Trận Vũng Rô ngày 18 tháng 2 năm 1965

 

Trần Lư

 

 

H́nh minh hoạ của jenikirbyhistory.getarchive.net

 

Từ những năm trong thập niên 60, t́nh báo Việt-Mỹ đă ghi nhận được những sự xâm nhập của Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) vào Miền Nam Việt Nam. Các báo cáo của Ủy Hội Quốc Tế Kiểm soát Đ́nh chiến (International Control Commission =ICC) đặt ra do Hiệp định Geneve (1954), đă viết trong năm 1962: ‘ Nhân sự vơ trang và không vơ trang, vơ khí, đạn dược và các trang, thiết bị quân sự khác đă được gửi từ Miền Bắc xuống Miền Nam với mục đích yểm trợ, tổ chức hoặc tiếp tục các hành vi chống đối, kể cả tấn công các lực lượng an ninh của Miền Nam...’ Báo cáo này dĩ nhiên là gặp sự phản đối của Phái đoàn Ba Lan trong ICC.

 

Vấn đề đặt ra cho các giới chức quân sự Việt-Mỹ là: mọi người đều đồng ư về việc có sự xâm nhập từ Miền Bắc, nhưng lại chưa đồng ư về phương thức xâm nhập: một phái cho rằng bằng đường biển, phái khác cho là bằng đường bộ, qua những vùng rừng núi dọc biên giới giữa Việt-Lào và Việt-Miên, và một phái nữa, thực tế hơn, cho rằng qua cả hai đường kể trên.

 

Đến tháng 12 năm 1961, các tàu vớt ḿn MSO (MineSweeper, Ocean) của HQ HK bắt đầu phối hợp với HQ VN để tuần pḥng vùng biển của VNCH, phía Nam vĩ tuyến 17. Các chiến hạm HK không trực tiếp chặn xét tàu bè nhưng dùng radar để t́m các mục tiêu khả nghi và thông báo cho chiến hạm HQ VNCH để thực hiện việc chặn xét và lục soát. Ba chiến hạm HQVN cùng tham dự các hoạt động này là HQ 114 (Hàm Tử II), HQ 115 (Chương Dương II) và HQ 116 (Bạch Đằng II). Đây là những chiến hạm được Hoa Kỳ chuyển giao cho VN vào năm 1959.

 

Đến tháng 2 năm 1962, chương tŕnh tuần pḥng được mở rộng hơn về phía Vịnh Thái Lan với sự tham dự của các Khu trục hạm HK loại Destroyer Escort (DE).

 

Tuy nhiên, các chương tŕnh tuần tiễu hỗn hợp này bị đánh giá là không hữu hiệu nên được chấm dứt vào tháng 8 năm 1962. HQ Thiếu Tá Chung Tấn Cang, Chỉ huy trưởng Hành quân của HQVNCH vẫn tin rằng 60% số lượng xâm nhập và tiếp tế của CSBV vào Miền Nam là do đường biển (?).

 

Từ 1964, một phái đoàn nghiên cứu đặc biệt của HQ HK do Đại Tá Phil Bucklew hướng dẫn đă t́m hiểu vấn đế tiếp vận của CS và sau khi đến rất nhiều địa điểm: từ các tiền đồn hẻo lánh trên vùng Cao nguyên đến các vùng đầm lầy Năm Căn, các hải đảo nhỏ ngoài khơi Biển Ddông và Vịnh Thái Lan... Phái đoàn này đă nh́n tận mắt các loại vơ khí bị tịch thu như AK-47 của Liên Sô, đại liên 7 ly 62, súng cối 82 từ Nga, Trung cộng. Ngày 15 tháng 2 năm 1964, ĐT Bucklew đưa ra bản phúc tŕnh: “Nhiều bằng chứng cho thấy việc xâm nhập nhân sự từ BV vào Miền Nam, phần chính là bằng đường bộ, trong khi đó hệ thống sông ng̣i chằng chịt của miền châu thổ sông Cửu Long là những đường tiếp vận lư tưởng để vận chuyển các thiết bị quân sự nặng. Việc sử dụng các ghe đi biển và các tàu thuyền đánh cá để đưa người vào Nam VN đă nhiều lần bị chặn bắt. Một số các súng đạn hạng nặng cũng đă được đưa vào miền Trung bằng các phương thức tương tự. Các vơ khí và binh sĩ CSBV bị bắt trên đảo Phú Quốc cho thấy có sự xâm nhập từ phía Vịnh Thái Lan.”

 

Trên thực tế th́ ngay từ 1959, CSBV đă thành lập Đoàn 559 để tổ chức đưa người vào Nam VN bằng đường bộ và sau đó thành lập Đoàn 759 để lo việc đưa người và vơ khí xâm nhập bằng đường biển. Lực lượng chính trong việc chuyển vận là Đơn vị vận tải đường biển số 125 của Quân đội BV. Chuyến đưa vũ khí bằng đường biển đầu tiên vào Nam VN đưởc thực hiện vào mùa Thu 1962, và nơi đổ hàng là Cà Mâu (BV gọi đường xâm nhập này là ‘Đường HCM trên biển').

 

Mười giờ sáng ngày 16 tháng 2 năm 1965, Trung úy phi công James Bowers, bay một phi vụ trực thăng UH-1B tải thương (1) của Lục quân HK, từ Qui Nhơn về Nha Trang, thời tiết xấu đă khiến anh phải thay đổi phi tŕnh, thay v́ bay trong đất liền, phi cơ đă bay dọc theo bờ biển. Đến 10 giờ 30, sau khi vượt qua Hải đăng ỡ Mũi Varella, ṿng theo một vịnh nhỏ mang tên là Vũng Rô (235 miles phía Bắc Sàig̣n), anh nh́n xuống vịnh và thấy một đảo nhỏ h́nh dạng hơi lạ, đầy cây... đang di động! Khi hạ thấp cao độ để quan sát th́ anh ghi nhận được đây là một tàu đánh cá được ngụy trang với cây đặt trên sàn tàu. Tr/U Bowers đă khẩn cấp báo ngay cho Trung Tá Harvey Rogers, Cố vấn trưởng HK tại Bộ Chỉ huy Vùng 2 Duyên Hải đặt tại Nha Trang và Tr/T Rogers đă thông báo cho HQ Trung Tá Hồ văn Kỳ Thoại, Tư lệnh Vùng 2 Duyên hải VNCH yêu cầu gửi ngay phi cơ đến quan sát sự kiện.

 

Chiếc tàu được ghi nhận là thuộc loại tàu đánh cá ven biển, dài khoảng 45 m, trọng tải chừng 100 tấn.


Quan điểm của HK là dùng phi cơ oanh kích để đánh ch́m chiếc tàu này, nhưng Tư lệnh Vùng 2, Tướng Nguyễn Hữu Có lại muốn bắt sống chiếc tàu để dùng làm tang chứng cho sự xâm nhập của CSBV từ Miền Bắc, do đó HQ VNCH đă dùng toàn bộ số chiến hạm khả dụng trong khu vực để chặn kín đường thoát, dồn chiếc tàu BV vào trong vùng vịnh…

 

Tr/T Thoại đă liên lạc với Thiếu Tá Nguyễn Huy Ánh, Không đoàn trưởng KĐ 62 để yêu cầu KQ can thiệp.


(Phi vụ đặc biệt này đă được Phi công ‘Phượng Hoàng Kim Cương’ ghi lại trong bài Chiến thắng Vũng Rô trên Cánh Thép (canhthep.com) với những chi tiết tóm lược như sau: Trong phi vụ này tác giả cùng bay với Tr/U Chánh. Phi vụ gồm 2 A-1, danh hiệu Phượng Hoàng 1-1, cất cánh từ Biên Ḥa đi Nha Trang và sẽ nhận mục tiêu oanh kích khi bay trên không phận Nha Trang. Pḥng hành quân chiến cuộc KĐ 62, danh hiệu vô tuyến Phi vân đă xác định mục tiêu là một chiếc tầu nhỏ không tên, chở vũ khí của VC đang ở trong vùng không có FAC hướng dẫn, coi chừng pḥng không 12 ly 7 ở các sườn núi quanh đó…

 

Phượng Hoàng 1-1 đă bay vào Đại Lănh dọc theo bờ biển, ở cao độ 2000 bộ, sau đó vào vịnh Vân Phong và xuống thấp hơn để quan sát và t́m mục tiêụ Sau khi xuống thấp đến 500 bộ, phi tuần đă t́m thấy mục tiêu là một chiếc tầu đang chạy thẳng vào vịnh, hai làn sóng trắng rẽ thành h́nh chữ V sau tàu... Chỉ sau một đợt thả 2 trái bom MK-1, tuy không trúng mục tiêu nhưng chiếc tảu do bị sóng dồn đă bị lật úp, mắc cạn. (2).


Trung tá Thoại sau đó đă yêu cầu Tướng Lữ Lan, Tư lệnh SĐ 23 ra lệnh cho Trung Đoàn 49 trú đóng tại Tuy Ḥa đưa bộ binh đến nơi tàu ch́m. Ông cũng dùng Quân vận hạm HQ 405 (Tiền Giang) từ Nha Trang di chuyển đến Vũng Rô. Các đơn vị thuộc Duyên đoàn 24 cũng được lệnh yểm trợ, đồng thời xin Bộ Tư lệnh HQ khẩn cấp gửi người nhái đến địa điểm tàu ch́m để trục vớt.

 

Tuy nhiên các yêu cầu của Tr/T Thoại về các phi vụ thả hỏa châu và oanh kích trong đêm 16 rạng 17 đă không được đáp ứng. Một phi cơ quan sát đă báo cáo có một số hoạt động của địch quân trong khu vực, có ánh đèn từ phía tàu ch́m và các di chuyển giữa tàu và bờ.

 

Sáng sớm ngày 17, HQ 405 đến Tuy Ḥa để chuyển quân th́ gặp sự từ chối của Trung Tá Trần Bá (Trung đoàn trường TrĐ 49) viện lư do khu vực quanh Vũng Rô và Mủi Varella tập trung các lực lượng CQ khá đông.


Đến 2 giờ 30 chiều 17, HQ 405 trở lại Vũng Rô và khi tiến vào Vịnh đă gặp tác xạ dữ dội từ bờ biển phía Bắc…

 

Ngày 18 tháng 2, một cuộc họp được triệu tập tại Nha Trang với sự tham dự của Tướng William E Dupuy, Trưởng Pḥng 3 MAC-V cùng các sĩ quan Đại diện SĐ 23 BB, Đại diện HQ VN, HQ HK và Lực lượng ĐB VNCH. Một kế hoạch hành quân đă được đưa ra: 2 Tiểu đoàn BB thuộc Tr/Đ 49 tiến quân vào vị trí ngăn chặn, dọc Quốc lộ 1 từ Đèo Cả xuống phía Nam, trong đó 1 Đại đội sẽ từ Tiền đồn Đèo Cả tiến xuống bờ biển. Một Đại đội LLĐB sẽ được trực thăng vận đến Đại Lănh (phía Nam Vũng Rô) và sẽ lên Hải vận hạm HQ 405 để đổ bộ vào nơi tàu BV mắc cạn.

 

Trong lúc cuộc họp đang diễn tiến, HQ VNCH tiếp tục gửi lực lượng tăng viện đến vùng hành quân: Hộ tống hạm HQ 08 do HQ Th/tá trịnh Quang Xuân làm hạm trưởng đă đến Vũng Rô để hợp lực với HQ 405 (HQ Th/tá Nhan Chấn Toàn là hạm trưởng). HQ 08 được Tr/T Thoại dùng làm soái hạm trong cuộc hành quân. Hai chiến hạm tiếp tục dùng hải pháo oanh kích vào các mục tiêu trên bờ. Sau đó HQ 405 di chuyển về Đại Lănh để đón ĐĐ LLĐB. Nhưng đến 5 giờ chiều, có lệnh tạm hoăn cuộc đổ quân.

 

Trong đêm 18 tháng 2, Hộ tống hạm HQ 04 (Tuy Động) do HQ Đ/U Trần văn Triết làm hạm trưởng, đă đến khu vực hành quân, chở trên tàu 15 Người nhái HQVN cùng Đ/U Franklin Anderson, Cố vấn LL Người nhái. Đồng thời Bộ Tư lệnh HQ cũng gửi thêm Dương vận hạm HQ 502 (Thị Nại) do Th/T Ngô Khắc Luân làm hạm trưởng đến để tăng cường cho lực lượng.

 

Ngay 8 giờ sáng ngày 19, sau đợt oanh kích của KQ VNCH, cả 3 chiến hạm cùng tiến vào vịnh, nhưng khi đến cách bờ khoảng 500m vẫn bị súng từ bờ bắn ra dữ dội, nên các chiến hạm phải lùi ra và các phi cơ tiếp tục oanh kích. Sau 2 đợt oanh kích tiếp theo đến 11 giờ ĐĐ LLĐB đổ được vào bờ biển, tuy vẫn bị bắn sẻ nhưng các chiến sĩ LLĐB đă bảo vệ được khu vực và công việc trục vớt bắt đầu.

 

(Trong tập sách: Can trường trong Chiến bại, Phó Đề đốc Hồ văn Kỳ Thoại, đă ghi lại cuộc đổ quân này như sau:


“Đúng 8 giờ sáng, khu trục cơ của KQ bắt đầu dội bom xuống băi biển. Ba chiến hạm từ từ tiến vào gần bờ. Sau khi phi cơ oanh tạc xong, HQ 405 bắt đầu tác xạ vào bờ để chuẩn bị cho Đại đội BK Dù đổ bộ. Khi đến cách bờ khoảng nửa hải lư th́nh ĺnh từ trong bở địch bắn dữ dội vào HQ 405. Sự bắn trả bất th́nh ĺnh làm cho Th/T Toàn cho chiến hạm ngưng lại, không tiến lên nữa. trong một giây khắc tôi phải lấy một quyết định sinh tử. Tôi thông cảm với Th/T Toàn về trách nhiệm của người hạm trưởng nhưng tôi cần phải quyết định gấp v́ HQ 405 đang thành một mục tiêu không di động. Qua máy vô tuyến tôi nói với Toàn: Không thể trở ra được nữa, anh đă quá gần bờ, yêu cẩu anh ủi băi luôn. Th/T Toàn ra lịnh cho chiến hạm chạy thật nhanh thẳng vào bờ. Cửa chiến hạm mở ra và ĐĐ Biệt kích chạy thật nhanh từ cửa chiến hạm vào thẳng trong các bụi rậm ở băi biển” )

 

Trong bài ‘Nhiệm vụ của Người Nhái trong cuộc Hành quân Phá hủy Mật khu Vũng Rô 1965’ của NN Lê Đ́nh An, trên trang Web của ThuVien VN, đă ghi lại những hoạt động của Người Nhái:

 

“Khoàng 12 giờ trưa, pḥng trực NN nhận công điện khẩn của BTL/HQ/P3. Tổ trực công tác 2 người, tôi và Đạt với đầy đủ trang bị được quân xa đưa chúng tôi vào phi trường bên MAC-V và chúng tôi được phản lực cơ loại nhỏ đưa đến phi trường Chu Lai. Trực thăng VN bốc chúng tôi đến Vũng Rô, đáp xuống Quốc lộ 1, và chúng tôi được đón tiếp xuống chiếc Yabuta. Lúc đó khoảng 3 giờ rưởi chiều. Sau khi nhận lệnh từ HQ 405, tổ NN đi vào thám sát t́nh h́nh trong vịnh. Chiếc Yabuta chạy vào ḷng địch với nhiệm sở tác chiến, khi chiếc ghe tiến vào bờ c̣n chừng 300m thỉ bị thượng liên và súng cá nhân VC trên triền núi bắn xuống dữ dội. Chúng tôi được lệnh rút lui ra. Ngày hôm sau, trên chiếc hải thuyền, chúng tôi đă được tăng cường thêm 15 NN từ Sài g̣n ra với đầy đủ trang bị. Chiếc xuồng cao su Zodiac chở NN sẵn sàng đổ bộ theo hải thuyền nương sau chiến hạm tiến dần vào. Sau hơn 1 giờ oanh kích, tiếng sùng của địch giảm lần và toán NN chúng tôi được lệnh đổ bộ lên băi. Chiếc xuồng cao su tách khỏi hải thuyền, vượt nhanh lên phía trước tiến thẳng vào băi cát dưới làn mưa đạn hải pháo bắn yểm trợ. Toán NN với vũ khí cá nhân, nằm rạp trên xuồng caosu lao nhanh vào bờ, khi chiếc xuồng vừa chạm cát, toán NN cấp tốc dàn đội h́nh, vừa bắn vừa tiến nhanh vào sườn núi và mở rộng ṿng đai an toàn trên băi cát, lập đầu cầu cho tàu đổ quân. Trong lúc đó  chiếc Hải vận hạm mở cửa Ram ủi băi.”

 

Không xa nơi đổ bộ, Lực lượng hành quân đă khám phá được một hang cất giấu quân dụng với khoảng 4000 súng đủ loại gồm súng trường, tiểu liên cùng hàng ngàn thùng đạn, dược phẩm... Đến 6 giờ 30 chiều, HQ 405 đă đổ bộ thêm 1 ĐĐ Bộ binh để giúp lục soát.

 

Các cuộc lục soát được tiếp tục cho đến ngày 24 tháng 2.

 

Diễn tiến cuộc lục soát được PĐĐ Thoại ghi lại thêm các chi tiết:

 

“Việc di chuyển súng đạn tịch thu gặp rất nhiều khó khăn v́ toán quân của LLĐB từ chối khiêng đạn lên tàu. Thủy thủ đoàn cùng với một số quân nhân BB khác cũng cố gắng đem lên tàu và chở về Nha Trang được trên 2000 súng và hơn trăm tấn đạn. Từ ngày 20 đến 24 tháng 2, cuộc lục soát tiếp diễn trong khi chiến hạm dùng hải pháo bắn lên sườn núi. Trong ngày 24 một quả đạn trọng pháo t́nh cờ rơi trúng một hầm đạn trên núi, nổ tung làm rung động cả vùng.”

 

Kết quả: Số lượng trang thiết bị quân sự gồm:

- Hơn 1 triệu viên đạn súng cá nhân.

- Hơn 1000 lựu đạn thỏi.

- 250 kg thuốc nổ TNT, cùng ng̣i nổ.

- 2000 quả đạn súng cối.

- 500 lựu đạn chống chiến xa.

- 3600 súng trường và tiểu liên.

- 250 kg tiếp liệu y dược.

 

Nhăn hiệu ghi trên súng đạn và y-cụ cho thấy xuất xứ từ Trung Cộng, Liên Sô, Bắc Hàn, Tiệp Khắc và Đông Đức.

 

Trong quân trang của các thủy thủ BV bị hạ c̣n có cả Báo Hải Pḥng, đề ngày 23 tháng Giêng năm 1959, bản đồ hải hành BV, thư từ và địa chỉ liên lạc của các cán binh BV. Trong nhật kư tịch thu từ xác sĩ quan BV bị hạ cũng có h́nh ảnh, giấy tờ, chứng minh thư ghi rơ cấp bực, đơn vị, thuộc SĐ 338 CSBV.

 

(Toán NN lặn xuống thám sát nơi tàu ch́m sâu chừng 7-8 thước nước: Chiếc tàu bị ch́m nghiêng theo triền vách đá của bờ, phía ngoài tàu có chữ Tàu. Khi lặn vào trong khoang tàu nơi pḥng lái, từ chiếc la bàn, bản đồ hải tŕnh, và chiếc đồng hồ trong Pḥng lái đều là chữ Tàu).

 

Chiếc tàu thuộc loại vỏ sắt dài 40m, đóng tại Trung Cộng, vơ trang đại liên thuộc Đơn vị K35, nhóm vận tải đường biển 125 của HQ BV, xuất phát từ Hải Pḥng, chạy dọc hải phận quốc tế để tránh sự kiểm soát của các chiến hạm VNCH, sau đó sẽ đâm thẳng vào địa điểm đổ hàng. Cũng theo nhật kư hải hành th́ tàu này đă xâm nhập và chuyển hàng vào Nam Việt Nam được 22 chuyến, trong các lần trước, nếu đổ hàng không kịp, tàu sẽ trở ra hải phận quốc tế để đêm sau sẽ trở lại. Đây là chuyến thứ 23 của chiếc tàu.

 

Trong thời gian xẩy ra sự kiện Vũng Rô, Đại tướng Nguyễn Khánh (lúc đó đang là Tổng tư lệnh Quân đội) đă ghé thăm và quan sát tại chỗ nơi xẩy ra trận đánh cùng các vơ khí tịch thu được.

 

 

Trần Lư

 

Nguồn: canhthep.com; vuthat.wordpress.com

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính