Việt Nam Cộng Ḥa 10 ngày cuối cùng

 

- Phần 9 -

 

Trần Đông Phong

 

 

NGÀY THỨ BA 22 THÁNG 4/1975

 

Theo Oliver Todd trong Cruel Avril th́ vào ngày 22 tháng 4 năm 1975, tức là sau ngày ông Nguyễn Văn Thiệu từ chức, Lê Duẫn nhân danh Bộ Chính Trị của Đảng Lao Động Bắc Việt đă đánh điện cho Lê đức Thọ và Văn tiến Dũ ng đang đặt bản doanh tại Lộc Ninh, ra lệnh “Phải gia tăng các cuộc tấn công và đánh mạnh đánh mau trên khắp mọi mặt, mọi hướng. Bức điện văn của Lê Duẫn kết luận rằng “tấn công chậm đi một ngày nào th́ sẽ đưa đến những hậu quả vô cùng nghiêm trọng trên cả hai phương diện quân sự cũng như chính trị” Oliver todd: Sách đă dẫn, trang 319.

 

Theo nhận định của Oliver Todd th́ dường như Tổng Bí Thư Đảng Lao Động Bắc Việt sợ rằng nếu t́nh h́nh chính trị cứ kéo dài th́ trong thời gian nầy có thể sẽ có những sự can thiệp của quốc tế như hồi năm 1954 khiến cho Việt Minh đă phải chấp nhận một giải pháp chia cắt ở vĩ tuyến 17 thay v́ một chiến thắng toàn diện.

 

Trong bức điện văn gởi lúc 15 giờ 30 ngày 22 tháng 4 năm 1975 cho “anh

Tuấn” (Văn tiến Dũng) “anh Sáu” (Lê đức Thọ) “anh Bảy” (Phạm Hùng) và anh

Tấn” (Lê trọng Tấn) Lê Duẫn cho biết rằng sau khi nghe ông Thiêu từ chức, Bộ Chính Trị đă họp và “nhất trí nhận định và đề ra chủ trương như sau:

“Nguyễn Văn Thiệu đă phải từ chức. Để làm chậm lại cuộc tấn công của ta vào Sài G̣n, Mỹ Ngụy đă lập chính phủ mới, đưa ra với ta đề nghị ngưng bắn, đi đến một giải pháp chính trị ḥng cứu văn t́nh thế thất bại hoàn toàn của chúng. Thời cơ để mở cuộc tổng tiến công về quân sự và chính trị vào Sài G̣n đă chín muồi.

 

Ta cần tranh thủ từng ngày để kịp thời phát động tiến công. Hành động trong lúc nầy là bảo đảm chắc chắn nhất để giành thắng lợi hoàn toàn. Nếu để chậm sẽ không có lợi cả về quân sự và chính trị.

 

Các anh ra lệnh ngay cho các hướng hành động kịp thời, đồng thời chỉ thị cho khu Ủy Sài G̣n-Gia Định sẵn sàng phát động quần chúng nổi dậy kết hợp với các cuộc tấn công của quân đội.

 

Nắm vữ ng thời cơ lớn, chúng ta nhất định giành toàn thắng.”. Văn Kiện Đảng, trang 300-301.

 

Tuân lệnh của Bộ Chính Trị, với tư cách là Tổng Tư Lệnh Chiến Trường Miền Nam, Văn tiến Dũng đă ban lệnh cho tất cả các đơn vị của cộng sản Bắc Việt từ Chiến Khu C, Chiến Khu D, Khu Tam Giác Sắt ở Miền Đông, cũng như các đơn vị Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long và Vùng Cà Mâu phải khởi sự chuẩn bị tấn công vào Sài G̣n và các Tỉnh.

 

Sau khi ông Thiệu từ chức và sau khi nhận lệ nh của Bộ Chính Trị, Ban Thường Vụ của Trung Ương Cục Miền Nam đă gở i ngay một thông tri số 10/TT ngày 22 tháng 4 năm 1975 cho tất cả mọi cán bộ và cơ sở tại Miền Nam nguyên văn như sau:

1.  Do những thắng lợi dồn dập của ta và trước nguy cơ sụp đổ hoàn toàn của ngụy quyền Sài G̣n, đế quốc Mỹ đă ép Thiệu từ chức ḥng t́m biện pháp ngăn chận tổng công kích, tổng khởi nghĩa của ta, làm lạc hướng đấu tranh của quần chúng, mong tránh khỏi thất bại hoàn toàn của chúng.

             Việc Thiệu từ chức và Hương lên thay trong t́nh h́nh hiện nay càng làm cho tinh thần ngụy quân, ngụy quyền sụp nhanh, nội bộ chúng càng mâu thuẫn phân hóa sâu sắc, càng có lợi cho ta tấn công nổi dậy và dành thắnng lợi nhanh chóng ở thành thị và nông thôn.

V́ vậy các cấp đảng bộ và toàn thể quân dân ta cần phải:

-   Nắm vững mục tiêu đánh đổ toàn bộ chính quyền địch, dành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân.

-   Quyết đẩy mạnh cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa và quyết dành toàn

thắng.

-   Đả phá mọi tư tưởng chờ đợi, chập chờn, do dự.

2.   Các cấp các ngành đều phải tập trung sức đẩy mạnh tấn công nổi dậy,

đồng thời tiếp quản xây dựng tốt vùng giải phóng và phát triển các lực lượng cách mạng. Phải hết sức tranh thủ thời cơ và thời gian thuận lợi hiện nay để dành toàn thắng, không được chút nào do dự, chần chừ, dù là kẻ địch có đưa ra bất cứ đề nghị thương lượng nhân nhượng nào.

- Phải khẩn trương thực hiện các kế hoạch tấn công quân sự thật kiên quyết triệt để, tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch và chiếm lĩnh các mục tiêu quy định.

- Thẳng tay phát động nhân dân nổi dậy dành chính quyền, nhanh chóng tháo gỡ hàng loạt đồn bót giải phóng nông thôn, nhanh chóng diệt ác phá kềm, mở rộng quyền làm chủ đưa lên phong trào khởi nghĩa để phối hợp với tấn công quân sự dành giải phóng các thành thị.

 

- Đặc biệt là cần đẩy mạnh hơn nữa công tác vận động binh lính và nhân viên ngụy quyền, nhân thời cơ nầy làm tan ră lớn ngụy quân, ngụy quyền.

3.  Tiếp theo việc Thiệu từ chức, sẽ c̣n có những thay đổi khác trong bọn cầm đầu ngụy quân, ngụy quyền. Các cấp cần theo dơi sát các diễn biến nầy để liên tục tranh thủ những thời cơ cụ thể mà đẩy mạnh tấn công nổi dậy và kịp thời tấn công binh vận thật sắc bén dành thắng lợi mau lẹ và to lớn hơn nữa.

                            Ở Sài G̣n và các Thành Phố, phải kịp thời ngăn chận và đối phó với mọi âm mưu tuyên truyền lừa mị của Mỹ-Ngụy, đừng để quần chúng lạc hướng đấu tranh trong lúc nầy. Phải nhân cơ hội nầy mà đưa quần chúng nổi dậy dùng bạo lực chính trị và vũ trang kết hợp với binh tề vận mà diệt ác trừ gian dành quyền làm chủ cơ sở. Phải dựa vào sức đấu tranh cách mạng của quần chúng cơ bản mà lôi kéo quần chúng tiểu tử sản, trí thức tiến bộ đi theo con đường cách mạng, đừng để cho các lực lượng trung gian lừng chừng gieo rắcảo tưởng ḥa b́nh thương lượng trong quần chúng, kéo quần chúng đi lạc hướng đấu tranh đấu tranh cách mạng, chệch con đường tấn công nổi dậy dành toàn thắng.

Sau việc Thiệu từ chức, thái Độcủa quần chúng, của nhân viên chính quyền và binh lính địch, của các phe phái chính trị tiến bộ và phản động thế nào, cần báo ngay về KBN (bí danh của Trung Ương Cục). Văn Kiện Đảng: Trang 302-304.

 

Như vậy sau khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, cộng sản Bắc Việt không hề có ư định thương thuyết với bất cứ người nào, bất cứ phe phái nào tại Miền Nam v́ mục tiêu tối hậu của Bắc Việt là tiến công chiếm Sài G̣n cà cưỡng chiếm toàn bộ Miền Nam bằng vơ lực mà thôi. Trong khi đó th́ Tân Tổng Thống Trần Văn Hương lại phải đương đầu với những áp lực chính trị và ngoại giao nhằm thúc đẩy ông trao quyền lại cho Dương Văn Minh v́ họ nghĩ rằng Dương Văn Minh có đủ điều kiện để thương thuyết với cộng sản Bắc Việt.

 

Theo ông Trần Văn Đôn th́ ngày 22 tháng 4 “Theo lời đề nghị của Brocba, Cố Vấn chính trị và t́nh báo của Ṭa Đại Sứ Pháp, ông đến gặp Dương Văn Minh, ông hỏi ông Minh: “Anh có thương thuyết với bên kia được không?” ông Minh Trả lời: “Được. Nhưng phải thật lẹ, nếu không chúng ta không có hy vọng”.

Ông Minh cho biết Hà Nội chờ ông Minh nắm chính quyền rồi sẽ thương thuyết. Ông Minh chưa tiếp xúc với Tân Tổng Thống Trần Văn Hương v́ ông Hương chậm chạp lại không thích ông Minh cho lắm nên kéo dài thời gian. Việc nầy rất là bất lợi, nhất là có tin Xuân Lộc thất thủ, việt cộng đang tiến vào vây Sài G̣n.

 

Sau đó dù đă quá khuya nhưng ông Đôn vẫn xin đến gặp Đại Sứ Martin tại nhà riêng và yêu cầu ông Martin đề nghị với Cụ Trần Văn Hương giao quyền cho Dương Văn Minh để thương thuyết với Hà Nội. Đại Sứ Martin hứa sẽ thuyết phục Tổng Thống Trần Văn Hương về vấn đề nầy”. Trần Văn Đôn: Sách đă dẫn, trang 461.

 

Không hiểu ông Dương Văn Minh dựa vào đâu mà nói với Trần Văn Đôn rằng: “Hà Nội chờ ông Minh nắm chính quyền rồi sẽ thương thuyết” khiến sau đó ông Trần Văn Đôn phải chạy đôn chạy đáo hết Ṭa Đại Sứ Pháp đến Ṭa Đại Sứ Mỹ để vận động Cụ H ương từ chức, “trao quyền” lại cho Dương Văn Minh trong khi Hà Nội đă quyết định “phải hết sức tranh thủ thời cơ và thời gian thuận lợi hiện nay để dành toàn thắng, dù là kẻ địch có đưa ra bất cứ đề nghị thương thuyết nhân nhượng nào”.

 

Ngoài đại diện của CIA là Tướng hồi hưu Charles Timmers đến gặp Đại Tướng Dương Văn Minh sáng 21.4, tối hôm đó, sau khi Tân Tổng Thống Trần Văn Hương nhận chức, Perre Brocband, Đệ Nhị Cố Vấn và cũng là Trưởng Ngành T́nh Báo tại Ṭa Đại Sứ Pháp đă có mặt tại tư gia của ông Minh, cũng được báo chí Việt Nam hồi đó đặt tên là “Dinh Hoa Lan” ở đường Hồng Thập Tự bên hông Dinh Độc Lập, để hướng dẫn, khuyến khích và nhất là giúp ông Minh chống lại những nỗ lực chống phá ông ta lên nắm chính quyền một khi Cụ Hương bị áp lực phải từ chức. Trong ngày hôm đó, Đại Sứ Pháp Mérillon đă vào Dinh Độc Lập đến hai lần để thuyết phục Tổng Thống Trần Văn Hương nên từ chức.

 

Đại Sứ Hoa Kỳ Graham Martin phải giữ khuôn mặt hợp hiến, hợp pháp của chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa và do đó ủng hộ sự duy tŕ vai tṛ Tổng Thống của Cụ Trần Văn Hương, ít ra là cũng trong thời gian ngắn. Tối 22 tháng 4, Đại Sứ Graham Martin thảo một bức điện văn dài gởi cho Ngoại Trưởng Henry Kissinger trong đó ông Đại Sứ đă phúc tŕnh những điểm chính sau đây:

 

Ông Trần Văn Đôn, Tổng Trưởng Quốc Pḥng, trước đây đă nói với Đại Sứ Martin rằng sau khi ông Thiệu từ chức th́ ông ta sẽ người toàn hảo để đóng vai tṛ Thủ Tướng. Tuy nhiên trong ngày hôm nay th́ ông Đôn lại nói với Đại Sứ Martin rằng người mà Hà Nội mong muốn sẽ đại diện cho Miền Nam để thương thuyết là ông Dương Văn Minh, dĩ nhiên là phải có Trần Văn Đôn trong vai tṛ Cố Vấn. Theo ông Đồn th́ phe Phật Giáo, phe Thiên Chúa Giáo và các Giáo Phái khác đều sẵn sàng ủng hộ giải pháp nầy. Ông Đôn hỏ i Đại Sứ Martin nghĩ sao về giải pháp nầy th́ Đại Sứ Martin trả lời rằng ông không có một quyền hạn nào để ủng hộ hay phản đối giải pháp nầy v́ đây không phải là một vấn đề của người Mỹ mà lại là vấn đề của người Việt Nam. Ông Martin đă đề nghị với ông Tổng Trưởng Quốc Pḥng Trần Văn Đôn là ông ta nên gặp và thảo luận với người Pháp.

 

Đại Sứ Martin cũng phúc tŕnh với Ngoại Trưởng Henry Kissinger rằng ông đă gặp Đại Sứ Pháp Mérillon sau khi ông nầy hội kiến với Tổng Thống Trần Văn Hương. Đại Sứ Mérillon xác nhận rằnng Bộ Ngoại Giao Pháp đang gây áp lực để thúc đẩy cho giải pháp Dương Văn Minh, tuy nhiên Ông Trần Văn Hương phản ứng rất là chậm chạp, có lẽ v́ già yếu và bệnh hoạn. Đại Sứ Martin hỏi Đại Sứ Mérillon rằng liệu có dấu hiệu nào cho thấy Hà Nội có thể sẽ chấp nhận nói chuyện với Dương Văn Minh hay không th́ ông Mérillon không trả lời thẳng cho câu hỏi nầy. Dại Sứ Martin nói ông nghĩ rằng người Pháp đă đề nghị với Hà Nội về giải pháp Dương Văn Minh nhưng Hà Nội chưa trả lời và người Pháp nghĩ rằng Hà Nội đă mặc thị đồng ư. Người Pháp cũng nghĩ rằng nếu có thể đưa ông Minh lên nắm chính quyền ngay th́ sau đó th́ đă một sự đă rồi và Hà Nội sẽ khó mà phản đối.

 

Đại Sứ Martin nói rằng Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn đă được Tổng Thống Trần Văn Hương yêu cầu ngồi lại xử lư thường vụ, tuy nhiên ông Cẩn th́ muốn ra đi. Đại Sứ Martin cho biết ông đă nói thẳng với những người muốn ra đi rằng Ṭa Đại Sứ Mỹ không có sẵn phi cơ, phải đến cuối tuần (26-27 tháng 4) mới có. Ngoài ra, Đại Tướng Dương Văn Minh cũng có cho Tướng Timmes hay rằng một số sĩ quan người Bắc thuộc phe Tướng Kỳ đang chuẩn bị chống lại Ông Minh, ông Đại Sứ đă cử người đến gặp ông Kỳ và nói với ông ta rằng người Mỹ muốn t́nh h́nh tại Sài G̣n phải yên tĩnh cho đến cuối tuần tức là ngày Chủ Nhật 26 hay 27 tháng 4 năm 75.

 

Đại Sứ Martin cũng phúc tŕnh thêm rằng Đại Sứ Mérillon đă vào Dinh Độc Lập hai lần trong ngày để gặp Tổng Thống Trần Văn Hương vào lúc 4 giờ chiều nhưng không đạt được kết quả nào. Ông Mérillon đă yêu cầu ông Đại Sứ Mỹ nên thúc đẩy để Tổng Thống Hương từ chức. Sau đó, Tổng Thống Hương đă mời Đại Sứ Martin vào gặp ông vào lúc 5 giờ chiều và đă nói chuyện với ông Martin với tư cách như là bạn bè. Tổng Thống Hương hỏi ư kiến ông Martin về Dương Văn Minh nhưng ông Đại Sứ Mỹ nói rằng chưa hề có dịp gặp ông Dương Văn Minh chỉ nghe nói nhiều về những tham vọng của ông nầy mà thôi. Đại Sứ Martin nói với Tổng Thống Trần Văn Hương rằng nhóm “lực lương thứ ba” cũng như là một vài Tướng lănh có thể ủng hộ ông Minh và ông Hương có vẻ đồng ư với ông Đại Sứ. Vấn đề quan trọng là liệu cộng sản có chấp nhận nói chuyện với ông Minh hay không và Tổng Thống Trần Văn Hương đề nghị Đại Sứ Martin nên thăm ḍ với ông Đại Sứ Ba Lan trong Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Đ́nh Chiến về vấn đề nầy.

 

Đại Sứ Martin cho biết là trong cuộc hội kiến nầy, Tổng Thống Hương cho thấy ông ta rất b́nh tĩnh, có lúc ông ta quay sang nói chuyện thi ca với ông Brunson McKinley, thông dịch viên tiếng Pháp của Đại Sứ Martin. Tổng Thống Trần Văn Hương cũng có tâm sự với ông Martin rằng: “Nếu tôi phải làm Pétain của Việt Nam th́ ít ra tôi cũng sẽ phải đóng vai tṛ đó trong danh dự và đúng với phẩm giá”. (si je dois être le Pétain du Vietnam, je serai au moins dans l’honner et la dignité) Oliver Todd: Sách đă dẫn, trang 324

 

Đại Sứ Martin phúc tŕnh với Ngoại Trưởng Kissinger rằng sau khi từ giă Tổng Thống Hương, ông đă mời Đại Sứ Ba Lan đến nói chuyện vào lúc 8 giờ tối ngày 22 tháng 4.75. Ông Martin nh ận xét rằng ông Đại Sứ Ba Lan là một đảng viên cộng sản cứng rắn nhưng đồng thời cũng là một nhà ngoại giao chuyên nghiệp. Đại Sứ Martin nói với ông Đại Sứ Ba lan về mối ư u tư của Tổng Thống Trần Văn Hương và nhờ ông ta thăm ḍ với Hà Nội thử xem họ có chấp nhận vai tṛ của Dương Văn minh hay không. Đại Sứ Ba Lan là người thận trọng và ông ta trả lời rằng ông ta sẽ xin phép chính phủ Ba Lan để xúc tiến việc nầy. Đại Sứ Martin nói rằng ông không tin ông Đại Sứ Ba Lan sẽ trả lời cho ông ngay trong ngày hôm sau.

 

Tổng Thống Trần Văn Hương Cho Phép Thả Bom CBU ở Xuân Lộc.

 

Ngay sau khi Cụ Trần Văn Hương nhận chức Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa, trong ngày 22 tháng 4, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Đoàn III đă yêu cầu Đại Tướng Cao Văn Viên xin với Hoa Kỳ yểm trợ cho Vùng 3 một phi vụ B-52 dội bom xuống khu vực chung quanh Xuân Lộc, nhưng Đại Tướng Viên biết rơ người Mỹ không thể nào đáp ứng được điều Đó cho nên ông từ chối. Tuy nhiên trước đó mấy tuần, Đại Tướng Federick Weyand và Phụ Tá Bộ Trưởng Quốc Pḥng Hoa Kỳ Von Marbod đă xoay xở đưa sang Việt Nam mấy trái bom CBU-55. Loại bom nầy c̣n được gọi là “bom dầu” (fuel bomb), loại bom có sức công phá và sát hại mạnh nhất trong các loại vũ khí của Mỹ. Sau khi được thả xuống, bom sẽ nổ tung ra thành hàng trăm trái bom nhỏ khác, mỗi trái nhỏ nầy sẽ tạo thành một bức màn như dầu hỏa có chiều rộng khoảng 17 mét và bề dày chừng 3 mét là đà trên mặt đất rồi sau đó sẽ nổ tung gây ra một áp suất khoảng 300 cân Anh trên một inch vuông (300 pounds per square inch) và hút hết khối lượng oxygen ở dưới đất, ở trong buồng phổi của tất cả mọi sinh vật, dù là ở dưới hầm sau cũng không thở được.

 

         - 13 ngày sau khi đă anh dũng chống lại nhiều đợt tấn công của cộng sản Bắc Việt, các đơn vị cuối cùng của Sư Đoàn 18 đă rút khỏi Xuân Lộc ngày 22 tháng 4. Tất cả nhà báo ngoại quốc đă khen ngợi cuộc rút quân nầy là đă “được hoạch định và thi hành rất hay” và các đơn vị nầy về đến Biên Ḥa th́ chỉ bị thiệt hại chừng 30% quân số sau hai lần giao tranh với một lực lượng địch đông gấp bốn, năm lần.

 

         - Bộ Tổng Tham Mưu đề nghị lên Tổng Thống Trần Văn Hương xin sử dụng loại bom nầy ở Xuân Lộc để ngăn chận sức tiến quân của cộng sản Bắc Việt và chính Tổng Thống Trần Văn Hương đă chấp thuận cho phép Không Quân Việt Nam Cộng Ḥa thả những trái bom nầy.

 

Với sự trợ giúp về kỹ thuật của các chuyên viên thuộc DAO (Văn Pḥng Tuy Viên Quân Sự Hoa Kỳ), Không Quân Việt Nam Cộng Ḥa đă gằn loại bom nầy lên một chiếc phi cơ C-130 xuất phát từ căn cứ Không Quân Tân Sơn Nhất bay lên thả xuống vùng Xuân Lộc, nơi mà các đơn vị cuối cùng của Sư Đoàn 18 vừa mới triệt thoái tối hôm trước. Trái bom CBU-55 nầy được thả xuống ngay trên đầu Bộ Tư Lệnh sư đoàn 341 của cộng sản Bắc Việt lúc đó đang trú đóng ở 6 cây số về phía Tây Bắc Thành Phố Xuân Lộc khiến cho cả ba bốn trăm bộ đội Bắc Việt bị tử thương. Đài phát thanh Hà Nội ngay sau đó đă la lối tố cáo rằng Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Ḥa đă sử dụng loại vũ khí hóa vi quang (Chemical-Biological-Radiological weapons) một cách bất hợp pháp. Trung Hoa cộng sản cũng tiếp tay Hà Nội lên án Hoa Kỳ vô cùng mạnh mẽ về việc đă sử dụng loại vũ khí giết người ghê gớm nầy.

 

Theo Frank Snepp th́ dù có sự phản đối mạnh mẽ nói trên, Không Quân Hoa Kỳ cũng có trợ giúp bằng cách dùng phi cơ thả xuống vùng do cộng sản kiểm soát quanh Thị Trấn Xuân Lộc hằng chục trái bom “daisy cutters”, tên thông dụng của loại bom BLU-82 tức là loại bom dùng để khai quang băi đáp cho trực thăng nặng khoảng 15.000 cân Anh tức khoảng 7 tấn rưỡi cùng với hàng loạt bom 500 cân anh gây ra nhiều thiệt hại nặng nề cho cộng quân. (Sau 1975, cộng sản t́m được 3 trái bom BLU-82 chưa sử dụng và cho triển lăm tại Sài G̣n). Chính Tân Tổng Thống Trần Văn Hương là người cho phép Không Quân Việt Nam Cộng Ḥa thảnhững trái bom hạng nặng nầy xuống đầu quân cộng sản Bắc Việt tại vùng Xuân Lộc.

 

Frank Snepp nói rằng có một số phi cơ của Hoa Kỳ thuộc loại wild Weasel (Con Chồn Hoang) đă được sử dụng trong việc tấn công các đơn vị hỏa tiễn pḥng không lưu động của cộng sản Bắc Việt đang hoạt động trong vùng Đông Bắc Vùng 3 Chiến Thuật. Wild Weasel là biệt danh dành cho các loại chiến đấu cơ F-105 hoặ F-4 được trang bị với những dụng cụ điện tử đặc biệt ECM (electronic counter-measures) nhằm vào khám phá các địa điểm đặt hỏa tiễn pḥng không SAM của việt cộng và dùng phi đạn không địa tiêu diệt các giàn rada điều khiển các hỏa tiển nầy. Văn pḥng CIA Sài G̣n không hề được thông báo về việc nầy và Ṭa Bạch Ốc cũng không muốn cho ai hay biết ǵ về chiếc phi cơ của Không Lực Hoa Kỳ lại đă được sử dụng tại chiến trường Miền Nam Việt Nam trong mấy ngày cuối tháng 4 năm 1975 nầy. Frank Snepp: Sách đă dẫn, trang 416.

 

Theo Đại Tướng Cao Văn Viên th́ “cuối tháng 2 năm 1975, qua những lần viếng thăm Sài G̣n của Phụ Tá Bộ Trưởng Quốc Pḥng Eric Von Narbod và Đại Tướng Frederick Weyand, Bộ Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa có xin Hoa Kỳ cung cấp cho Việt Nam Cộng Ḥa những loại bom chiến lược mà Không Quân có thể sử dụng được. Loại bom Hoa Kỳ cung cấp cho Việt Nam là loại bom có biệt danh là “Daisy Cutter”, nặng 15.000 pounds tức khoảng trên 7 tấn. Không Quân Hoa Kỳ dùng bom nầy để phá rừng, làm băi đáp cho trực thăng trong cuộc chiến. Hoa Kỳ hứa gởi cho 27 quả bom và chuyên viên để huấn luyện sử dụng bom trong ṿng một tuần.

 

Giữa tháng 4, 3 trái được chở đến và cuối tháng 4 thêm 3 trái nữa. Một chuyên viên Hoa Kỳ đi theo để hướng dẫn Không Quân Việt Nam gắn ng̣i nổ và cách chuyển vận bom trên phi cơ, tuy nhiên người phi công Hoa Kỳ có trách nhiệm lái phi cơ lại không đến. Trong t́nh trạng khẩn trương của chiến trường và sự nguy hiểm khi phải tồn trữ loại bom nầy ở Phi Trường Tân Sơn Nhất hay Long B́nh, Bộ Tổng Tham Mưu và Bộ Tư Lệnh Không Quân quyết định tuyển chọn một phi công Việt Nam có kinh nghiệm để đảm nhiệm việc thả bom. Chiếc C-130 và quả bom “Daisy Cutter” cất cánh vào lúc nửa đêm nhưng sau 20 phút lại phải hạ cánh v́ một lư do kỹ thuật không quan trọng, nhưng phi cơ lại cất cánh 30 phút sau đó.

 

Vào một giờ sáng, phi cơ thả trái bom “Daisy Cutter” thả trái bom đầu tiên xuống một địa điểm cách Xuân Lộc 6 cây sô về hướng Tây-Bắc. Thành Phố Xuân Lộc bị rúng động như bị động đất, tất cả đèn điện bị tắt và truyền tin của địch ngưng hoạt động: Bộ Tư Lịnh sư đoàn 341 của cộng sản Bắc Việt bị tiêu diệt. Tinh thần binh sĩ Việt Nam Cộng Ḥa phấn khởi. Tướng Lê Minh Đảo, Tư Lệnh Sư Đoàn 18 Bộ Binh ở mặt trận Xuân Lộc hỏi “Bộ Tổng Tham Mưu có c̣n nhiều loại bom đó không?”. Tin đồn loan truyền nhanh chóng ngoài quần chúng là chúng ta đang được trang bị bom “nguyên tử”. Cộng sản Bắc Việt lên tiếng chửi rủa Việt Nam Cộng Ḥa và Hoa Kỳ đă sử dụng vũ khí tàn phá chiến lược”. Cao Văn Viên: Sách đă dẫn, trang 201-202.

 

Dường như ngày hôm đó Hà Nội vẫn không nhận được báo cáo nào của Bộ Tư Lệnh Chiến Dịch Hồ Chí Minh về những tổn thất do bom CBU gây ra và Hà Nội chỉ biết được tin nầy qua một Hăng Thông Tấn của Pháp. Ngay hôm đó, Vơ nguyên Giáp đă nhân danh Bộ Chính Trị gởi cho “anh Sáu” (Lê đức Thọ), “anh Bảy” (Phạm Hùng) “anh Tuấn” (Văn tiến Dũng), “anh Tấn” (Lê trọng Tấn) và “anh Tư Nguyễn” (Trần văn Trà) bức điện văn mang số 94B ngày 23 tháng 4 năm 1975:

1- Tin AFP chiều 23.4 cho biết địch dùng loại bom ngạt đầu tiên thả ở khu vực giữa Biên Ḥa và Xuân Lộc bằng máy bay C-130 và có hàng trăm xác chết nằm ngổn ngang trên trận địa. Có thể chúng đă dùng loại bom ng ạt CBU-55 mà tên Uâyen (Tướng Weyand) đă đề nghị, cũng có thể chúng tung tin để uy hiếp ta, thúc ép ta đi vào thương lượng. Trong trường hợp nào ta cũng phải thực sự đề pḥng.

2- Các anh cho kiểm tra nắm được tin ǵ cụ thể th́ điện ngay cho biết. Cần nhắc lại và phổ biến rộng răi những chỉ thị pḥng Độc pḥng hóa cho bộ đội. Cần chuẩn bị thêm những phương tiện ǵ th́ điện ngay cho biết.

3- Anh ba (Lê Duẫn) và Thường Vụ Quân Ủy Trung Ương có ư kiến cách đối phó hiệu quảnhất là:

a/ Thực hiện chủ tr ương của Bộ Chính Trị, phát động sớm cuộc tiến công làm cho hính thái bộ đội ta và địch ở vào thế tiếp cận xem kẽ.

Đối với các đơn vị tập kết ở xa địch th́ cần ngụy trang tốt nơi trú quân và có biện pháp pḥng độc pḥng hóa nghiêm ngặt.

b/ Để bảo đảm hành động nhanh chóng và chắc thắng th́ biện pháp tốt nhất là cho triển khai ngay các trận địa pháo 1130 và D.74 (n ếu cần th́ dùng một lực lượng bao vây các vị trí của địch để mở đường cho pháo), đánh mạnh vào Tân Sơn Nhất và các mục tiêu nội bộ từ phía Bắc và Tây-Bắc cũng như từ phía Nam Nuận Tr ạch (Nhơn Trạch). Như vậy vừa gây tổn thương nặng cho Không Quân địch hiện là chỗ dựa chủ yếu của chúng, vừa gây rối loạn trong hàng ngũ địch ở nội đô và làm suy sụp hơn nữa tinh thần chiến đấu của chúng, tạo điều kiện thuận lợi để ta tấn công vào nội đô, tiêu diệt và làm tan ră địch.

c/ Đối với các sân bay quan trọng khác như Cần Thơ, Vũng Tàu v.v…cần chỉ thị cho các bộ đội dùng các loại hỏa lực (pháo, cối) và đặc công đánh phá mạnh.

4- Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời đă lên tiếng tố cáo dư luận quốc tế. Ta cũng đă đề nghị các tổ chức quốc tế lên tiếng tố cáo mạnh mẽ.

5- Nhận được Điện anh trả lời ngay.

Văn Kiện Đảng, trang 305-306.

 

Tuy nhiên dù có bom CBU nhưng một Sư Đoàn 18 không thể nào chố ng cự được với một lực lượng địch đông gấp bội, sau 13 ngày anh Dũng chống lại nhiều đợt tấn công của quân cộng sản Bắc Việt, các đơn vị cuối cùng của Sư Đoàn 18 đă rút khỏi Xuân Lộc ngày 22 tháng 4. Các nhà báo ngoại quốc đă khen ngợi cuộc rút quân nầy là đă “ được hoạch định và thi hành rất hay” và khi các đơn vị nầy về đến Biên Ḥa th́ chỉ bị thiệt hại chừng 30 phần trăm quân số sau hai lần giao tranh với một lực lượng đông gấp bốn năm lần.

 

Kế Hoạch Mérillon.

 

Tại Paris, Tổng Thống Pháp Giscard d’Estaing tin rằng chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Nam Việt Nam của việt cộng có thể có hy vọng đóng một vai tṛ nào đó trong t́nh h́nh chính trị tại Việt Nam và đo đó cần phải duy tŕ sự hiện diện của người Pháp Tại Miền Nam. Tổng Thống Giscard d’estaing cho mới Nghị Sĩ Paul d’Ormano, đại diện Pháp Quốc tại Hải Ngoại đến Phủ Tổng Thống. Nghị Sĩ Paul d’Ormano vốn trước kia là chủ đồn điền tại Đông Dương và ông ta dự định sang viếng thăm Việt Nam, do đó Tổng Thống Pháp đă yêu cầu ông Nghị Sĩ d’Ormano kêu gọi Pháp kiều nên ở lại Việt Nam, đừng có bỏ chạy và Tổng Thống d’Estaing cũng sẽ ra lệnh cho các viên chức người Pháp cũng phải ở lại. Tổng Thống Giscard d’Estaing cũng liên lạc trực tiếp nhiều lần bằng điện thoại với Đại Sứ Mérillon tại Sài G̣n để chỉ thị cho Ṭa Đại Sứ Pháp xúc tiến kế hoạch thành lập một chính phủ liên hiệp giữa phe Mặt Trận Giải Phóng với những thành phần không cộng sản tại Sài G̣n càng sớm càng tốt để thương thuyết với cộng sản Bắc Việt.

 

Về phía Đại Sứ Pháp tại Sài G̣n, ông Mérillon chủ trương thành lập một Miền Nam Việt Nam trung lập với đại diện của phe Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, phe Quốc Gia và “phe ḥa hợp ḥa giải” của Dương Văn Minh.

 

Trong cuốn hồi kư sự nầy, ông tiết lộ rằng Trung Cộng đă ủng hộ giải pháp nầy của người Pháp. Ông cho biết Thủ Tướng Trung Cộng Chu Ân Lai đă đánh điện cho Bộ Ngoại Giao Pháp là Trung Cộng sẵn sàng hợp tác với Pháp để “xây dựng một chính thể trung lập tại Miền Nam nếu có thành phần Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tham dự”. Đại Sứ Mériloon cũng cho biết hầ u hết các quốc gia Á Châu, ngoại trừ Nam Dương, đều ủng hộ việc thành lập một nước Việt Nam đ́nh Chiến trong trung lập hơn là một nước Việt Nam thống nhất dưới quyền cai trị của Hà Nội. Đại Sứ Mérillon cho biết sở dĩ Nam Dương chống lại giải pháp trung lập nầy v́ Nam Dương hận Trung Cộng đă đạo diễn vụ đảo chánh hụt tại quốc gia nầy năm 1965 nhưng ông tiết lộ rằng năm 1978, Tổng Thống Nam Dương Suharto có gởi cho ông một bức thư tỏ sự hối tiếc là vào năm 1975 chính phủ Nam Dương đă có nhận xét sai lầm về t́nh h́nh chính trị tại Đông Dương và đă không ủng hộ kế hoạch của Đại Sứ Pháp tại Sài G̣n.

 

Theo Đại Sứ Mérillon th́ Chu ân Lai đă đưa ra một danh sách gồm có Trương như Tảng, Nguyễn thị B́nh, Đinh bá Thi, Thiếu Tướng Lê quang Ba và Trung Tướng Trần văn Trà làm ṇng cốt cho thành phần thân Trung Cộng trong chính phủ trung lập tại Miền Nam để chống lại phe thân Nga do Lê Duẫn cầm đầu tại Hà Nội. Đại Sứ Mérillon nói rằng Trung Cộng “tha thiết muốn cứu sống Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam để xây dựng ảnh hưởng của họ tại Đông Dương” và phe Quốc Gia th́ cũng muốn cứu Miền Nam không để cho rơi vào tay cộng sản Hà Nội, như vậy th́ cả hai quan niệm nầy đều cùng có một mục đích và c̣n có thể dàn xếp được.

 

Sáng ngày 22 tháng 4, Đại Sứ Mérillon mời Dương Văn Minh đến Ṭa Đại Sứ Pháp ở đường Hồng Thập Tự để thảo luận về giải pháp trung lập. Đại Tướng Minh đến gặp Đại Sứ Pháp cùng một phái đoàn đông đảo gồm có Nghị Sĩ Vũ Văn Mẫu và theo lời Mérillon, “nhiều nhân vật đang tập sự làm chính trị, những kẻ chuyên Sống nhờ xác chết của đồng bào họ” như Huỳnh tấn Mẫm, bà Ngô bá Thành, Ni Sư Huỳnh Liên, Lư quư Chung, Hồ ngọc Nhuận v.v…

 

Đại Sứ Mérillon nhận xét rằng “tôi thấy ông Minh đă liên lạc quá vội với một thành phần vô ích. Những khuôn mặt nầy, Bắc Việt chưa biết đến họ, c̣n công lao của họ đối với Bắc Việt th́ cũng chỉ có việc chửi tầm bậy chế độ Việt Nam Cộng Ḥa mà thôi”. Đại Sứ Mérillon nói rằng: “Huỳnh tấn Mẫm và Ni Sư Huỳnh Liên ai cũng thao thao bất tuyệt ca tụng ḥa b́nh, ca tụng cộng sản v́ đánh hơi kẻ thắng là ai rồi. Riêng Nghị Sĩ Vũ Văn Mẫu th́ có vẻ già dặn hơn, ông đặt chữ “nếu” ở mỗi mệnh đề, chẳng hạn như ông nói “nếu chính phủ tương lai mà do ông làm Thủ Tướng th́ viễn ảnh ḥa b́nh sẽ nằm trong tầm tay của dân tộc Việt Nam”. Tôi nói với họ rằng “không ai có thể chối căi được công lao của quư vị trong thiện chí nỗ lực thành lập tân chính phủ, tuy nhiên thẩm quyền tối hậu giờ phút nầy nằm trong tay Hà Nội, nước Pháp chỉ làm một việc có tính cách trung gian chứ không đóng vai tṛ chủ động”. Đại Sứ Mérillon nói rằng sau đó ông đă lễ phép mời mọi người ra về chỉ giữ Tướng Minh ở lại. Trước khi ra về, ông Mẫu nói nhỏ riệng với Đại Sứ Pháp bằng tiếng La Tinh, (có lẽ ông không muốn người khác nghe), rằng ông ta muốn được đi Pháp nếu chính phủ của ông không được Hà Nội công nhận.

 

Đại Sứ Mérillon nói khi ông trở vào th́ Đại Tướng Dương Văn Minh ngồi chờ với “nét mặt sung măn, tự hào như kẻ đang nắm vững thời cuộc” và ông đă mời ông Minh dùng cơm trưa để cùng bàn luận.

 

Theo kế hoạch của Đại Sứ Mérillon th́ ông Minh sẽ đứng ra lập chính phủ với hai thành phần đồng đều: Phe ḥa hợp ḥa giải của ông cùng với phe Mặt Trận Giải Phóng và trong ṿng 24 tiếng đồng hồ, nước Pháp sẽ vận động các nước Âu Châu cùng các nước Phi liên kết thừa nhận tân chính phủ Việt Nam và như vậy th́ có thể làm chậm lại đà tiến quân của cộng sản Bắc Việt. Sau đó, ông Minh sẽ cố gắng chỉnh đốn lại hàng Ngũ Quân Đội để mặc cả thế đứng cho phe Quốc Gia. Tân chính phủ của ông Minh và Mặt Trận Giải Phóng sẽ tuyên bố sẵn sàng thiết lập bang giao với Trung Cộng và các nước Xă Hội Chủnghĩ kể cả Liên Xô. Trung Quốc đă liên lạc với Pháp sẽ cử ngay Đại Sứ đến Sài G̣n trong ṿng 24 tiếng đồng hồ và sẽ viện trợ cho chính phủ Sài G̣n 420 triệu Mỹ kim là số tiền mà họ hứa hẹn sẽ viện trợ cho Hà Nội. Sau Đó, với sự sắp xếp của Pháp và áp lực của Trung Cộng, tân chính phủ sẽ đ̣i Hà Nội phải thi hành Hiệp Định Paris 1973.

 

Đại Sứ Mérillon cho ông Monh biết nước Pháp sẽ viện trợ cho tân chính phủ 300 triệu đồng Francs và đồng thời cũng sẽ vận động các quốc gia Âu châu khác môt ngân khoản độ 290 triệu Mỹ kim nữa qua các chương tŕnh viện trợ kinh tế, văn hóa, phát triển kinh tế và nhân đạo. Như vậy th́ tổng số tiền viện trợ quốc trế cho Miền Nam Việt Nam cũng không kém viện trợ của Hoa Kỳ trước đây là bao nhiêu và chính phủ trung lập có thể tồn tại được. Đại Sứ Pháp cũng cho biết rằng Nguyễn thị B́nh từ đầu đến cuối đă hợp tác chặt chẽ với người Pháp, bằng chứng là sau nầy, 17 ngày sau khi cộng sản Bắc Việt cưởng chiếm Miền Nam, bà ta đă tuyên bố tại Liên Hiệp Quốc là Miền Nam sẽ ở trong t́nh trạng trung lập trong ṿng 5 năm trước khi tiến tới việc thống nhất với Miền Bắc” và có lẽ đây là một trong những lư do khiến bà ta bị thất sủng sau nầy.

 

Đại Tướng Dương Văn Minh ngồi yên nghe Đại Sứ Mérillon tŕnh bày kế hoạch của Pháp và nói với Đại Sứ Mérillon rằng ông ta sẵn sàng thực hiện mọi điều trong kế hoạch nầy, ông chỉ nêu lên một câu hỏi duy nhất sau đây: “Thưa ông Đại Sứ, dưới h́nh thức nào tôi sẽ thay thế ông Trần Văn Hương để thành lập Nội Các mới thương thuyết với phía bên kia?”. Ông Mérillon trả lời rằng: “thưa Đại Tướng, hôm qua tôi có thảo luận với Cụ Trần Văn Hương và Cụ đă đồng ư rằng sẽ trao quyền cho Đại Tướng nếu Đại Tướng có kế hoạch không để mất Sài G̣n”.

 

Những người thân cận với Cụ Trần Văn Hương cho biết rằng sự thật th́ Tân Tổng Thống Trần Văn Hương khi nhận chức đă không hề nghĩ đến việc trao lại cho cựu Đại Tướng Dương Văn Minh chức vụ Tổng Thống nầy. Quan niệm của vị Tân Tổng Thống 71 tuổi nầy là phải tiếp tục chiến đấu bảo vệ phần c̣n lại của Miền Nam và nếu thương thuyết th́ ít ra cũng phải ở trong tư thế mà đối phương có thể chấp nhận. Cụ cũng có ư kiến nếu cần th́ sẽ mời ông Dương Văn Minh giữ chức vụ Thủ Tướng với nhiều quyền hạn để thương thuyết với phe công sản.

 

Đại Sứ Mérillon cho biết rằng: “Khi chúng tôi giới thiệu Tướng Dương Văn Minh sẽ là nhân vật cho ván bài trung lập của Pháp tại Việt Nam, Cụ Trần Văn Hương sửng sốt và tỏ lời phiền trách: “Nước Pháp luôn luôn bẻ nho trái mùa! Nó là học tṛ tôi, tôi biết biết nó quá mà! Nó không phải là hạng người dùng được trong lúc dầu sôi lửa bỏng. Tôi sẽ trao quyền lănh đạo cho nó nhưng nó phải hứa với tôi là đừng để Sài G̣n thua cộng sản”.

 

Theo Hồi Kư của Đại Sứ Mérillon th́ “Chúng tôi giải thích với Cụ Hương là Bắc Việt rất sợ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đoạt chiến thắng, công khai ra mặt nắm chính quyền. Chúng ta nên nắm ngay nhược điểm của họ để mà xoay chuyển t́nh thế. Nếu để một nhân vật diều hâu lănh đạo, Bắc Việt sẽ viện cái cớ Việt Nam Cộng Ḥa không muố n ḥa b́nh rồi thúc quân đánh mạnh trong lúc Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa chưa kịp văn hồi tư thế phản công. Tạm thời dùng công thức ḥa hoăn mà thôi”.

 

Cụ Trần Văn Hươ ng thông cảm, nhưng thở dài và kèm theo những lời tỏ ra mất tin tưởng. Kế hoạch của chúng tôi vô t́nh đè bẹp tinh thần chống cộng sắt đá của Cụ. Cụ Trần Văn Hương chủ trương nếu cần th́ cứ bỏ ngỏ Thành Phố Sài G̣n, rút lực lượng về Miền Tây rồi tổng động viên nhân lực, vật lực c̣n lại để tiếp tục chiến đấu chống lại cộng sản. Giải pháp nầy th́ sẽ tiếp tục đổ máu nhưng ít ra th́ Việt Nam Cộng Ḥa cũng không thua một cách quá mất mặt.

 

Mười năm sau, Đại Sứ Mérillon đă viết trong hồi kư của ông rằng: “Bây giờ tôi mới thấy kế hoạch của Cụ Hương là đúng, nếu lúc đó các nhà lănh đạo quân sự Miền Nam đừng bỏ chạy quá sớm, ở lại yểm trợ cho Cụ th́ có thể gở gạc được phần nào thể diện cho người quốc gia Miền Nam”

 

Chúng tôi vẫn nhớ lời Cụ nói vào năm 1975: “Ông Đại Sứ à! Tôi đâu có ngán việt cộng. Nó muốn đánh, tôi đánh tới cùng. Tôi Chỉ sợ mất nước, sống lưu đày ở xứngười ta. Nếu trời hại, nước tôi mất, tôi xin thề ở lại đây và mất theo nước ḿnh”. Jean Marie Mérillon: Saigon Et Moi, Paris, 1985.

 

Trong ngày 22 tháng 4, Lê Duẫn đă gởi điện văn cho Văn tiến Dũng, Lê đức Thọ, Phạm Hùng và Lê trọng Tấn cho biết ư kiến của Bộ Chính Trị nói rằng sau khi Tổng Thống Thiệu từ chức th́ dường như Quân Đội Miền Nam đang: “điều chỉnh sự bố trí lực lượng để lộ ư định giữ cho được hành lang đường số 4 từ Sài G̣n đến Cần Thơ” và ra lệnh phải đối phó kịp thời.

 

NGÀY THỨ TƯ

23 THÁNG 4/1975

 

Hai ngày sau khi ông Thiệu từ chức, tại Washington DC, Đại Sứ Liên Xô Dobrynin đến trao cho Ngoại Trưởng Henry Kissinger một bản thông điệp của Tổng Bí Thư cộng sản Liên Xô Breznev, trong đó, theo diễn dịch của Ngoại Trưởng Hoa Kỳ, th́ không những “phía Việt Nam (tức Hà Nội) bảo đảm với Mac Tư Khoa rằng họ không có ư định thiết lập những chướng ngại cho sự di tản của người Mỹ, họ c̣n cho thấy rằng họ không có sự ham muốn hạ nhục Hoa Kỳ, và rất sẵn sàng thi hành bản Hiệp Định Paris”. Trong phần tái bút, Brezhnev c̣n bày tỏ sự hy vọng rằng Hoa Kỳ sẽ không có hành động nào để cho t́nh h́nh tại Đông Dương trở nên trầm trọng hơn. Ngoại Trưởng Kissinger đă cho chuyển nguyên văn bức thông điệp nầy sang Sài G̣n cho Đại Sứ Martin, kèm theo lời b́nh luận của Kissinger. Đại Sứ Martin nói rằng chưa bao giờ ông Ngoại Trưởng lại gởi cho ông Đại Sứ một văn thư có tính cách tối quan trọng như vậy” Frank Snepp: Sách đă dẫn, trang 417.

 

Trong ngày 23.4, Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn đệ đơn từ chức lên Tổng Thống Trần Văn Hương và Tân Tổng Thống đa yêu cầu Nội Các Nguyễn Bá Cẩn xử lư thường vụ cho đến khi có chính phủ mới. Vào thời điểm nầy, dư luận ở Sài G̣n ai cũng biết rằng các thế lực ngoại quốc muốn ông Dương Văn Minh lên làm Tổng Thống hay Thủ Tướng toàn quyền, tuy nhiên Cụ Trần Văn Hương lại muốn mời Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy thành lập chính phủ.

 

Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy là lănh tụ của Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến tức Đảng Tân Đại Việt, ông là người rất có uy tín trong giới trí thức cũng như ở trong giới quân chúng ở Miền Nam. Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy là người đă được Cụ Trần Văn Hương dành cho cảm t́nh rất sâu đậm từ khi ông c̣n trẻ tuổi, khi ông đang hoạt động trong tổ chức Thanh Niên Bảo Quốc Đoàn của ông Đỗ Văn Năng, một cơ quan ngoại vi của Đại Việt Quốc Dân Đảng vào hồi cuối thập niên 1940 và trong giai đoạn nầy Cụ Hương sống trong nhà ông Năng ở đường Bà Huyện Thanh Quan gần Vườn Tao Đàn.

 

Trong lúc đó, về phía Quân Đội th́ lại có một nhóm Sĩ Quan bất măn với Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa. Theo Trần Văn Đôn th́ lúc 11 giờ sáng ngày 23.4, Trung Tướng Vĩnh Lộ c, Trung Tướng Nguyễn Bảo Trị, Đại Tá Nguyễn Huy Lợi, Đại Tá Vũ Quang và Đại Tá Trần Ngọc Huyế n đă đến nhà ông và yêu cầu chỉ định người khác thay thế Đại Tướng Viên v́ ông nầy “không đủ khả n ăng, không làm đúng bổn phận, làm việc không hữu hiệu”. Ông Trần Văn Đôn lúc đó là Xử Lư Thường Vụ Tổng Trưởng Quốc Pḥng đă trả lời rằng “t́nh h́nh đă thay đổi, tự nhiên rồi cũng có người thay thế ông Viên”. Thực ra th́ ông Trần Văn Đ ôn đă biết rơ rằng Đại Tướng Cao Văn Viên nhất quyết không phục vụ với bất cứ tư cách nào trong một chính phủ do Dương Văn Minh lănh đạo.

 

Tổng Thống Trần Văn Hương Cử Tướng Phan Ḥa Hiệp Đi Hà Nội.

 

Trong Decent Interval, Frank Snepp nói rằng “Trong khi quân đội cộng sản Bắc Việt đang chuẩn bị và thao dượt cho hành động cuối cùng của họ là tấn công chiếm Sài G̣n th́ ông Tổng Thống già Trần Văn Hương cũng t́m cách tiếp xúc kín với phái đoàn Bắc Việt tại Tân Sơn Nhất trong ngày hôm nay và ông đề nghị gởi một người trung gian đi Hà Nội để thảo luận ngưng bắn. Đề nghị của Ông Hương bị Hà Nội thẳng tay bác bỏ” 141 Frank Snepp: Sách đă dẫn. Trang 433.

 

Tác giả Nguyễn Khắc Ngữ cũng có đề cập đến việc nầy như sau: “Thu xếp với Dương Văn Minh không xong, Cụ Trần Văn Hương liền tích tự ḿnh lo việc điều đ́nh với việt cộng. Với sự giúp đỡ của Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ, Trần Văn Hương đă cử một vị Tổng Trưởng đi theo chuyến bay liên lạc của Hoa Kỳ hàng tuần đi Hà Nội để xin điều đ́nh nhưng Hà Nội đă không chịu bằng cách không cho chiếc máy bay trên bạ cánh cho đến khi vị Tổng Trưởng kia rời máy bay”. Nguyễn Khắc Ngữ: Sách đă dẫn, trang 344. Các tác giả của Bộ The Vietnam Experience cũng có đề cập đến vai tṛ của ông Tổng Trưởng nay như sau: “ông Hương cũng không tin việc cộng sản Hà Nội sẵn sàng chịu thương thuyết với Dương Văn Minh. Ông nói rằng tôi sẽ chỉ tin vào việc đó sau khi tôi có đủ bằng chứng”. Ông Hương cũng đưa ra một đề nghị ḥa b́nh của ông, đó là đề nghị một cuộc ngưng bắn tức khắc và thiết lập một Hội Đồng Quốc Gia Ḥa Giải, loan báo việc giải nhiệm chính phủ của ông Nguyễn Bá Cẩn mới được thành lập trong 9 ngày và đề nghị gởi Chuẩn Tướng Phan Ḥa Hiệp Tổng Trưởng Thông Tin trong Nội Các Nguyễn Bá Cẩn làm Đặc Sứ đại diện cho Miền Nam đi Hà Nội. Cộng sản bác bỏ ngay cả ba đề nghị này một cách phách lối (contemlptuously), nhất là đề nghị về ngưng bắn.”. The Vietnam Experence. Sách đă dẫn, trang 142.

 

          Trong một cuộc tiếp xúc với Chuẩn Tướng Phan Ḥa Hiệp, cựu Tổng Trưởng Thông Tin và Chiêu Hồi trong Nội Các Nguyễn Bá Cẩn, đồng thời cũng là cựu Trưởng Phái Đoàn Việt Nam Cộng Ḥa trong Ủy Ban Liên Hợp 4 Bên hồi năm 1973, Tướng Hiệp đă cho người viết biết một vài chi tiết khá lư thú về chuyện này.

 

Tướng Phan Ḥa Hiệp nói rằng vào khoảng hai ngày sau khi Tổng Thống Trần Văn Hương nhận chức (23 tháng 4), ông trở về nhà vào lúc đă khuya và được bà Hiệp cho biết là Văn Pḥng Tổng Thống Trần Văn Hương đă gọi điện thoại nhiều lần v́ Tổng Thống Hương muốn nói chuyện với ông. Tướng Hiệp vội vàng gọi điện thoại đến Phủ Tổng Thống và sau đó đă được nói chuyện với Tổng Thống Trần Văn Hương. Tổng Thống Hương đă nói với Tướng Hiệp rằng Cụ muốn t́m một đường dây để đề nghị thẳng với Bắc Việt về chuyện thương thuyết với Hà Nội. Cụ nói rằng chuyện thương thuyết này cần phải được xúc tiến sớm chừng nào tốt chừng đó và đường dây qua phái đoàn cộng sản Bắc Việt trong Ủy Ban Liên Hợp 4 Bên là nhanh nhất, do đó Cụ chỉ thị cho Tướng Phan Ḥa Hiệp liên lạc với Phái Đoàn Bắc Việt để thăm ḍ và nếu họ chấp thuận th́ Tướng Hiệp có thể đi ra Hà Nội, với tư cách là một nhân viên trong chính phủ (cabinet member) và đại diện cho chính phủ để mở đầu cho sự thương thuyết.

 

Tướng Hiệp nói rằng ông liên lạc với Phái Đoàn Hoa Kỳ và được biết rằng vào ngày hôm sau, 24 tháng 3 năm 1975, sẽ có một chuyến phi c ơ C-13O đặc biệt từ Bangkok bay sang Sài G̣n để đưa một số nhân viên trong phái đoàn Bắc Việt ra Hà Nội rồi lại trở về Sài G̣n vào buổi tối hôm đó (đây là chuy ến bay liên lạc cuối cùng giữa Sài G̣n với Hà Nội). Tướng Hiệp vào Phi Trường Tân Sơn Nhất nói chuyện với đại diện của Bắc Việt và nói thêm với họ rằng nếu Hà Nội đồng ư th́ ông sẵn sàng đi Hà Nội. Đại diện của Bắc Việt vô cùng ngạc nhiên v́ từ khi có những chuyến bay liên lạc Hà Nội-Sài G̣n sau Hiệp Định Paris, có nhiều Sĩ Quan trong Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa đă bay ra Hà Nội nhưng Tướng Hiệp th́ dù có được mời, ông không bao giờ nhận lời. Tướng Hiệp nói ông yêu cầu người đại diện của Bắc Việt bay ra Hà Nội ngày hôm sau và khi trở về Tân Sơn Nhứt vào buổi tối th́ cho ông biết kết quả.

 

Tướng Phan Ḥa Hiệp nói với người viết rằng tối hôm đó ông suy nghĩ  cặn kẽ và ông thấy rằng trong trường hợp mà ông được cộng sản cho phép ra Hà Nội, rất có thể là khi ra đến ngoài đó th́ ông cũng có thể bị cộng sản bắt giữ, tuy nhiên nếu có điều kiện thuận lợi th́ ông cũng cứ đi v́ đó là thi hành một nhiệm vụ mà Tổng Thống Trần Văn Hương giao phó. Sáng hôm sau ông yêu cầu người Mỹ di tản gia đ́nh ông sang Phi Luật Tân v́ trong trường hợp nếu cộng sản Bắc Việt chấ p thuận đề nghị của Tổng Thống Hương th́ ông sẽ đi Hà Nội và nếu mà ông bị bắt th́ ít ra gia đ́nh của ông cũng đă được an toàn. Tướng Hiệp nói rằng chiều hôm sau, người đại diện của Bắc Việt trong Ủy Ban Liên Hợp 4 Bên từ Hà Nội trở về và cho ông biết rằng Hà Nội bác bỏ đề nghị thương thuyết của Tổng Thống Trần Văn Hương. Đại diện của Hà Nội c̣n nói thêm rằng Hà Nội đ̣i chính quyền Miền Nam phải đầu hàng vô điều kiện. Mạn đàm với cựu Chuẩn Tướng Phan Ḥa Hiệp tại Anaheim, Califomia, ngày 4 tháng 1 năm 2003.

 

Đó là nỗ lực duy nhất mà chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa cố gắng t́m cách gửi đại diện ra Hà Nội để thăm ḍ nhằm tiến đến một cuộc thương thuyết và người chủ trương đường lối này là Tân Tổng Thống Trần Văn Hương. Cả hai ông Đại Sứ Hoa Kỳ và Đại Sứ Pháp cũng cùng quan đi ểm như vậy và họ nghĩ rằng vẫn c̣n có thể giàn xếp để cho hai phe Sài G̣n và Hà Nội nói chuyện với nhau nhằm đạt được một giải pháp chính trị nào đó. Tuy nhiên, cả người Việt Nam, người Pháp và kể cả người Mỹ là Đại Sứ Martin cũng không thể hi ểu được rằng cho đến giờ chót, người làm chính sách (policy maker) cao cấp nhất của nước Mỹ là Ngoại Trưởng Henry Kissinger không hề bao giờ có ư định để cho hai phe người Việt Nam đối nghịch có thể trực tiếp ngồi lại nói chuyện với nhau, dù lúc đó đă là những ngày cuối cùng của trận chiến tranh.

 

Trong cuốn “Khi Đồng Minh Bỏ Chạy”, tác giả cho biết rằng:

“Ở Phi Trường về (sau khi đưa cựu Tổng Thống Thiệu lên phi cơ đi Đài Loan,) Đại Sứ Martin cùng Đại Sứ Jean Marie Ménllon lại tiếp tục công việc sắp xếp giải pháp chính trị. Ong Martin gửi cho Kissinger một điện văn cho biết vẫn c̣n có thể điều đ́nh giữa chính phủ Sài G̣n và việt cộng:

 

Ngày 26 tháng 4, Kissinger gủi mật điện gạt đi liền:

-   Ông Đại Sứ đă hiểu lầm ư kiến của tôi về các cuộc điều đ́nh với việt cộng. Tôi đă không nói đến giàn xếp giữa chính phủ Sài G̣n và việt cộng mà nói đến đến thương lượng giữa Hoa Kỳ và việt cộng. Tôi muốn bất cứ cuộc thảo luận nào giữa Hoa Kỳ và việt cộng cũng phải được diễn ra tại Paris.

 

Vào giờ chót, Kissinger vẫn không muốn cho hai miền Bắc và Nam Việt Nam trực tiếp điều đ́nh với nhau mà không có sự kiểm soát của ông”. Nguyễn Tiến Hưng: Khi Đồng Minh Tháo Chạy trang 216.

 

Cũng trong ngày này, theo Frank Snepp th́ cũng có một màn hỏa mù khác xảy ra. Frank Snepp nói rằng sáng sớm ngày hôm đó, Đại Tá Harry Summers, Phó Trưởng Phái Đoàn Hoa Kỳ trong Ủy Ban Liên Hợp 4 Bên tại Tân Sơn Nhứt đă đáp chuyến phi cơ liên lạc cuối cùng từ Sài G̣n đi Hà Nội, có lẽ đó là chuyến bay mà Chuẩn Tướng Phan Ḥa Hiệp nói đến trong đoạn trên. Trong chuyến bay này, một đại diện của Bắc Việt đă đến ngồi cạnh Đại Tá Summers và nói nhỏ với ông về một vài đề nghị riêng. Sau khi về đến Sài G̣n, Đại Tá Summers đă phúc tŕnh rằng người tiếp xúc với ông đă đưa ra ba “điều b́nh luận” (comments) đáng chú trọng, đó là:

 

l) Ủy Ban Liên Hợp 4 Bên trong đó có cả Phái Đoàn Hoa Kỳ gồm 15 người phải ở lại Miền Nam Việt Nam dù bất cứ chuyện ǵ xảy ra.

2) Pḥng Tùy Viên Quân Sự của Hoa Kỳ (DAO) phải triệt thoái hoàn toàn.

3) Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ phải thương thuyết với “tân chính phủ” về tương lai của Sứ Quán.

Sau khi Đại Sứ Graham Martin đọc bản thông điệp của Tổng Bí Thư Brezhnev, xem báo cáo này của Đại Tá Harry Summers cùng với báo cáo của Đại Sứ Hung Gia Lợi trong Ủy Ban Quốc Tế là ông Đại Sứ Toth, ông tin tưởng một cách lạc quan rằng cuộc vận động giữa Ngoại Trưởng Kissinger với lănh tụ Liên Xô Brezhnev đă mang lại kết quả và ông hy vọng rằng Hà Nội sẽ không có ư làm nhục Hoa Kỳ mà sẽ tiến tới một giải pháp chính trị. Frank Snepp: Sách đă dẫn, trang 432.

 

Đó là giải pháp của Đại Sứ Pháp Merillon: Tổng Thống Trần Văn Hương phải từ chức và trao quyền lại cho cựu Đại Tướng Dương Văn Minh.

 

 

 

(Xin đọc tiếp phần 10)

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính