Việt Nam Cộng Ḥa 10 ngày cuối cùng

 

- Phần 8 -

 

Trần Đông Phong

 

 

 

Người Mỹ Không Muốn Lưu Lại Bằng Chứng

 

Trong ngày thứ sáu 18 tháng 4, Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua đạo luật về viện trợ quân sự cho tài khóa 1976 trên 3 tỷ đô-la nhưng trong số những quốc gia nhận được quân viện không có Việt Nam Cộng Ḥa. Như vậy có nghĩa là sau ngày 30 tháng 6 năm 1975, dù có c̣n tồn tại, Việt Nam Cộng Ḥa cũng không c̣n nhận được một số tiền viện trợ nào dành cho quân sự nữa.

 

Sau khi Việt Nam Cộng Ḥa không c̣n nữa, Đại Sứ Graham Martin cho biết là vào ngày 18 tháng 4 năm 1975, Ngoại Trưởng Henry Kissinger đă chỉ thị ông rằng “Tổng Thống Ford đă chấp thuận để cho Đại Sứ Martin đề nghị với Tổng Thống Thiệu là ông ta nên từ chức”.

 

Theo cựu Đại Sứ Bùi Diễm th́ sau khi ông về đến Sài G̣n vào trung tuần tháng 4 năm 1975, Đại Sứ Hoa Kỳ Graham Martin đă nói với ông rằng: “ông phải nói sự thật với ông Thiệu”. Cái sự th ật mà Đại Sứ Martin muốn nói là “ông Thiệu đă hết thời rồi” (Thiệu was finished) và nếu cầ n th́ chính ông Martin sẽ đích thân nói với ông Thiệu điều đó. Tuy nhiên ông Martin muốn nhờ ông Bùi Diễm vào gặp để nói với ông Thiệu như vậy và yêu cầu ông Diễm cho ông ta biết ngay sau khi đă nói chuyện với ông Thiệu về vấn đề này. Đại Sứ Bùi Diễm cố gắng liên lạc nhưng vẫn không gặp được Tổng Thống Thiệu. Đến ngày thứ sáu 18 tháng 4 th́ ông gặp Đại Sứ Martin và đă cho ông Martin biết như vậy, rồi qua ngày hôm sau thứ bảy 19 tháng 4, lại nói chuyện điện thoại lần nữa với ông Đại Sứ Mỹ. Lần nầy Đại Sứ Diễm cho ông Martin biết rằng ông đă nhắn với Tổng Thống Thiệu qua Đại Tá Chánh Văn Pḥng Vơ Văn Cầm và cả cựu Trung Tướng Trần Văn Đôn, Tổng Trưởng Quốc Pḥng, nhưng ông Thiệu vẫn chưa trả lời. Đại Sứ Graham Martin nói với ông Bùi Diễm rằng: “được rồi như vậy th́ tôi phải đích thân vào gặp ông ta.” Bùi Diễm with David Canoff: In the Jaws ofhistory, Houghton Mifflin Company, Boston, 1987, trang 332

 

Thực ra th́ Đại Sứ Martin đă đề cập đến chuyện ông Thiệu từ chức với Ngoại Trưởng Kissinger vào ngày hôm trước và đă được Kissinger đồng ư. Trong cuốn sách “Khi Đồng Minh Tháo Chạy” của Nguyễn Tiến Hưng được xuất bản vào đầu năm 2005 th́: “ngày 17 tháng 4, ông Martin đề nghị với Kissinger trong một công điện tối mật để đồng ư cho ông thuyết phục ông Thiệu từ chức:

Nếu Quốc Hội bỏ phiếu chống viện trợ cho Việt Nam Cộng Ḥa th́ địa vị của ông Thiệu là hết rồi. Bởi vậy, trừ khi có chí thị không đồng ư tôi sẽ cố g ắng thuyết phục ông Thiệu và cho ông ta biết rơ đây chỉ là ư kiến cá nhân của tôi với tư cách là một người bạn chân thành. Sau khi suy nghĩ mọi đàng, tôi đă đi đến kết luận là chỗ đứng của ông ta trong lịch sử sẽ được bảo đảm hơn nếu xét tất cả những ǵ ông đă làm cho đất nước này. Nếu ông ta không chịu mà cứ tham quyền cố vị th́ cơ hội cuối cùng để cứu văn Miền Nam Việt Nam như một quốc gia c̣n có chút tự do sẽ không c̣n nữa.

 

Tôi sẽ cho ông Thiệu rơ tôi đă đi đến một kết luận vô tư là nếu ông ta không chịu xuống th́ các Tướng lănh dưới quyền ông sẽ bắt buộc ông làm việc này. Có một cách rút lui êm đẹp và trang trọng nhất là ông tự ư từ chức và nói cho đồng bào biết rằng ông phải làm như vậy để bảo vệ Hiến Pháp và để chính phủ kế vị có thể dễ dàng điều đ́nh c ứu văn nước Việt Nam Tự Do. “ông Kissinger đồng ư”. Nguyễn Tiến Hưng: Khi Đồng Minh Tháo Chạy, trang 388.

 

Ông Nguyễn Tiến Hưng cho biết thêm rằng không phải đến ngày 17 tháng 4 mà c̣n sớm hơn nữa:

“Ở đây tôi c̣n nhớ, khi tạm biệt Đại Sứ Martin để lên đường đi công tác Washington ngày 15 tháng 4 tự nhiên ông hỏi tôi: Nhân tiện tôi muốn hỏi ông bao giờ th́ Tổng Thống của ông từ chức?

 

Hết sức ngạc nhiên: Tôi không hiểu ông Đại Sứ muốn nói ǵ cả! Tôi đáp. Tôi để ư đây là lần đầu tiên thấy ông Martin dùng từ ngữ “Tổng Thống của ông” thay v́ “ông Tổng Thống” hay là “Tổng Thống Thiệu”. Tôi thông báo cáo cho ông Thiệu ngay về câu hỏi trớ trêu này trước khi lên máy bay”. Nguyễn Tiến Hưng: Khi Đồng Minh Tháo Chạy, trang 387-388.

 

Theo hồi kư của cựu Đại Sứ Pháp Jean-marie Mérillon th́ tối 18 tháng 4 năm 1975, Đại Sứ Hoa Kỳ Graham Martin gọi điện thoại cho ông và lần đầu tiên Đại Sứ Mỹ đă nói rơ với ông về ư định của Hoa Kỳ đối với Miền Nam Việt Nam. Theo Frank Snepp, tác giả cuốn Decent Interval th́ trong những ngày tháng cuối cùng của Miền Nam Việt Nam, hai ông Đại Sứ Hoa Kỳ và Pháp đă có những mối liên lạc vô cùng mật thiết. Tác giả cuốn sách này cho biết Đại Sứ Mỹ Martin đă ra lệnh phá một phần bức tường ngăn đôi hai Ṭa Đại Sứ và xây một cánh cử a để hai bên liên lạc với nhau mà người ngoài không ai hay biết, đồng thời ông Đại Sứ Pháp cũng gắn thêm một điện thoại riêng ở trong pḥng v ệ sinh để liên lạc với Đại Sứ Martin v́ ông không muốn ngay cảnhân viên trong Ṭa Đại Sứ biết việc ông tiếp xúc gần như thường trực với ông Đại Sứ Mỹ.

 

Đại Sứ Mérillon cho biết hôm đó Đại Sứ Martin đă “lưỡng lự rất nhiều rồi mới nói với tôi rằng Hoa Kỳ sẽ bỏ rơi Miền Nam Việt Nam”. Đại Sứ Martin nói thêm rằng “Đối với chính trường nước Mỹ, chiến tranh Việt Nam đă chầm dứt ngay sau Hiệp Định Paris 1973, vấn đề c̣n lại là giải thể Quân Đội Hoa Kỳ tại Đông Dương mà thôi.”

 

Đại Sứ Mérillon tiết lộ rằng ông Martin muốn nhờ Đại Sứ Pháp làm trung gian chuyển đạt ư muốn của Mỹ cho phía việt cộng và Đại Sứ Pháp đă trả lời rằng “nếu không có ǵ trở ngại trong việc liên lạc th́ tôi có thể làm thỏa măn điều ông yêu cầu trong khoảng 5 tiếng đồng hồ. Tuy nhiên, v́ phải phúc tŕnh lên chính phủ Pháp cho nên xin ông Đại Sứ vui ḷng gửi cho tôi một văn thư chính thức ủy thác cho tôi cái nhiệm vụ này” Đại Sứ Martin trả lời rằng “điều đó không thể được”. Người ta không muốn lưu lại bằng chứng.

 

Đại Sứ Mérillon bèn nói với Đại Sứ Mỹ: “Như thế th́ kể từ giờ phút nầy, nước Pháp sẽ đảm nhận vai tṛ tái lậ p ḥa b́nh cho Việt Nam theo chủ thuyết của Pháp”. Jean Marie Mérillon: “Saigon ét Moi”

 

Thật ra th́ việc chính phủ Pháp dính dáng đến t́nh h́nh chính trị tại Miền Nam Việt Nam vào những ngày tháng cuối cùng của Việt Nam Cộng Ḥa khởi đầu từ cuộc gặp gỡ giữa Phạm văn Đồng và Đại Sứ Pháp tại Bắc Việt hồi cuối tháng 1 năm 1975.

 

Theo Oliver Todd, tác giả Cruel Avril th́ Đại Sứ Pháp Philippe Richer đến Hà Nội vào ngày 27 tháng 1 năm 1975. Cựu sinh viên Họ c Viện Quốc Gia Hành Chánh gọi tắt là ENA, tức là bạn đồng môn với Tổng Thống Pháp Giscard d'Estaing, Nhà Ngoại Giao Richer vốn là tù nhân của Đức Quốc Xă trong trại tập trung Buchenwald, cựu sĩ quan trong Quân Đội Pháp đă từng phục vụ tại Lào và ông ta rất hiểu rơ cộng sản. Vài tuần trước khi ông Richer đến Hà Nội, Thủ Tướng cộng sản Phạm văn Đồng đă nhờ ông Francois Missoffe, Sứ Giả đặc biệt của chính phủ Pháp tại Á Châu, đ̣i người Mỹ phải áp lực để Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu phải ra đi. Phạm văn Đồng tiếp Đại Sứ Philippe Richer lần đầu tiên vào cuối tháng giêng năm 1975 và trong cuộc gặp gỡ này, Phạm văn Đồng đă nói với tân Đại Sứ Pháp: “Tôi hy vọng rằng ông Đại Sứ mang đến cho tôi sự trả lời”. Đại Sứ Richer chỉ trả lời một cách ỡm ờ v́ ông không hề nhận được chỉ thị rơ rệt nào của chính phủ Pháp về vấn đề này. Vào ngày 22 tháng 3 năm 1975, trong một bữa tiệc khoản đăi Ngoại Giao Đoàn tại Hà Nội, một cán bộ cộng sản đến nói với Đại Sứ Richer: “Thưa ông Đại Sứ, Thủ Tướng muốn nói chuyện với ông ngay bây giờ “. Trong cuộc tiếp xúc này Đại Sứ Richer đă hỏi Phạm văn Đồng: “Thủ Tướng nghĩ thế nào về lực lượng thứ ba tại Miền Nam?” Phạm văn Đồng trả lời. “Nhóm đó là bạn của các ông. Bây giờ th́ t́nh thế không thể thay đổi được nữa”, người Pháp các ông phải làm một cái ǵ. Thiệu phải ra đi” Oliver Todd: Sách đă dẫn, trang 185.

 

Đại Sứ Philippe Richer suy nghĩ  cặn kẽ và đến hai ngày sau th́ ông mới phúc tŕnh việc này về Bộ Ngoại Giao Pháp.

 

Theo Paul Dreyfuss, tác giả cuốn Et Saigon Tomba, th́ vào ngày 24 tháng 3 năm 1975, trong một cuộc tiếp xúc với Đại Sứ Pháp Philippe Richer tại Hà Nội, Thủ Tướng Bắc Việt Phạm văn Đồng đă nói với Đại Sứ Richer bằng một giọng đầy thúc giục: “thế nào, bao giờ th́ người Pháp mới hành động? Bây giờ đă đến lúc các bạn của ông trong phe thứ ba ở Sài G̣n nên bỏ bớt dè dặt để lật đổ Nguyên Văn Thiệu và thành lập một chính phủ khả dĩ có thể nói chuyện được với chúng tôi”.

 

V́ lời lẽ khẩn khoản này của Phạm văn Đồng, Đại Sứ Philippe Richer vội vă bay về Paris để tường tŕnh lên Chính phủ Pháp đề nghị mới này của cộng sản Bắc Việt. Dreyfuss: “Et saigon tomba”, trang 171.

 

Theo Oliver Todd th́ vào ngày 8 tháng 4 năm 1975, sau khi cộng sản chiếm Đà Nẵng, Phạm văn Đồng lại tiếp kiến Đại Sứ Philippe Richer và ông ta đă nói với Đại Sứ Pháp rằng Bắc Việt sẽ cần đến sự hợp tác của các chuyên viên cũng như là các nhà đầu tư người Pháp để giúp cho họ khai thác những mỏ dầu hỏa tại Miền Nam thay thế cho các công ty Hoa Kỳ. Tuy được xem như là một người có khuynh hướng thiên tả, Đại Sứ Philippe Richer không mấy tin tưởng ǵ đến những lời của Phạm văn Đồng và ông ta tin rằng khi chi ếm được Miền Nam th́ chỉ có đảng cộng sản nắm quyền và sẽ không có Lực lượng thứ hai thứ ba nào khác. Trong một cuộc phỏng vấn dành cho Oliver Todd vào năm 1986 tại Paris, cựu Đại Sứ Richer đă cho biết rằng trong một trong những bức công điện gởi về Bộ Ngoại Giao Pháp đề cập đến những đề nghị của Phạm văn Đồng, ông có tŕnh bày ư kiến riêng của ông như vậy và do đó mà cả Bộ Ngoại Giao cũng như Tổng Thống Giscard d'Estaing không có ai ưa ông. Oliver Todd nói rằng thật là một điều nực cười khi mà Đại Sứ Richer, một người được xem như là thiên tả, lại chẳng tin tưởng ǵ đến những lời đường mật của cộng sản Bắc Việt, trong khi đó th́ Đại Sứ Jean-marie Mérillon, cũng là cựu sinh viên trường ENA, một người được xem như là khuynh hữu, lại nghĩ rằng có thể tin được vào những lời hứa hẹn của Bắc Việt qua lời của Phạm văn Đồng.

 

Chính phủ Pháp liên lạc với Hoa Kỳ để t́m hiểu quan điểm của người Mỹ, tuy nhiên chính phủ của Tổng Thống Gerald Ford lúc đó đang bị cả hai Viện Quốc Hội do Đảng Dân Chủ kiểm soát trói tay trói chân và không thèm quan tâm cứu xét đến những yêu cầu của Tổng Thống Ford nhằm viện trợ khẩn cấp cho Việt Nam Cộng Ḥa, do đó Hoa Kỳ đồng ư để cho Pháp vận động ḥa b́nh cho Miền Nam Việt Nam. Sau khi được sự đồng ư của Hoa Kỳ, Tổng Thống Pháp Giscard d’ Estaing đă ra lệnh cho Đại Sứ Pháp tại Sài G̣n nỗ lực dàn xế p với mọi phe phái ngơ hầu t́m cho được một giải pháp thuận lợi hơn cho Miền Nam Việt Nam.

 

Đó là lư do tại sao Đại Sứ Pháp tại Sài G̣n Jean-marie Mérillon đă tiếp xúc với Đại Sứ Mỹ Graham Martin ngày 18 tháng 4 năm 1975 và với sự khuy ến khích của Đại Sứ Martin, ông đă đến gặp Tổng Thống Nguyên Văn Thiệu tại Dinh Độc Lập hai ngày sau đó. Trong khi cuộc tấn công của cộng sản đang bị Sư Đoàn 18 của Việt Nam Cộng Ḥa chống trả mănh li ệt tại Xuân Lộc, trong khi Đại Sứ Mérillon đang tiếp xúc với Đại Sứ Martin ở Sài G̣n để t́m cách thuyết phục Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức ngỏ hầu t́m kiếm ḥa b́nh cho Miền Nam Việt Nam th́ Trung Ương Cục Miền Nam của cộng sản đă thi hành quyết định của Hà Nội chuẩn bị tiếp thu Sài G̣n và các Tỉnh, Thị Xă, không hề có một chỉ thị nào về vấn đề thương thuyết với chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa. Trung Ương Cục đă đánh bức điện văn mang số 458/TV ngày 18 tháng 4 năm 1975 gửi cho các Khu Ủy, B.6 (Tây Ninh,) N.50 (B́nh Phước,) P.10 (Sài G̣n-Gia Định,) Quân Ủy Miền và các Ban, Ngành KBN (KBN là bí danh của Trung Ương Cục Miền Nam) chỉ thị về việc “chớp thời cơ tấn công địch ở các Thành Phố Thị Trấn, Thị Xă và vùng tôn giáo”. Chỉ thị nầy ra lệnh các cấp bộ địa phương phải tập trung chỉ đạo, tập trung sức mạnh với các lực lượng quần chúng để nổi dậy, khởi nghĩa nắm lấy chính quyền và đồng thời cho biết rằng sẽ có những chỉ thị riêng về việc “tiế p thu quản lư xây dựng sau khi dứt điểm giải phóng các Thành Phố, Thị Xă, thị trấn v.v…” và ngay cả việc đối xử với tù hàng binh ở Miền Nam.

 

Chính Sách Đối Xử Với “Ngụy quân, Ngụy Quyền”.

 

Cũng trong ngày hôm đó tại Hà Nội, các cấp lănh đạo đảng cộng sản đă hoàn tất việc quy định về sự phân loại và chính sách đối xử với tù binh và hàng binh tại Miền Nam. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính sách này lại được áp dụng cho tất cả các công chức, cán bộ và Quân Nhân Việt Nam Cộng Ḥa mà cộng sản gọi chung là “ngụy quân, ngụy quyền” sau khi đi tŕnh diện để “học tập cải tạo”.

 

Ngày 18 tháng 4 năm 1975, Ban Bí Thư Trung Ương đảng cộng sản đă gửi Chỉ Thị mang số 218-CT/TW đến tất cả các đảng ủy tại Miền Nam về chính sách đối với tù và hàng binh Miền Nam.

 

V́ nhận thấy chính sách đối với “ngụy quân, ngụy quyền” này của cộng sản Bắc Việt trước ngày 30 tháng 4 có ảnh hưởng đến gần như hầu hết Quân Cán Chính của Việt Nam Cộng Ḥa sau này, người viết xin trích đăng lại nguyên văn bản “chỉ thị: Của Ban Bí Thư số 218-CT/WT ngày 18 tháng 4 năm 1975” này để làm tài liệu:

 

“Trong t́nh h́nh mới hiện nay, số lượng tù binh, binh sĩ địch giác ngộ trở về và làm binh biến khởi nghĩa ngày càng lớn, vùng giải phóng của ta ở Miền Nam ngày càng mở rộng và hoàn chỉnh. Ban Bí Thư quy định phân loại và chính sách đối xử như sau:

 

PHÂN LOẠI

 

1.   Binh sĩ khởi nghĩa: Là những binh sĩ địch có hành động chống lại địch, đi với cách mạng như khởi nghĩa làm binh biến, làm nội ứng, phá hoại địch, trực tiếp hay gián tiếp hay tiếp giúp cho cuộc chiến đấu của ta.

2.   Binh sĩ giác ngộ trở về với cách mạng: (không nên gọi là hàng binh) là những binh sĩ địch chủ động bỏ hàng ngũ địch sang hàng ngũ cách mạng.

3.   Tù binh: Là những binh sĩ địch bị ta bắt trong chiến đấu hoặc sau chiến

đấu.

4.Tàn binh ra tŕnh diện: Là những binh sĩ địch bị ta đánh phải bỏ chạy trốn, sau đó ra tŕnh diện với cơ quan chính quyền cách mạng.

 

CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI TỪNG LOẠI

 

1.   Binh sĩ khởi nghĩa: Về chính trị, coi như quần chúng cách mạng, về sinh hoạt vật chất được đăi ngộ như cán bộ, chiến sĩ ta, được xếp công tác tùy treo tŕnh độ giác ngộ chính trị và năng lực từng người. Ai có công với cách mạng th́ được khen thưởng. Ai có năng lực chuyên môn kỹ thuật th́ được sử dụng theo tài năng, ai bị thương vong trong khi hàng động cách mạng th́ được đối xử như thương binh tử sĩ ta.

2.  Binh sĩ giác ngộ trở về với cách mạng: Được hưởng quyền công dân, được đối xử về tinh thần và vật chất như những công dân b́nh thường.

3.   Tù binh: Được đối xử nhân đạo theo đúng chính sách của ta. Trong t́nh h́nh hiện nay, giải quyết như sau:

a/ Đối với những Binh Lính và Hạ Sĩ Quan:

- Số có gia đ́nh ở vùng giải phóng th́ giải thích chính sách rồi cho về nhà, giao cho chính quyền địa phương đăng kư và giáo dục.

- Số quê ở lùng địch tạm chiếm hoặc ở xa chưa về được th́ tạm thời tập trung lại để quản lư giáo dục và dùng làm lao động. Khi có điều kiện sẽ cho về với gia đ́nh. b/ Đối với Sĩ Quan: Tất cả đều phải tập trung giam giữ, quản lư giáo dục và lao động, sau này tùy sự tiến bộ của từng người sẽ phân loại và sẽ có chính sách giải quyết cụ thể.

Những người có chuyên môn kỹ thuật (kể cả lính và sĩ quan) mà ta cần th́ có thể dùng vào từng việc trong một thời gian nhất định, nhưng phải cảnh giác và phải quản lư chặt chẽ, sau này tùy theo yêu cầu của ta và tùy theo sự tiến bộ của từng người mà có thể tuyển dụng vào làmở các ngành ngoài quân đội:

c/ Đối với các phần tử ác ôn, T́nh Báo An Ninh Quân Đội, Sĩ Quan Tâm Lư, B́nh Định Chiêu Hồi, đầu sỏ của đảng phái trong Quân Đội, th́ bất kể là Lính, Hạ Sĩ Quan hay Sĩ Quan đều phải tập trung cải tạo dài hạn, giam giữ riêng ở nơi an toàn và quản lư chặt chẽ.

d/ Đối với những người vốn là Quân Nhân của ta nhưng đă đầu hàng địch, tham gia Quân Đội ngụy th́ sẽ xử như tù binh. Kẻ nào làm việc cho địch như Gián Điệp, Tâm Lư Chiến, B́nh Định Chiêu Hồi, chỉ huy đánh phá cách mạng th́ xử án như bọn ác ôn.

4.  Tàn binh địch ra tŕnh diện:

a/ Những người ra tŕnh diện và tích cự c làm những công việc ta giao hoặc có công phát hiện những sự bí mật, kho tàng và tài liệu của địch, chỉ cho ta những tên đầu sỏ phản động c̣n lẩn trốn, giúp ta sử d ụng những vũ khí kỹ thuật của địch, kêu gọi được nhiều tàn binh ra tŕnh diện th́ đối xử như binh sĩ giác ngộ trở về với nhân dân.

b/ C̣n nói chung đổi xử tương tự như tù binh, nhưng cần chú ư.

-   Binh Lính Hạ Sĩ Quan th́ đăng kư, thu vũ khí, giải thích chính sách, nếu quê

    vùng giải phóng th́ cho về nhà ngay, giao cho chính quyền địa phương quản lư giáo dục. Số quê ở vùng địch c̣n kiểm soát hoặc ở xa chưa về được th́ tập trung giáo dục và dùng làm lao động.

Đối với Sĩ Quan, phải giữ lại để giáo dục cải tạo, nhưng tùy hoàn cảnh chính trị từng nơi mà có cách làm thích hợp để bọn c̣n lẫn trốn không quá sợ hăi, dám ra tŕnh diện. Lúc đầu, có thể chưa cần giam giữ ngay, tùy t́nh h́nh sẽ lần lượt tập trung lại sau.

-  Những tên ác ôn Gián Điệp và những tên có nhiều tội ác th́ bắt giữ ngay.

-   Những tên không chịu ra tŕnh diện theo thời gian quy định th́ phải bắt giữ. Tên nào lẫn trốn để chống phá ta th́ sẽ bị trừng trị theo tội phá hoại hiện hành.

5.                 Riêng đối với Pḥng Vệ Dân Sự và Dân Vệ đă tan ră:

-   Pḥng Vệ Dân Sự th́ giải tán tổ chức, tịch thu vũ khí, trang bị phương tiện quân sự và coi họ như dân thường.

 

Dân Vệ th́ giao cho chính quyền địa phương đăng kư, quản lư giáo dục, không tập trung lại như tù binh.

-   Những tên là Quân Chủ Lực, Bảo An phái sang chỉ huy và làm ṇng cốt trong Dân Vệ, Pḥng Vệ dân sự và những tên là ác ôn T́nh Báo, th́ phải xử trí như các loại tù binh nói trên.

Các loại Binh Lính Sĩ Quan địch đă bỏ ngũ về nhà, về hưu, giải ngũ, th́ coi như dân thường. Người nào trong số nầy có tội ác th́ do chính quyền địa phương xử trí theo chính sách chung đối với những người phạm tội.

 

6- Những trường hợp khác:

-   Những Quân Nhân của địch biệt phái sang làm việc ở Ngành Hành Chánh, Cảnh Sát th́ do cơ quan an ninh của ta xử trí.

-   Những Sĩ Quan có ảnh hưởng trong các dân tộc thiểu số và các tôn giáo, nếu cần thiết cho việc tranh thủ quần chúng th́ có thể có chính sách chiếu cố thích hợp.

Đối với những sĩ quan cấp Tướng hoặc Đại Tá, nếu xét cần sử dụng có lợi cho cách mạng th́ có thể có chính sách đối xử thích hợp.

 

-   Tù Binh là Quân Nhân Mỹ và các Quân Nhân nước ngoài khác, phải giam riêng, phải đối xử nhân đạo.

-   Những tù binh ngụy bị bắt hồi 1972 hiện nay c̣n giữ th́ xử trí như tù binh hiện nay. Những tên là Lính và Hạ Sĩ Quan nếu đă cải tạo tốt, có quê ở vùng giải phóng th́ cho về với gia đ́nh.

 

CHÚ Ư:

1. Những cơ sở binh vận, quân báo và an ninh của ta được cử vào hoạtt động trong Quân Đội địch đều là cán bộ chiến sĩ của ta phải giải quyết chính sách chu

đáo, tuyệt đối không được lẫn lộn với binh sĩ địch.

2. Hiện nay không lấy tù binh, tàn binh để bổ sung quân số cho các lực lượng vũ trang của ta.

3. Tất cả các loại tù binh, tàn binh đều giam giữ ở B, không đưa ra A, trừ những trường hợp c̣n khai thác gấp để phục vụ yêu cầu của ta.

T/M BAN BÍ THƯ TỐ HỮU

 

Văn Kiện Đảng, trang 286-290. Ghi chú: Trong thời gian này, Tố Hữu c̣n là Ủy Viên Trung Ương Đảng phụ trách Ban Bí Thư, về sau mới được đề cử vào Bộ Chính Trị và giữ chức Trưởng Ban Văn Hóa Tư Tưởng.

 

Có một điều đáng chú ư là trong loại 6 “Những trường hợp khác” có một câu nói rằng “những tù binh ngụy bị bắt hồi 1972 hiện nay c̣n giữ th́ xử trí như tù binh hiện nay”. Điều này chứng tỏ rằng sau khi kư Hiệp Định Ba Lê vào năm 1974 cộng sản Bắc Việt vẫn c̣n giam giữ và đă không trao trả một số tù binh bị họ bắt giữ trước năm 1973 cho Việt Nam Cộng Ḥa đúng theo tinh thần của hiệp định. Lưu văn Lợi, phụ tá của Lê đức Thọ tại hội nghị Ba Lê cho biết rằng vấn đề trao trả tù binh và tù dân sự đă được thảo luận sôi nổi giữa Bắc Việt và Hoa Kỳ trong phiên họp ngày 17 tháng 10 năm l972. Trước đó, vào ngày 14 tháng 10, Phái đoàn Bắc Việt đă gửi cho Phái đoàn Hoa Kỳ một công hàm nói rằng:

“Theo Luật Pháp quốc tế trong cuộc chiến tranh khi chiến sự chấm dứt th́ tất cả những người của các bên bị bắt phải được trao trả ngay. Hơn thế nữa, với tính chất của cuộc chiến tranh ở Miền Nam Việt Nam th́ sau khi ngừng bắn, việc trao trảnhững người dân sự cũng như việc trao trảnhững người quân sự của các bên bị bắt giữ là một nghĩa vụ mà không bên nào được thoái thác và tŕ hoăn.

 

Phía Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa cho rằng trong vấn đề này phía Hoa Kỳ bênh vực cho một lập trường rất sai trái để một bên có thể tiếp tục giam giữ những người dân sự của bên kia”. Lưu văn Lợi và Nguyễn anh Vũ: “Các Cuộc Thương Lượng Lê Đức Thọ-Kissinger tại Paris”, xuất bản tại Hoa Kỳ, trang 309.

 

Vào năm 1993 khi Trần văn Trà được cử làm Trưởng Phái đoàn của “Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời” trong Ban Liên Hợp 4 Bên tại Tân Sơn Nhứt Sài G̣n, ông ta đă tuyên bố rằng “chúng ta đă trả tất cả tù binh Mỹ-ngụy mà ta giữ” Hai năm sau, chỉ thị về chính sách đối với tù hàng binh của Bắc Việt do Tố Hữu thay mặt Ban Bí Thư của Đảng Lao Động Việt Nam kư ngày 18 tháng 4 năm 1975 cho thấy là Trần văn Trà đă nói láo, rơ ràng chỉ thị này đă thừa nhận cộng sản Hà Nội không trao trả một số tù binh của Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1973, Hà Nội đă vi phạm Hiệp Định Ba Lê do chính họ kư kết và như vậy th́ theo lời của chính Hà Nội trong công hàm gửi cho Hoa Kỳ ngày 14 tháng 10 năm 1972 th́ “đó là trái đạo lư, không công bằng và vô nhân đạo”.

 

 

NGÀY CHỦ NHẬT

20 THÁNG 4/1975

 

Trong cuốn Hồi Kư “Đất Nước Tôi” được xuất bản vào năm 2003, vị Thủ Tướng cuối cùng của chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa là ông Nguyễn Bá Cẩn cho biết rằng: “Cũng chính ngày 20 tháng 4 nầy, trong lúc cộng sản Bắc Việt đang chặt tay, chặt chân để bóp c ổ và chọc thủng bụng theo thế đánh mà b ọn chúng thường rêu rao để tuyên truyền th́ Đồng Minh của Việt Nam Cộng Ḥa đă “trảm thủ” Miền Nam bằng một nhát gươm ân huệ. Thật vậy, sáng hômấy, Đại Sứ Martin đến gặp Tổng Thống Thiệu. Sau khi Đại Sứ Martin ra về th́ một màn khói im lặng và bí mật bao phủ Dinh Độc Lập cho đến sáng hôm sau” (Nguyễn Bá Cẩn: Đất Nước Tôi, Hoa Hoa Press, Derwood, Maryland, trang 420)

 

Ngày Chủ Nhật 20 tháng 4 không chỉ có Đại Sứ Hoa Kỳ Graham Martin mà c̣n có cả Đại Sứ Pháp Mérillon đến hội kiến với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tại Dinh Độc Lập với mục đích thuyết phục ông từ chức để cứu văn t́nh h́nh v́ phe công sản dứt khoát không chịu thương thuyết với ông. Theo Frank Snepp và các tác giả của bộ “The Vietnam experience” th́ Đại Sứ Mérillon vào gặp Tổng Thống Thiệu trước Đại Sứ Martin, tuy nhiên theo Oliver Todd th́ ông Đại Sứ Pháp vào gặp Tổng Thống Thiệu sau ông Đại Sứ Hoa Kỳ.

 

Oliver Todd cho biết vào ngày 20 tháng 4, Đại Sứ Mérillon đến Dinh Độc Lập một ḿnh và nói chuyện thẳng với Tổng Thống Thiệu. Đại Sứ Mérillon nói rằng:

“Thưa Tổng Thống, tôi đến gặp Ngài tại v́ t́nh h́nh đă trở nên vô cùng nghiêm trọng. Không c̣n vấn đề quân sự nữa”. Tổng Thống Thiệu không trả lời và Đại Sứ Mérillon nói tiếp: “Tôi thấy chỉ c̣n là vấn đề chính trị. Cần phải để cho một tiến tŕnh dân chủ được khai triển”.

 

Tổng Thống Thiệu ng ồi nghe trong khi Đại Sứ Mérillon tiếp tục tŕnh bày gần như là độc thoại về những thực tế mà ông Thiệu dần dần bắt đầu hiểu. Đại Sứ Mérillon nói rằng chính phủ chỉ c̣n nắm giữ được vài Thành Phố lớn nhưng ba phần tư lănh thổ đă bị mất vào tay cộng sản, rồi ông Đại Sứ nói đến những mối liên lạc thân hữu giữa cá nhân hai người và cả giữa bà Thiệu và bà Mérillon nữa, ông kêu gọi đến trách nhiệm trước lịch sử, đến danh dự cá nhân và yêu cầu Tổng Thống Thiệu nên làm một sự hy sinh lớn lao cho dân tộc Việt Nam qua một sự thương thuyết không thể tránh khỏi để cho một vài quyền lợi nào đó c̣n có thể cứu văn được.

 

Tổng Thống Thiệu bắt đầu nói đến những tái phối trí cần thiết, về sự phản bội của Mỹ và tinh thần chủ bại của một số Tướng lănh. Rồi Tổng Thống Thiệu kết thúc cuộc hội kiến bằng một câu nói rất b́nh dân: “thôi, tới đâu hay tới đó” và ông Đại Sứ ra về” (ghi chú: Oliver Todd: Sách đă dẫn, trang 312)

 

Vào hồi 10 giờ sáng, đến lượt Đại Sứ Hoa Kỳ Graham Martin vào gặp Tổng Thống Thiệu và cuộc gặp kéo dài trong một tiếng rưỡi đồng hồ.

 

Đại Sứ Martin trước hết tŕnh bày với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu về nhận định của Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ đối với t́nh h́nh quân sự hiện tại. Thực ra th́ bản nhận định nầy đă được Frank Nepp, một chuyên viên phân tích t́nh báo (intelligence analyst) của CIA soạn thảo. Trong cuốn Decent Interval, Frank Nepp tiết lộ rằng ông đă được Polga, Giám Đốc CIA tại Sài G̣n ra chỉ thị phải “soạn thảo bản nhận định càng đen tối càng tốt chừng đó. Đại Sứ Martin sẽ dùng bản nhận định nầy để thuyết phục ông Thiệu rằng đă đến lúc ông ta phải ra đi”.

 

Đại Sứ Martin đă đưa cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bản nhận định do Frank Nepp viết nguyên văn như sau:

 

“Với cuộc sụp đổ của các cuộc pḥng thủ của Quân Đội của chính phủ quanh Tỉnh Lỵ Xuân Lộc và sự tiếp tục gia tăng tập trung quân đội của cộng sản trong Vùng

 

3    Chiến Thuật cán cân lực lượng trong vùng chung quanh Sài G̣n hiện nay đă nghiêng về phía Bắc Việt và việt cộng. Mặc dù chính phủ vẫn c̣n có thể tăng viện cho một trong những mục tiêu có thể sẽ bị tấn công như Biên Ḥa-Long B́nh ở về phía Đông Sài G̣n, các Tỉnh Long An, Hậu Nghĩa ở về phía Tây hay Tỉnh B́nh Dương ở về phía Bắc, tuy nhiên lực lượng của chính phủ sẽ không đủ sức mạnh để pḥng thủ tất cả các mục tiêu nầy một cách hữu hiệu. Mặt khác về phía Bắc Việt và việt cộng th́ chỉ trong ṿng ba hay bốn ngày, họ lại có đủ khả năng phóng ra những cuộc hành quân phối hợp trên mức nhiều sư đoàn vào tất cả những mục tiêu nầy. Như vậy th́ chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa sẽ phải đối phó với một t́nh trạng mà trong đó Sài G̣n sẽ bị cô lập và sẽ không c̣n liên lạc được với bên ngoài chỉ trong ṿng vài tuần lễ và có thể rơi vào tay của các lực lượng Bắc Việt, việt cộng trong ṿng 3 hay 4 tuần lễ”.

 

(Frank Nepp nói rằng ông muốn viết “chỉ vài tuần lễ” nhưng Polgar không muốn như vậy. Frank Nepp cũng cho biết thêm rằng sau khi ra đi, ông Thiệu vẫn c̣n để bản nhận định nầy trên bàn giấy của ông trong Dinh Độc Lập. Khi việt cộng chiếm Sài G̣n, Văn tiến Dũng đă lấy được bản nhận định nầy và đă cho đăng nguyên văn trong cuốn sách “Đại Thắng Mùa Xuân” của ông ta. Frank Nepp: Sách đă dẫn, trang 382).

 

Sau nầy, trong một buổi tường tŕnh với Ủy Ban Ngoại Giao Hạ Viện Mỹ vào ngày 22 tháng 1 năm 1976, Đại Sứ Martin nói rằng ông ta đến gặp Tổng Thống Thiệu “với tư cách cá nhân, ông ta không đại diện cho Tổng Thống Gerald Ford, không đại diện cho Ngoại Trưởng Henry Kissinger và cũng không nói chuyện với tư cách là Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Cộng Ḥa, ông chỉ nói chuyện với tư cách là một người đă từng quan sát t́nh h́nh ở Đông Nam Á từ bao nhiêu năm qua và cũng là một người mà trong hai năm qua đă bỏ ra nhiều th́ giờ t́m hiểu tất cả ngọn ngành của các vấn đề quân sự tại Việt Nam”.

 

Sau khi tŕnh bày với Tổng Thống Thiệu về nhận định đầy đen tối về t́nh h́nh trong một vài ngày sắp tới, Đại Sứ Martin nói rằng ông không hề nói với Tổng Thống Thiệu là ông ta phải từ chức, ông “chỉ tŕnh bày với Tổng Thống Thiệu một cách rơ ràng, chính xác và khách quan về nhận định của người Mỹ đối với t́nh h́nh hiện tại”.

 

Đại Sứ Martin nói rằng ông nói với Tổng Thống Thiệu, sau khi phân tích và so sánh lực lượng hai bên và nếu cả hai điều dồn lực lượng vào trận đánh cuối cùng th́ các cân quân sự về phía Việt Nam Cộng Ḥa rất bi quan. Kết luận của tôi là nếu cộng sản quyết tâm đánh để tiêu diệt Sài G̣n th́ Sài G̣n không thể cầm cự được hơn một tháng. Dù sự pḥng thủ có khéo léo, dũng cảm và quyết tâm đến đâu chăng nữa th́ cũng không thể kéo dài quá ba tuần lễ.

 

“Tôi nói, theo ư kiến của tôi th́ Hà Nội muốn giữ Sài G̣n nguyên vẹn chứ không muốn Sài G̣n trở thành một đống gạch vụn khi họ chiếm đóng. Tuy nhiên không ai biết được một cách chắc chắn rằng Hà Nội sẽ không biến Sài G̣n thành b́nh địa nếu mà không có một sự thương thuyết nhằm vào việc đ́nh chiến”. Graham Martin: Bản Đi ều Trần Tại Ủy Ban Ngoại Giao của Hạ Viện Hoa Kỳ tại Washington ngày 22 tháng 1 năm 1976.

 

Đại Sứ Martin nói trắng rằng đây là một việc mà chỉ có một ḿnh Tổng Thống Thiệu mới có quyền quyết định, tuy nhiên ông Đại Sứ cũng “nhắc khéo” Tổng Thống Thiệu là đa số người Việt Nam đều quy trách ông Thiệu là người phải chịu trách nhiệm trước sự thảm bại quân sự trong hơn một tháng qua, đa số người Việt Nam không tin rằng ông Thiệu c̣n có đủ khả năng lănh đạo đất nước vượt qua cuộc khủng hoảng nầy và họ tin tưởng rằng nếu ông Thiệu ra đi th́ việc thương thuyết với phe cộng sản sẽ dễ dàng hơn.

 

Tổng Thống Thiệu hỏi Đại Sứ Martin rằng nếu ông ra đi, liệu Quốc Hội Hoa Kỳ có thay đổi ư kiến mà bỏ phiếu chấp thuận viện trợ bổ túc cho Việt Nam Cộng Ḥa hay không th́ Đại Sứ Martin trả lời rằng nếu cách đây vài tháng, việc đó có thể giúp Việt Nam Cộng Ḥa có thêm vài ba phi ếu tại Quốc Hội Mỹ, tuy nhiên đó là việc đă qua. Đại Sứ nói thêm rằng “giả thử như Quốc Hội Mỹ chấp thuận viện trợ bổ túc cho Việt Nam Cộng Ḥa đi nữa th́ sự viện trợ đó cũng không thể đến kịp thời để thay đổi t́nh h́nh quân sự tại Miền Nam”.

 

Thật ra th́ khoảng 10 ngày trước đó, vào ngày 10 tháng 4, Tổng Thống Hoa Kỳ Gerald Ford trong một bài diễn văn được truyền h́nh trên toàn nước Mỹ đă cho biết rằng ông đă yêu cầu Quốc Hội cung cấp 722 triệu đô la viện trợ quân sự bổ túc cho Việt Nam Cộng Ḥa theo đề nghị của Đại Tướng Frederick Weyand và c̣n xin thêm 250 triệu nữa để cung cấp thực phẩm, thuốc men và cứu trợ cho người tỵ nạn, tuy nhiên đề nghị đă bị Thượng Viện lúc bấy giờ do Đảng Dân Chủ kiểm soát ngâm tôm, không cứu xét.

 

Qua ngày 16 tháng 4, trong một bài diễn văn đọc trước “Hội Các Nhà Biên Tập Báo Chí Hoa Kỳ (American Society of Newspaper Ediors), Tổng Thống Tổng Thống Ford đă lên án Quốc Hội bội ước không giữ đúng sự cam kết và nghĩa vụ trợ giúp cho Việt Nam Cộng Ḥa trong khi Liên Xô và Trung Cộng lại gia tăng nỗ lực viện trợ cho đồng minh của họ là cộng sản Bắc Việt. Dùng ngôn từ của giới mộ điệu football, Tổng Thống Ford nói rằng: “Tôi cảm thấy muốn phát bệnh khi mà trong hiệp chót (của trận football) nước Mỹ đă không có một nỗ lực đặc biệt nào, không có một chút cam kết dù là nhỏ nhoi trong việc viện trợ kinh tế và quân sự mà Việt Nam Cộng Ḥa cần phải có để có thể tránh được t́nh trạng bi thảm nầy”.

 

Ngày hôm sau 17 tháng 4, Tiểu Ban Quân Vụ của Thượng Viện Hoa Kỳ do Đảng Dân Chủ kiểm soát biểu quyết không chấp thuận bất cứ viện trợ quân sự bổ nào cho Việt Nam Cộng Ḥa, điều nầy có nghĩa là vấn đề viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng Ḥa sẽ không c̣n được đưa ra cứu xét trước Thượng Viện Hoa Kỳ nữa.

 

Qua ngày 18 tháng 4, Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua đạo luật về viện trợ quân sự tài khóa 1976 trên 3 tỷ đô la dành cho nhiều nước trên thế giới, nhưng trong số những quốc gia nhận được viện trợ không có Việt Nam Cộng Ḥa. Như vậy có nghĩa là sau ngày 30 tháng 6 năm 1975, dù có c̣n tồn tại, Việt Nam Cộng Ḥa cũng sẽ không c̣n nhận được một số tiền viện trợ nào dành cho quân sự nữa, không c̣n ngân khoản nào để mua súng đạn, nhiên liệu và cũng không c̣n để trả lương cho Quân Đội nữa.

 

Sau khi Việt Nam Cộng Ḥa bị Cộng sản cưỡng chiếm, Đại Sứ Graham Martin đă điều Trần với Quốc Hội rằng: “Tôi nói với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu rằng kết luận của tôi là dù các Sĩ Quan trong Quân Đội vẫn c̣n phải tiếp tục chiến đấu, nhưng gần như hầu hết các vị Tướng lănh của ông Thiệu đều tin rằng đó là một cuộc chiến vô vọng, trừ khi mà bên cạnh sự Chiến đấu đó phải b ắt đầu khởi sự tiến tŕnh thương thuyết. Tôi nói với ông Thiệu rằng các Tướng lănh tin tưởng rằng tiến tŕnh đó không thể nào được khởi sự trừ khi ông Thiệu ra đi hoặc là ông Thiệu phải thực hiện ngay tiến tŕnh thương thuyết đó với phe cộng sản. Tôi nói tôi có cảm tưởng rằng nếu ông Thiệu không từ chức ngay tức khắc th́ các Tướng lănh của ông buộc ông phải ra đi”.

 

Sau khi Đại Sứ Martin nói hết những điều cần nói. Tổng Thống Thiệu cam kết với ông Martin là ông “sẽ làm bất cứ những ǵ mà tôi nghĩ rằng có lợi nhất cho đất nước của chúng tôi”. The Vietnam Experience, Sách đă dẫn, trang 136.

 

 

NGÀY THỨ HAI

21 tháng 4/1975.

Ông Thiệu Từ Chức.

 

Sau một đêm suy nghĩ, trưa ngày hôm sau, thứ Hai 21 tháng 4, Tổng Thống Thiệu mời Phó Tổng Thống Trần Văn Hương và Đại Tướng Trần Thiện Khiêm, cưu Thủ Tướng, đến Dinh Độc Lập và thông báo với họ rằng ông sẽ từ chức. Tổng Thống Thiệu kể lại cho hai nhân vật nầy cuộc hội kiến với Đại Sứ Pháp và Đại Sứ Hoa Kỳ ngày hôm trước và nhận mạnh rằng cả hai ông Đại Sứ đều không chính thức khuy ến cáo ông từ chức, tuy nhiên v́ t́nh h́nh quân sự đă trở nên vô vọng và ông cảm thấy rằng ông không c̣n có thể phục v ụ đất nước hữu hiệu được nữa cho nên ông phải từ chức. Tổng Thống Thiệu nói với Cụ Trần Văn Hương và Đại Tướng Trần Thiện Khiêm rằng ông muốn bảo tồn tính hợp pháp của chế độ Việt Nam Cộng Ḥa và do đó ông yêu cầu Phó Tổng Thống Trần Văn Hương nhận lănh chức vụ Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa để cứu văn t́nh thế.

 

Tuy nhiên, trong một cuộc tiếp xúc qua điện thoại tại San Jose, cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn đă cho người viết biết rằng trong phiên họp tại Dinh Độc Lập sáng 21 tháng 4 năm 75, chỉ có ba người đó là Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Phó Tổng Thống Trần văn Hương và ông Nguyễn Bá Cẩn, Thủ Tướng Chính Phủ. Ông Thiệu ngồi giữa, Phó Tổng Thống Hương ngồi bên phải và ông Cẩn ngồi bên trái, không hề có cựu Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm như trong các tài liệu khác đă nói. Theo ông Cẩn th́ trong phiên họp nầy, Tổng Thống Thiệu loan báo cho Cụ Hương và ông biết rằng ông đă quyết định từ chức Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa và yêu cầu Phó Tổng Thống Trần Văn Hương lên thay thế ông theo đúng tinh thần Hiến Pháp 1967. Mạn đàm qua điện thoại với cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn tại San Jose, California, ngày 6/5/2002.

 

Trong cuốn Hồi Kư “Đất Nước Tôi” mới xuất bản gần đây, cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn cho biết rơ hơn như sau:

“Sáng thứ Hai (21/4/75) tôi gọi điện thoại hỏi Đại Tá Cẩm, Đổng Lư Văn Pḥng của Tổng Thống Thiệu để bàn công việc khẩn cấp, toàn là những tin bất lợi mà tôi thu nhận được trong hai ngày cuối tuần vừa qua, từ quân sự cho đến ngoại giao, ngoại viện v.v...Nhưng Đại Tá Cẩm cho tôi biết nhiều lần là Tổng Thống Thiệu đang họp với Phó Tổng Thống Hương. Đại Tá Cẩm cũng cho tôi biết là trong ngày Chủ Nhật hôm qua, Đại Sứ Martin đến thảo luận với Tổng Thống Thiệu về t́nh h́nh nguy ngập của Miền Nam và h́nh như Tổng Thống Thiệu sẽ lấy những quyết định tối quan trọng.

 

Sau cùng vào lúc 11 giờ trưa ngày 21 tháng 4, tôi được mời gặp Tổng Thống Thiệu. Đến nơi, tôi nhận thấy không phải chỉ Tổng Thống Thiệu mà c̣n có thêm Phó Tổng Thống Hương. Phiên họp vỏn vẹn Chỉ có ba người. Tổng Thống Thiệu mở đầu là sau khi thảo luận với Đại Sứ Martin, ông ta quyết định là từ chức và bàn giao trách nhiệm Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa cho Phó Tổng Thống Trần Văn Hương theo đúng Hiến Định. Việc Tổng Thống Thiệu từ chức, ông ta cho biết, là để xem Quốc Hội Hoa Kỳ có thay đổi lập trường của Ủy Ban Quốc Pḥng Thượng Viện, tiếp tục quân viện cho Việt Nam để mở đường cho Hoa Kỳ và Đồng Minh thương lượng một một giải pháp chính trị mà phía cộng sản Bắc Việt nhất quyết từ chối mọi cuộc thảo luận nếu Tổng Thống Thiệu c̣n tại chức. Đúng là cả bạn lẫn thù đang ban cho Miền Nam phát súng ân huệ cuối cùng”. Nguyễn Bá Cẩn, Sách đă dẫn, trang 421.

 

Tuy cả hai ông Đại Sứ Pháp Mérillon và Hoa Kỳ Martin đă thuyết phục Tổng Thống Thiệu nên từ chức trong ngày Chủ Nhật nhưng Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng chưa có quyết định dứ t khoát v́ dường như ông vẫn c̣n chờ đợi thái Độcủa các Tướng lănh, ông vẫn c̣n chờ đợi xem các Tướng lănh có c̣n ủng hộ ông trong việc ngồi lại ghế Tổng Thống hay không.

 

Trong cuốn Khi Đồng Minh Tháo Chạy, Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng cho biết vào năm 1984, cựu Tổng Thống Thiệu đă tiết lộ với ông rằng trước khi quyết định từ chức, ông đă mời các Tướng lănh đến Dinh Độc Lập để báo cho họ biết về cuộc hội kiến với Đại Sứ Hoa Kỳ ngày hôm trước: “Ông Thiệu kể cho tôi (năm 1984) là hôm sau ngày gặp ông Martin, ông đă mời các Tướng lănh đến Dinh Độc Lập. Trong buổi họp ông cho họ biết về những chuyện Đại Sứ Martin đề cập tới.Ông Thiệu nói nếu các Tướng lănh cho rằng ông là một chướng ngại vật cho ḥa b́nh của đất nước th́ ông sẽ từ chức. Không ai phát biểu ǵ cả. Thế là đă rơ họ không muốn cho ông ngồi ghế Tổng Thống nữa. Giữa lúc đó, ông tuyên bố từ chức và Phó Tổng Thống Trần Văn Hương lên thay”. Nguyễn Tiến Hưng: Khi Đồng Minh Tháo Chạy, trang 389.

 

Như vậy có lẽ Tổng Thống Thiệu đă tham khảo các Tướng lănh một cách bán chính thức trước khi quyết định từ chức và khi không c̣n được họ ủng hộ nữa, khi ông thấy rằng: “thế là đă rơ họ không muốn ông ngồi lại ghế Tổng Thống nữa” th́ ông mới loan báo quyết định nầy với Phó Tổng Thống Trần Văn Hương và cựu Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm.

 

Frank Snepp, nhân viên CIA và cũng là tác giả cuốn Decent Interval tiết lộ rằng khi ông Thiệu nói chuyện với Phó Tổng Thống Trần Văn Hương và Đại Tướng Trần Thiện Khiêm (hay Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn) tại Dinh Độc Lập th́ bộ phận nghe lén của CIA ở Ṭa Đại Sứ Mỹ nghe hết không sót một lời nào. Trùm CIA tại Sài G̣n là Thomas Polga sau đó đă ra lệnh cho phụ tá của ông là Thiế u Tướng Charles Timmes đến gặp Đại Tướng Dương Văn Minh ngay chiều hôm Đó và hỏi thẳng ông Dương Văn Minh rằng nếu người Mỹ có cách loại ông Hương ra khỏi ghế Tổng Thống th́ ông Minh có sẵn ḷng đảm nhận chức vụ nầy để điều đ́nh với việt cộng hay không? Đại Tướng Minh gật đầu nhận lời, ông bày tỏ sự tin tưởng rằng ông có thể thuyết phục “phe bên kia” và ông nói với Tướng Timmes rằng ông cần gởi ngay một địa diện của ông sang Paris để thương thuyết ngay với phe công sản. Nghe ông Minh nói như vậy, Tướng Timmes liền mở cặp lấy ngay một ngàn đô la tiền mặt trao cho ông Minh để mua vé may bay cho người nầy. Frank Snepp chú thích thêm là ông Minh không hề gởi người nào sang Paris, không dùng đến số tiền nầy và cũng không trả lại cho người Mỹ. Frank Snepp cũng cho biết thêm là Đại Sứ Martin không hề hay biết ǵ về việ c CIA cho người tiếp xúc với Dương Văn Minh trước khi ông Thiệu từ chức. Frank Snepp: Sách đă dẫn, trang 395.

 

Chiều hôm đó, ông Thiệu triệu tập Hội Đồng An Ninh Quốc Gia gồm có Phó Tổng Thống Trần Văn Hương, Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn, Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, Thiếu Tướng Nguyễn Khắc B́nh, Tư Lịnh Cảnh Sát Quốc Gia, Thiếu Tướng Đăng Văn Quang, Phụ Tá An Ninh, ngoài ra c̣n có thêm sự hiện diện của Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lịnh Quân Đoàn III và Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, Tư Lịnh Biệt Khu Thủ Đô dù rằng hai nhân vật nầy không phải là thành viên của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia. Trong phiên họp nầy, Tổng Thống Thiệu tuyên bố rằng ông sẽ từ chức và ông sẽ loan báo việc nầy với quốc dân đồng bào vào tối hôm đó.

 

Theo cựu Trung Tướng Trần Văn Đôn, lúc đó đang giữ chức Tổng Trưởng Quốc Pḥng trong chính phủnguyễn Bá Cẩn và không được mời dự trong phiên họp nầy, Đại Tướng Cao Văn Viên đă kể lại với ông rằng ông Thiệu nói: “Lư do thứ nhất mà ông từ chức là v́ Quân Đội đưa ông lên ghế Tổng Thống năm 1967 th́ bây giờ ông phải làm vừa ḷng Quân Đội v́ Quân Đội định đảo chánh. Lư do thứ hai là ông ta ra đi để Hoa Kỳ viện trợ trở lại cho Việt Nam Cộng Ḥa”. Ông Thiệu không nói rơ tên người nào dự định đảo chánh nhưng theo lời Tướng Trần Văn Đôn th́ lúc đó ai cũng nghi là ông ta, tuy nhiên ông minh xác rằng “sự thật không đúng vậy”. Ông Thiệu cũng cho mọi người biết rằng ông sẽ trao quyền lại cho Phó Tổng Thống Trần Văn Hương như Hiến Pháp đă quy định và Phó Tổng Thống Trần Văn Hương đă nhận lời.

 

Cựu Đại Tướng Cao Văn Viên cho biết thêm: “Trong buổi họp ở Dinh Độc Lập ngày 21 tháng 4 năm 1975, Tổng Thống Thiệu tuyên bố từ chức. Theo lời giải thích của Tổng Thông Thiệu, Hoa Kỳ muốn ông từ chức và dù ông có muốn hay không th́ một số Tướng lănh trong Quân Đội cũng sẽ ép buộc ông phải ra đi. Ông hy vọng sự từ chức của ông sẽ đem lại ḥa b́nh và Hoa Kỳ sẽ tiếp tục viện trợ giúp cho Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa. Theo Hiến Pháp, ông nhường chức lại cho Phó Tổng Thống Trần Văn Hương. Cuối cùng, Tổng Thống Thiệu mong muốn Quân Đội, Cảnh Sát Quốc Gia ủng hộ vị Tân Tổng Thống”. Cao Văn Viên: Sách đă dẫn, trang 219.

 

Chiều ngày 21 tháng 4 năm 1975, Đài Phát Thanh Sài G̣n liên tục đọc thông cáo khẩn cấp của Phủ Tổng Thống mời tất cả các vị Nghị Sĩ và Dân Biểu, các Thẩm Phán trong Tối Cao Pháp Viện và các vị Giám Sát trong Giám Sát Viện đến Dinh Độc Lập dự phiên họp đặc biệt váo tối hôm đó, tuy nhiên thông báo không nói rơ lư do của phiên họp nầy. Đúng 7 giờ rưỡi tối hôm đó, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đă nói chuyện với đại diện cả ba ngành Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp cùng toàn thể quốc dân đồng bào trong gần 2 tiếng đồng hồ và được trực tiếp truyền thanh và truyền h́nh trên toàn quốc.

 

Tổng Thống Thiệu tŕnh bày các diễn tiến từ Hiệp Định Paris 1973 đến việc cộng sản leo thang chiến tranh năm 1974, việc Cộng sản chiếm Phước Long mà không gặp phản ứng nào từ phía Hoa Kỳ để rồi từ đó tấn chiếm Ba Mê Thuột mở đầu cho sự thất thủ miền Cao Nguyên, miền Trung và Duyên Hải. Ông Thiệu lên án Đồng Minh Hoa Kỳ không giữ lời hứa tiếp tục viện trợ cho Việt Nam Cộng Ḥa và ông nói rằng:

“Người Mỹ từ chối giúp đỡ cho một nước Đồng Minh, b ỏ rơi một nước Đồng Minh như vậy là một điều vô nhân đạo. Các ông để cho chiến Sĩ của chúng tôi chết đuối dưới làn mưa đạn của địch. Đó là hành động vô nhân đạo của một Đồng Minh vô nhân đạo”.

 

Ông Thiệu nói thêm rằng:Người Mỹ thường hănh diện họ là những kẻ vô địch b ảo vệ cho chính nghĩa và lư tưởng tự do trên thế giới và sang t ới năm (1976) họ sẽ ăn mừng kỷ niệm 200 năm lập quốc, liệu người ta c̣n có thể tin tưởng vào những lời tuyên bố của người Mỹ hay không?”. Quay sang t́nh h́nh quốc nội, ông Thiệu nói rằng: “Tại một vài nơi, Quân Đội của chúng ta đă chiến đấu rất dũng cảm nhưng tôi cũng phải nh́n nhận rằng có một vài cấp lănh đạo Quân Đội, không phải tất cả, đă tỏ ra hèn nhát. Tôi có thể tiếp tục nhiệm vụ Tổng Thống để lănh đạo cuộc kháng chiến tuy nhiên tôi không c̣n có thể cung cấp vũ khí đạn dược (v́ người Mỹ đă cúp viện trợ) để cho Quân Đội tiếp tục công cuộc chiến đấu. Nhân dân có thể ghét tôi và h ọ cho rằng tôi sẽ là một chướng ngại vật cho ḥa b́nh và do đó tôi chỉ c̣n một giải pháp duy nhất, đó là từ chức”.

 

Ông Thiệu nói rằng ông từ chức không phải v́ áp lực của Đồng Minh, cũng không phải v́ những khó khăn về quân sự do cộng sản gây nên. Ông nói rằngcác nhà lănh đạo một số cường quốc trên thế giới thường tự hào là họ đă vượt qua được sáu, bảy hay mười cơn khủng hoảng và sau nầy đă viết hồi kư tự đề cao ḿnh như những bậc anh hùng, như những chính khách vô cùng lỗi lạc, nhưng trong 10 năm lănh đạo Miền Nam Việt Nam, từng năm, từ ng tháng, từ ngày, từng giờ ông Thiệu đă đương đầu với mọi khó khăn như lá số tử vi của ông đă nói rơ”.

 

Ông Thiệu kết luận rằng:

“Tôi sẵn sàng nhận lănh sự phán xét và buộc tội của đồng bào nhưng sự sống c̣n của cả một dân tộc không có thể mang ra mặc cảnhư con cá ở ngoài chợ. Tôi từ chức nhưng tôi không đào ngũ”. Sau đó ngừng một giây đồng hồ, ông Thiệu nói tiếp “Theo Hiến Pháp, người thay thế tôi là Phó Tổng Thống Trần Văn Hương”.

 

          Sau khi dứt lời ông Nguyễn Văn Thiệu bước xuống mời Phó Tổng Thống Trần Văn Hương lên tuyên thệ nhậm chức. Trong bài diễn văn ngắn ngủi, Tân Tổng Thống Trần Văn Hương nhắn nhủ với Quân Đội:

 

“Chừng nào các anh em c̣n tiếp tục chiến đấu, bao giờ tôi cũng đứng tôi cũng sẽ đứng bên cạnh các anh em. Đất nước chúng ta đang rơi vào cơn th ảm họa nhưng ước vọng quư giá nhất của tôi là sẽ được đóng góp xương máu và chia xẻ mọi gian nguy của các anh emở chiến trường. Đoàn kết là sống, chia rẽ là chết”.

 

Sau đó cựu Tổng Thống Nguyễ n Văn Thiệu ngồi vào gh ế của Phó Tổng Thống và Tân Tổng Thống ngồi vào ghế của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu trước đó để nghe Đại Tướng Cao Văn Viên đọc nhật lệnh cho Quân Đội tiếp tục nhiệm vụ chiến đấu và Thiếu Tướng Nguyễn Khắc B́nh kêu gọi các Lực Lượng Cảnh Sát tiếp tục nhiệm vụ duy tŕ an ninh trật tự trên toàn quốc.

 

Trong khi lễ bàn giao đang diễn ra tại Dinh Độc Lập, các đơn vị cuối cùng c̣n lại của Sư Đoàn 18 bắt đầu di tản ra khỏi Thị Trấn Xuân Lộc sau khi đă chiến đấu vô cùng anh dũng chống lại một lực lượng chính quy Bắc Việt đông gấp năm lần trong hơn hai tu ần lễ. Khi Cụ Trần Văn Hương nhậm chức Tổng Thống th́ quân cộng sản đă tiến về t ới Biên Ḥa và bộ máy của cơ quan t́nh báo Mỹ CIA cùng t́nh báo của Pháp cũng như Đại Sứ là ông Jean-Marie Mérillon đă bắt đầu hoạt động ráo riết để đưa cựu Đại Tướng Dương Văn Minh lên thay thế ông Trần Văn Hương nhằm thương thuyết với cộng sản.

 

Trong khi đó th́ từ Hà Nội, Ban Bí Thư Đảng đă gửi điện văn số 316-TT/TW ngày 21 tháng 4 năm 1975 cho tất cả các Chi Bộ Đảng chỉ thị về việc chọ n lựa cán bộ để tiếp thu Sài G̣n và các Tỉnh Miền Nam. Chỉ thị nầy nói rằng ưu tiên dành cho các cán bộ quê ở Miền Nam, nếu trường hợp thiếu th́ mới dùng cán bộ Miền Bắc. Ngoài ra chỉ thị nầy cũng ra lệnh phải điều động cán bộ khẩn tr ương để sớm đi nhận nhiệm vụ. Chỉ thị nầy do Lê văn Lương, Ủy Viên Bộ Chính Trị, Trưởng Ban Tổ Chức Đảng kư tên. Văn Kiện Đảng: Trang 291-293)

Cũng trong ngày 21 tháng 4, Tố Hữu thay mặt cho Ban Bí Thư gởi bức điện văn số 178 gởi cho “Anh Bảy” Phạm Hùng, “Anh Sáu Mạnh” Lê đức Thọ và Thường Vụ Trung Ương Cục về những chỉ thị của Bộ Chính Trị trong công tác tiếp quản Thành Phố Sài G̣n bao g ồm 156 mục tiêu quân sự, 122 mục tiêu chính trị và hành chánh, 103 mục tiêu kinh tế v.v...Chỉ thị nầy dài 7 trang giấy tuy nhiên chỉ là những chi tiết về việc tiếp thu các cơ quan tại Sài G̣n và quan trọng nhất là việc thành lập một Ủy Ban Quân Quản tại Sài G̣n-Gia Định cũng như là những Ủy Ban Quân Quản của 11 Quận Đô Thành. Chỉ thị cũng chú trọng đến việc tổ chức ngay các đội quân cảnh, các đội cảnh sát, các đội tự vệ nhân dân ở địa phương để giữ ǵn an ninh trật tự, quản lư bọn ngụy quân, ngụy quyền, phát hiện bọn phản động lẫn trốn và trấn áp bọn phản cách mạng hiện hành. Bản chỉ thị không hề đả động ǵ đến chuyện thương thuyết hay ḥa hợp ḥa giải với thành phần thứ ba thứ tư nào cả. Văn Kiện Đảng: Trang 294-299)

 

 

 

(Xin đọc tiếp phần 9)

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính