 217 nối vùng Thượng Lào với Biển Đông.  Huyện Cẩm Thuỷ nằm về phía Tây Bắc tỉnh Thanh Hoá, cách thành phố Thanh Hoá 80Km.  80o/o diện tích huyện Cẩm Thủy là đồi núi.

                          Sơ đồ trại tù Thanh Cẩm, Huyện Cẩm Thủy, Thanh Hóa

 

                                            Trại tù Quyết Tiến (Cổng Trời – Hà Giang)       

           
Trại Quyết Tiến nằm trong địa phận xă Quyết Tiến, một xă thuộc huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang.

Xă Quyết Tiến: Bắc giáp xă Tùng Vải (thị trấn Tam Sơn).  Đông giáp xă Quản Bạ, xă Đông Hà và xă Thuận Ḥa (Vị Xuyên).  Nam giáp xă Thuận Ḥa (Vị Xuyên) và Minh Tân.  Tây giáp xă Minh Tân.  Diện tích:  60Km2.   Tọa độ:  23o 00’ 16” B   -   104o 58’ 01” Đ                   
 Đường lên Trại Quyết Tiến (Cổng Thời- Hà Giang)

Huyện Quản Bạ: Nằm về phía Bắc tỉnh Hà Giang.  Phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Vân Nam (TQ).  Phía Nam giáp Vị Xuyên.  Phía Đông giáp huyện Yên Minh.    Diện tích: 550Km2.

Tỉnh Hà Giang:  Phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng.  Phía Tây giáp tỉnh Yên Bái và Lào Cai.  Phía Nam giáp tỉnh Tuyên Quang.  Phía Bắc giáp tỉnh Vân Nam và Quảng Tây (TQ).                         

Tọa độ: 22o 10’ đến 23o 30’ vĩ độ Bắc và 104o 20’ đến 105o 34’ kinh độ Đông.

Diện tích toàn tỉnh: 7.884, 37Km2.  Với các quốc lộ chính: QL 2,  QL 34, QL 4C, QL 279. Với 2  sông: sông Lô và sông Gầm.  Hà Giang là tỉnh miền núi, có ngọn Tây Côn Lĩnh cao 2.418m. Độ cao trung b́nh khoảng 800m so với mặt nước biển.

https://1.bp.blogspot.com/-EIiTTDTlqjU/XKu8lCNFBMI/AAAAAAAA21Q/0dkbWGGJwNMzGTB6-H_3gX_HvHasukLQwCLcBGAs/s640/so-do-trai-quyet-tien.jpg

Sơ đồ trại rù Quyết Tiến (Cổng Trời)

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính