|
Tháng Tư, Tưởng Niệm
Trần Khải
Tháng 4-1975, Miền Nam sụp đổ. Đất nước thống nhất, và một cuộc trả thù đă
diễn ra ở tầm mức rộng lớn kéo dài nhiều thập niên. Hàng trăm ngàn quân
cán chính VNCH bị đẩy vào trại cải tạo, trại giam, công trường lao động...
trong khi nhiều gia đ́nh bị đẩy vào các khu kinh tế mới, rừng sâu nước
độc, và họ và con em trở thành những công dân hạng 3, hạng 4.
Nhiều vị Tướng lănh, sĩ quan Việt Nam Cộng Ḥa tự sát. Và cả những chiến
binh cũng tự sát.
Tự
sát v́ nắm quân mà không giữ được thành đă nhiều lần ghi trong sử Việt
Nam.
Cụ Phan Thanh Giản năm 1867, mất ba tỉnh Miền Tây về tay quân Pháp, đă
tuyệt thực suốt 17 ngày, rồi uống thuốc độc tự tử vào ngày 4 tháng 8 năm
1867. Đó là thời chống Pháp.
Wikipedia ghi lại:
“Ngày 20 tháng 6 năm 1867, Pháp đánh chiếm Vĩnh Long (vốn đă được trao trả
triều đ́nh Huế ngày 25 tháng 5 năm 1863), yêu cầu ông gửi mật thư cho thủ
thành An Giang và Hà Tiên buông súng đầu hàng. Trước sức mạnh áp đảo của
Pháp về mặt quân sự, biết thế không thể giữ nổi, nên để tránh đổ máu vô
ích, Phan Thanh Giản đă quyết định trao thành, không kháng cự, với yêu cầu
người Pháp phải bảo đảm an toàn cho dân chúng. Thế là chỉ trong 5 ngày
(20-24 tháng 6 năm 1867), Pháp chiếm gọn ba tỉnh miền Tây không tốn một
viên đạn. Sau khi thành mất ông tuyệt thực suốt 17 ngày, rồi uống thuốc
độc tự tử vào ngày 4 tháng 8 năm 1867, hưởng thọ 72 tuổi.
Đền thờ Phan Thanh Giản hiện ở ấp Thạnh Nghĩa, xă Bảo Thạnh, huyện Ba Tri,
Bến Tre. Và từ rất lâu, nhân dân ở vùng núi Ba Thê, thuộc huyện Thoại Sơn
tỉnh An Giang vẫn coi ông là một vị thần Thành Hoàng. Ngoài ra ông c̣n
được thờ tại Văn Thánh Miếu Vĩnh Long.” (hết trích)
Trước đó nhiều thập niên, là một cuộc nội chiến, giữa quân nhà Nguyễn và
quân Tây Sơn. Khi thành B́nh Định thất thủ, cụ Vơ Tánh tự thiêu, cụ Ngô
Tùng Châu uống thuốc độc tự sát.
Năm 1801, khi đại quân chúa Nguyễn rút về Gia Định, thành B́nh Định được
giao cho Vơ Tánh và Ngô Tùng Châu trấn giữ. Thành B́nh Định ngay sau đó bị
đại quân Tây Sơn, dưới quyền chỉ huy huy của Thái Phó Trần Quang Diệu và
tướng Vơ Văn Dũng đến bao vây. Trần Quang Diệu sai đắp lũy chung quanh
thành và chia quân vây bốn mặt, Vơ Văn Dũng th́ đôn đốc thủy quân pḥng
giữ cửa Thị Nại. Cuộc bao vây kéo dài đến 14 tháng.
Sách sử kể lại, theo Tự Điển Bách Khoa Mở:
“Trong thành binh sĩ lâu ngày thiếu lương thực, có người khuyên Vơ Tánh
nên vượt ṿng vây trốn thoát, nhưng ông cương quyết ở lại "Không thể được.
Ta phụng mạng giữ thành này, nên thề với thành cùng sống chết. Nếu bỏ
thành mà hèn nhát trốn lấy một ḿnh, th́ sau này c̣n mặt mũi nào trông
thấy chúa thượng?". Ông sau đó cho người trao cho Trần Quang Diệu một bức
thư, xin tha chết cho quân sĩ trong thành. Ông sai thuộc hạ lấy rơm củi
chất dưới lầu Bát Giác, đổ thuốc súng vào, rồi châm ng̣i tự vẫn. Tiếp
theo, Ngô Tùng Châu cũng dùng thuốc độc tự vẫn. Đó là ngày 27 tháng 5 năm
Tân Dậu, tức vào ngày 7 tháng 7 năm 1801.” (hết trích)
Và trước đó nhiều thế kỷ, vào thế kỷ thứ 13, danh tướng nhà Trần là Trần
B́nh Trọng, trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên-Mông, cũng đă chọn
cách tuẫn tiết.
Tự Điển Bách Khoa ghi rằng:
“Tháng 1 năm 1285, 50 vạn quân Nguyên-Mông do Trấn Nam Vương Thoát Hoan,
con trai của Hoàng đế nhà Nguyên Hốt Tất Liệt, cầm đầu chia quân làm hai
cánh tấn công xâm lược Đại Việt. Quân Nguyên Mông là đạo quân cực kỳ thiện
chiến, nhanh chóng chiếm ưu thế tuyệt đối trước quân Đại Việt, ít hơn và
không quen chiến trận. Sau thất bại trong vài trận đánh mở màn, tổng tư
lệnh quân Đại Việt, Quốc công tiết chế Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn quyết
định lui quân về giữ Vạn Kiếp (nay thuộc vùng Vạn Yên, Chí Linh, Hải
Dương). Sau đó, quân Đại Việt lui về Thăng Long, nhưng cũng không giữ được
trước sức tấn công ồ ạt của quân Nguyên.
Hưng Đạo Vương quyết định rút khỏi Thăng Long, lui về Thiên Trường (nay là
tỉnh Nam Định). Trần B́nh Trọng được Hưng Đạo Vương và hai vua Trần giao
cho một nhiệm vụ nặng nề: giữ vùng Đà Mạc - Thiên Mạc, ngăn chặn và cầm
chân quân Nguyên, đảm bảo cho bộ chỉ huy quân kháng chiến rút lui an toàn
và bí mật, không để lại dấu vết.
Tư lệnh quân Nguyên là Thoát Hoan đặc biệt ưu tiên cho cánh quân truy đuổi
này với hai đạo cả thủy lẫn bộ đều do những tướng giỏi, hữu thừa Khoan
Triệt và tả thừa Lư Hằng cùng Ô Mă Nhi, chỉ huy, đều dùng quân khinh kỵ và
thuyền nhẹ để truy đuổi bằng được hai vua Trần.
Trần B́nh Trọng đă tổ chức cuộc đánh chặn ngay tại băi Thiên Mạc. Do sự
chênh lệch quá lớn về quân số, Trần B́nh Trọng bị bắt, nhưng trận đánh là
một thắng lợi cực kỳ quan trọng về mặt chiến lược với cuộc kháng chiến khi
kể từ đó, quân Nguyên hoàn toàn mất dấu bộ chỉ huy kháng chiến.
Sau khi bắt được Trần B́nh Trọng, tướng Nguyên t́m mọi cách để khai thác
thông tin, dọa nạt, dụ dỗ ông. Tuy nhiên, Trần B́nh Trọng kiên quyết không
khuất phục. Khi được hỏi có muốn làm vương đất bắc không, Trần B́nh Trọng
khẳng khái trả lời: “Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất
Bắc. Ta đă bị bắt th́ có một chết mà thôi, can ǵ mà phải hỏi lôi thôi.”
Đó là một trong những câu nói nổi tiếng nhất trong lịch sử chống ngoại xâm
cũng như lịch sử Việt Nam nói chung, trở thành một trong những biểu tượng
của tinh thần yêu nước chống ngoại xâm của dân tộc Việt. Không thể khuất
phục được Trần B́nh Trọng, quân Nguyên buộc phải giết ông.”
Lúc đó là năm 1285. Năm đó, Tướng Trần B́nh Trọng mới 26 tuổi.
Năm 1975, quân lực VNCH có 5 vị Tướng và nhiều quân cán chính tự sát khi
Miền Nam thất thủ.
Theo trang TVVN.org, sau đây là danh sách sưu tập được bởi một cựu SVSQ
khoá 3/73 Thủ Đức.
“Danh
sách các quân nhân Quân Lực VNCH đă tự sát trong những ngày cuối cùng của
Việt Nam Cộng Ḥa như sau:
HỌ TÊN - Cấp bậc - Chức vụ - Đơn vị - Ngày tự sát
1-
Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, cựu tư lệnh Quân Đoàn II 30/4/1975
2- Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, tư lệnh Quân Đoàn IV 30/4/1975
3- Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, tư lệnh phó Quân Đoàn IV 30/4/1975
4- Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, tướng tư lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh 30/4/1975
5- Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, tư lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh 30/4/1975
6- Đại Tá Nguyễn Hữu Thông, trung đoàn trưởng 42 Bộ Binh, Sư Đoàn 22 Bộ
Binh- khóa 16 Đà Lat. 31/3/1975 tự sát tại Quy Nhơn
7- Đại Tá Lê Câu, trung đoàn trưởng 47 Bộ Binh, Sư Đoàn 22 Bộ Binh. Tự sát
ngày 10/3/1975
8- Hải Quân Thiếu Tá Lê Anh Tuấn (bào đệ của Trung Tướng Lê Nguyên Khang).
30/4/1975
9- Thiếu Tá Không Quân Nguyễn Gia Tập, đặc trách khu trục tại Bộ Tư Lệnh
KQ. Tự sát 30/4/75 tại BTLKQ
10- Trung Tá Nguyễn Văn Long CSQG 30/4/1975 tự sát tại công trường Lam
Sơn, Sài G̣n
11- Trung Tá Nguyễn Đ́nh Chi Phụ Tá Chánh sở 3 ANQĐ - Cục An Ninh Quân
Đội. Tự sát 30/4/1975 tại Cục An Ninh
12- Trung Tá Phạm Đức Lợi, phụ tá Trưởng Khối Không Ảnh P2/ Bộ TTM
30/4/1975
13- Trung Tá Vũ Đ́nh Duy, trưởng Đoàn 66 Đà Lạt 30/4/1975
14- Trung Tá Nguyễn Văn Hoàn, trưởng Đoàn 67 Pḥng 2 Bộ Tổng Tham mưu. Tự
sát ngày 30/4/1975
15- Hải Quân Trung Tá Hà Ngọc Lương, Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha
Trang. Tự sát ngày 28/4/1975 cùng vợ, 2 con và cháu (bằng súng)
16- Thiếu Tá Đặng Sỹ Vĩnh, trưởng Ban Binh Địa P2 Bộ TTM, sau biệt phái
qua Cảnh Sát 30/4/1975 tự sát cùng vợ và 7 con
17- Thiếu Tá Mă Thành Liên (Nghĩa), tiểu đoàn trưởng 411ĐP, TK Bạc Liêu-
khoá 10 Đà Lạt. 30/4/1975 tự sát cùng vợ
18- Thiếu Tá Lương Bông, phó ty An Ninh Quân Đội Cần Thơ- Phong Dinh. Tự
sát ngày 30/4/1975
19- Thiếu Tá Trần Thế Anh, đơn vị 101. Tự sát ngày 30/4/75
20- Đại Úy Vũ Khắc Cẩn, Ban 3, Tiểu Khu Quảng Ngăi. Tự sát 30/4/1975
21- Đại Úy Tạ Hữu Di, tiểu đoàn phó 211 Pháo Binh Chương Thiện. Tự sát
30/4/1975
22- Trung Úy CSQG Nguyễn Văn Cảnh, trưởng cuộc Vân Đồn, Q.8. Tự sát ngày
30/4/1975
23- Chuẩn Úy Đỗ Công Chính, TĐ 12 Nhảy Dù. Tự sát ngày 30/4/1975 tại cầu
Phan Thanh Giản
24- Trung Sĩ Trần MinhTrần Minh, gác Bộ Tổng Tham Mưu. Tự Sát 30/4/1975
25- Thiếu Tá Đỗ Văn Phát, quận trưởng Thạnh Trị Ba Xuyên 1/5/1975
26- Thiếu Tá Nguyễn Văn Phúc, tiểu đoàn trưởng, Tiểu Khu Hậu Nghĩa
29/4/1975
27- Trung Tá Phạm Thế Phiệt 30/4/1975
28- Trung Tá Nguyễn Xuân Trân, Khoá 5 Thủ Đức, Ban Ước T́nh T́nh Báo P2
/Bộ TTM. Tự sát ngày 1/5/75
29- Trung Tá Phạm Đức Lợi, Pḥng 2 Bộ TTM, khóa 5 Thủ Đức, học giả, nhà
văn, thơ, soạn kịch…bút danh: Phạm Việt Châu, cựu giảng viên SNQĐ, trưởng
phái đoàn VNCH thực hiện HĐ Paris tại Hà Nội. Tự sát tại nhà riêng ngày
5/5/1975
30- Đại Úy Nguyễn Văn Hựu, trưởng Ban Văn Khố P2/Bộ TTM. Tự sát sáng
30/4/75 tại P2/Bộ TTM
31- Thiếu Úy Nguyễn Phụng, CS đặc biệt, 30/4/1975 tại Thanh Đa, Sài G̣n
32- Thiếu Úy Nhảy Dù Huỳnh Văn Thái, khoá 5/69 Thủ Đức. 30/4/1975 tự sát
tập thể cùng 7 lính Nhảy Dù tại Ngă 6 Chợ Lớn.
33- Trung Úy Đặng Trần Vinh (con của Thiếu Tá Đặng Sĩ Vinh), P2 BTTM. Tự
sát cùng vợ con 30/4/1975
34- Trung Úy Nghiêm Viết Thảo, An Ninh Quân Đội, khóa 1/70 Thủ Đức. Tự sát
30/4/1975 tại Kiến Ḥa
35- Thiếu Úy Nguyễn Thanh Quan (Quan Đen), phi công PĐ 110 Quan Sát (khóa
72). Tự sát chiều 30/4/1975
36- Hồ Chí Tâm B2, TĐ 490 ĐP (Mănh Sư) TK Ba Xuyên (Cà Mau). Tự sát bằng
súng M16 trưa 30/4/1975 tại Đầm Cùn, Cà Mau
37- Thượng Sĩ Phạm Xuân Thanh, trường Truyền Tin Vũng Tàu. Tự sát ngày
30/4/1975 tại Vũng Tàu
38- Thượng Sĩ Bùi Quang Bộ, trường Truyền Tin Vũng Tàu. Tự sát ngày
30/4/1975 cùng gia đ́nh 9 người tại Vũng Tàu
Danh sách này do một cựu SVSQ khoá 3/73 Thủ Đức sưu tầm từ những tư liệu
không được đầy đủ, cần có một cơ quan nào đó làm việc cập nhật bản danh
sách các anh hùng của QLVNCH để được đầy đủ và chính xác nhằm lưu danh cho
hậu thế.” (hết trích)
Xin
thành kính tưởng niệm. Và trân trọng thành kính vinh danh.
Trần Khải
|