Việt Nam Cộng Ḥa 10 ngày cuối cùng

 

- Phần 11 -

 

Trần Đông Phong

 

 

 

Trước hết là người Mỹ.

 

Bác Sĩ Đỗ nói rằng vị Phó Trưởng Phái Đoàn Hoa Kỳ lúc đó là Đại Sứ Phillip Habib, trước đó là Phụ Tá của Đại Sứ Ellsworth Bunker trong chức vụ Phó Đại Sứ Hoa Kỳ tại Sài G̣n. Ông nói rằng ông Habib là bạn thân của ông, vào năm 1965 chính ông Habib đă thuyết phục ông nên nhận lời giữ chức vụ Ngoại Trưởng trong chính phủ Quân Nhân của Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ v́ ông Habib nói rằng “nếu có Bác Sĩ trong chính phủ th́ ít ra người Mỹ chúng tôi cũng biết c̣n có một người có thể nói chuyện được”. Vậy mà sau khi ông gặp Xuân Thủy, dù đă kể lại cho ông Habib nghe những ǵ đă xẩy ra mà ông ta vẫn không chịu tin v́ người Mỹ nghi rằng Bác Sĩ Đỗ gặp Xuân Thủy để trao một đề nghị ǵ đó của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cho Hà Nội. Bác Sĩ Đỗ nói rằng sau đó th́ ông đi đâu cũng có người của CIA theo dơi.

 

Có lẽ vào lúc đó Bác Sĩ Trần Văn Đỗ không được biết chủ trương của Tiến Sĩ Henry Kissinger là tất cả mọi sự thương thuyết về Việt Nam phải do chính người Mỹ hay nói rơ hơn là do chính Kissinger với Bắc Việt mà thôi. Trong cuốn sách “Khi Đồng Minh Tháo Chạy, ông Nguyễn Tiến Hưng có t́m thấy một tài liệu nói rơ vấn đề này:

 

“Cho đến thời điển cuối cùng trước khi Miền Nam sụp đổ ngày 26 tháng 4 năm 1975, Kissinger c̣n đánh điện cho Đại Sứ Martin nói rằng: Bất cứ điều đ́nh nào cũng phải là giữa Hoa Kỳ và phía Bắc Việt chứ không phải giữa Sài G̣n và Hà Nội. Ông c̣n nói thêm rằng “bất cứ cuộc thảo luận nào cũng phải diễn ra tại Paris”. Nguyễn Tiến Hưng: Sách đă dẫn, trang 453-454.

 

Sau đó Bác Sĩ Trần Văn Đỗ cũng gặp một vài sự phiền phức ở Sài G̣n. Bác Sĩ Trần Văn Đỗ cho biết thêm rằng sau khi về đến Sài G̣n th́ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu lại mời ông vào Dinh Độc Lập để tường tŕnh về cuộc gặp gỡ này. Ông cũng thực t́nh kể lại như vậy, chỉ có nói chuyện suông mà thôi chứ cũng chẳng có ǵ quan trọng cả, ông Xuân Thủy không hề đưa ra một đề nghị nào, không có một điều ǵ nhắn gửi ǵ đến chính quyền Miền Nam, tuy nhiên ông Thiệu cũng không tin như vậy và sau đó th́ mối liên lạc giữa Tổng ThốngThiệu với ông trở nên lạnh nhạt hơn. Bác Sĩ Trần Văn Đỗ nói rằng cho đến khi về Sài G̣n, ông suy nghĩ thật nhiều mà cũng không thể nào hiểu được nguyên nhân lại sao ông lại được Xuân Thủy mời đến gặp tại Paris. Bác Sĩ Đỗ nói với người viết rằng nếu Xuân Thủy hay các nhà lănh đạo cộng sản muốn mua chuộc hay thuyết phục ông th́ đó cũng là một điều thật vô cùng buồn cười v́ tại Sài G̣n th́ ai cũng đều biết rằng từ năm 1968, Bác Sĩ Tần Văn Đỗ là Phó Chủ Tịch Chi Hội Việt Nam Liên Minh Thế Giới Chống Cộng (Worl's Anti-communist League), vị Chủ Tịch Chi Hội là Bác Sĩ Phan Huy Quát và Tổng Thơ Kư là Luật Sư Nguyễn Lâm Sanh, bạn thân của Luật Sư Nguyễn hữu Thọ, lúc đó đang làm Chủ Tịch Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Sau năm 1975, Bác Sĩ Phan Huy Quát bị giam tại Chí Ḥa rồi bị cộng sản đầu độc và chết ở trong tù, Luật Sư Nguyễn Lâm Sanh, dù là bạn thân của Nguyễn hữu Thọ cũng bị đi tù “cải t ạo” ở Bắc Việt gần 10 năm trời và sau khi được trả tự do th́ sang sống ở Pháp rồi từ trần tại Paris.

 

Mấy năm sau th́ chính Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu lại yêu cầu Bác Sĩ Trần Văn Đỗ tiếp xúc với các đại diện của Mặt Trận Giải Phóng tại Paris. Theo ông Nguyễn Tiến Hưng th́ “vào cuối năm 1974 Thiệu “cho phép” (authorized) cựu Ngoại Trưởng Trần Văn Đỗ bí mật thương thuyết với đại diện của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tại Paris. Ông Đỗ, một người Miền Nam đă được sự tin cậy của các đại diện của chính phủ Cách Mạng Lâm Thời mà ông đă từng quen biết từ trước khi cuộc chiến tranh xảy ra. Người Mỹ không chấp thuận việc ông Đỗ tiếp xúc với phái đoàn việt cộng, tuy nhiên nỗ lực của ông Đỗ cũng chẳng đi đến đ âu v́ Hà Nội không muốn chính phủ Cách Mạng Lâm Thời thương thuyết trực tiếp với Sài G̣n, cũng cùng một lư do mà người Mỹ không muốn Sài G̣n trực tiếp gặp gỡ chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam. Cả hai phe Bắc Việt và Hoa Kỳ đều muốn kiểm soát mọi hành động cũng như là kết quả”. Nguyễn Tiến Hưng & Jerrold Schecter: Sách đă dẫn, trang 314.

 

Vào năm 1974, theo tinh thần của Điều 12 Hiệp Định Paris l973, một hội nghị giữa Việt Nam Cộng Ḥa và việt cộng đă được triệu tập tại La Celle St Cloud ở Pháp để làm hết sức ḿnh để trực hiện việc kư kết một hiệp định về các vấn đề nội bộ của Miền Nam Việt Nam, Bác Sĩ Trần Văn Đỗ đă được mời tham dự vào Phái Đoàn này cùng với các ông Trần Văn Ân, Nguyễn Quốc Định, Nguyên Đắc Khê, Nguyễn Ngọc An, Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy, Luật Sư Trần Văn Tuyên và Luật Sư Nguyễn Thị Vui, Trưởng Phái Đoàn là Bác Sĩ Nguyễn Lưu Viên và Phó Trưởng Phái Đoàn là ông Nguyễn Xuân Phong. Phía việt cộng, người cầm đầu phái đoàn là Nguyễn văn Hiếu. Hội nghị này diễn ra hằng tuần, mỗi phía đọc một bài diễn văn soạn sẵn rồi sau đó ai về nhà nấy chờ đến tuần sau, không khí vô cùng tẻ nhạt và chẳng có đi đến đâu, báo chí Sài G̣n hồi đó gọi hội nghị này là “chuyện dài nhân dân tự vệ”. Hội nghị kéo dài cho đến ngày 15 tháng 5 năm 1974 th́ cả hai bên đồng ư ngưng hẳn mọi sự thương thuyết v́ tất cả mọi người đều biết rơ rằng vấn đề Việt Nam sẽ chỉ được giải quyết trên chiến trường mà mọi lực lượng quân sự đều do cộng sản Bắc Việt lănh đạo.

 

Trong một cuốn sách tên là “Hồi Ức Về Hội Nghị Paris” do nhà xuất bản chính trị quốc gia ở Hà Nội xuất bản vào năm 2001 th́ Nguyễn văn Hiếu cho biết rằng Bác Sĩ Nguyễn Lưu Viên, Trưởng Phái Đoàn Việt Nam Cộng Ḥa có một lần ngỏ lời mời phái đoàn của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đến dùng cơm nhưng họ đă từ chối. Trong một bài phỏng vấn dành cho Tiến Sĩ Lâm Lễ Trinh cách đây mấy năm, Bác Sĩ Nguyễn Lưu Viên xác nhận chuyện đó. Ông cho biết rằng: “Tôi có đề nghị phái đoàn của Nguyễn văn Hiếu dùng cơm chung v́ cùng là dân Miền Nam cả, nhưng họ tránh né”.

 

Bác Sĩ Nguyễn Lưu Viên đă từng tham gia kháng chiến chống Pháp từ năm 1945, ông từng làm Quân Y Sĩ Trưởng của sư đoàn 320 hồi năm 1949 và người chính ủy đại đơn vị này là Văn tiến Dũng do đó trong thời kháng chiến ông quen biết với cả Vơ nguyên Giáp và Văn tiến Dũng. Ông rời bỏ hàng ngũ kháng chiến sau khi đảng cộng sản chính thức lănh đạo cuộc kháng chiến và trở về sống trong vùng quốc gia vào Nam 1951 và sau này đă giữ chức vụ Phó Thủ Tướng trong ba chính phủ: Trần Văn Hương năm 1964, Nguyễn Cao Kỳ năm 1965 và Trần Thiện Khiêm vào năm 1969. Ông cho biết rằng có lẽ v́ nguyên nhân ông có tham gia kháng chiến cho nên đă được chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa chọn làm Trưởng Phái Đoàn ở Hội Nghị La Celle Saint Cloud để dễ bề nói chuyện với việt cộng chứ ông không có tài ăn nói giỏi.

 

Một người có thành tích kháng chiến trên 5 năm như Bác Sĩ Nguyễn Lưu Viên ngỏ lời mời phái đoàn việt cộng dùng cơm mà họ cũng không dám nhận lời th́ việc Bác Sĩ Trần Văn Đỗ được các nhà lănh đạo cộng sản cao cấp hơn như Phạm văn Đồng và Xuân Thủy mời đến gặp hai lần đủ cho thấy rằng ông cũng có nhiều uy tín đối với những người cộng sản Bắc Việt.

 

Tưởng cũng nên nhắc lại là Bác Sĩ Trần Văn Đỗ tuy từng đảm nhận chức vụ Tổng Trưởng Ngoại Giao của Miền Nam nhiều lần nhưng ông là người có đầu óc rất phóng khoáng, được cảm t́nh của nhiều người, nhiều phe phái và họ đều cho rằng ông ta có tinh thần “quân tử “, hiểu theo tiếng quân tử của người Tàu hay là tiếng “gentleman” của người Anh. Về phương diện chính trị, tuy rằng ông là người có tinh thần chống cộng sản nhưng ông cũng tôn trọng chính kiến của những người khác, dù rằng họ theo cộng sản. Ông là con rể của Kỹ Sư Lưu Văn Lang, người đă được Cụ Trần Trọng Kim mời làm Bộ Trưởng Công Chánh trong chính phủ đầu tiên vào năm 1945. Vào tháng 4 năm 1954, trước khi Hội Nghị Genève khai mạc, có một nhóm trí thức tại Sài G̣n thành lập một hội mang tên là “Phong Trào Bảo Vệ Ḥa B́nh”.

 

Chủ Tịch Phong Trào này là Dược Sĩ Trần Kim Quan và trong số các Ủy Viên có Luật Sư Trịnh đ́nh Thảo, Luật Sư Nguyễn hữu Thọ, Ḥa Thượng Thích Huệ Quang, Thạc Sĩ Phạ m huy Thông, Giáo Sư Nguyễn Văn Dưỡng, chuyên viên ngân hàng Nguyễn Văn Vi và Kỹ Sư Huỳnh Văn Lang.

 

Vào khoảng tháng 11 năm 1954, phong trào này tổ chức một cuộc biểu t́nh tại Chợ Bến Thành và sau đó th́ chính quyền Ngô Đ́nh Diệm bắt giam 26 người trong phong trào này. Tuy những người như Luật Sư Nguyễn hữu Thọ, Luật Sư Trịnh đ́nh Thảo, Tiến Sĩ Phạm huy Thông v.v... sau này theo cộng sản nhưng vào thời điểm đó th́ họ chỉ hoạt động cho ḥa b́nh mà thôi, do đó người đứng  ra can thiệp với chính quyền của Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm trả tự do cho một số người chính là Ngoại Trưởng Trần Văn Đỗ. Nhờ sự can thiệp của ông, có một số người được trả tự do, trong đó có Kỹ Sư Huỳnh Văn Lang, nhạc phụ của ông, Luật Sư Nguyễn hữu Thọ, sau này là Chủ Tịch Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam vào năm 1961 và Luật Sư Trịnh đ́nh Thảo, sau vụ Tết Mậu Thân là Chủ Tịch Liên Minh Dân Tộc, Dân Chủ Phụng Sự Ḥa B́nh, một tổ chức thân cộng sản. 

 

Bác Sĩ Trần Văn Đỗ được người Mỹ di tản vào ngày 28 tháng 4 năm 1975 rồi sang sống tại Pháp. Cho đến ngày ông từ trần, Bác Sĩ Trần Văn Đỗ vẫn hăng say hoạt động, tuy tuổi đă cao nhưng ông đă đi nhiều nơi kêu gọi người tỵ nạn tích cực chống lại bạo quyền cộng sản Việt Nam.

 

Người viết có dịp hỏi Bác Sĩ Trần Văn Đỗ hồi tháng 4 năm l975 ông có được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tham khảo mời làm Thủ Tướng theo đề nghị của Đại Tướng Trần Thiện Khiêm hay không th́ ông trả lời rằng ông không hề gặp hay nói chuyện ǵ với ông Thiệu vào tháng 3 hay tháng 4 năm 1975.

 

Theo cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn th́ Tổng Thống Thiệu và Thủ Tướng Khiêm, theo lời Phó Thủ Tướng Nguyễn Lưu Viên, cũng đă nghĩ đến các ông Trần Văn Đỗ, Nguyễn Ngọc Huy và Trần Văn Lắm. Tôi đốc thúc khéo để Tổng Thống Thiệu mời ông Lắm như đă tŕnh bày ở đoạn trên nhưng có nhiều lư do, và nhất là những suy tính chính trị tế nhị làm cho Tổng Thống không mời họ mà lại “nhắm” vào tôi”. Nguyễn Bá Cẩn: Sách đă dẫn, trang 376.

 

Khi được hỏi rằng nếu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu có ngỏ lời mời ông làm Thủ Tướng thay thế Đại Tướng Trần Thiện Khiêm th́ ông có nhận lời hay không, Bác Sĩ Trần Văn Đỗ nói rằng chức vụ Thủ Tướng chính phủ là thi hành đường lối chính sách của Tổng Thống và dù rằng vào đầu tháng 4 năm 1975, t́nh h́nh đă trở nên vô vọng nhưng ông không rơ đường lối và chính sách của ông Thiệu như thế nào, vẫn giữ nguyên “4 không” như cũ hay là có thay đổi. Nếu Tổng Thống Thiệu vẫn giữ nguyên chính sách “4 không”, vẫn mong muốn làm Tổng Thống một phần ba nước Việt Nam v.v... th́ ông không bao giờ nhận lời. Tuy nhiên nếu ông Thiệu muốn cứu văn một vài phần c̣n lại cho nhân dân Miền Nam, Miền Nam đây là xứ Nam Kỳ cũ v́ miền Trung và Miền Cao Nguyên đă hoàn toàn rơi vào tay cộng sản Bắc Việt rồi, nếu ông Thiệu muốn cho phần c̣n lại của Nước Việt Nam Cộng Ḥa có thể tránh được chết chóc, đau thương và đổ nát như tại Miền Trung th́ ông ta phải nghĩ đến việc “nói chuyện” với cộng sản. Tuy nhiên họ có muốn “nói chuyện” với chúng ta hay không là một vấn đề khác, một vấn đề mà chúng ta cũng chưa biết được. Nếu Tổng Thống Thiệu muốn lập một chính phủ để “nói chuyện” với cộng sản ngơ hầu làm chậm bước tiến của đoàn quân xâm lược của họ, ngơ hầu chuẩn bị cho Miền Nam thích ứng với t́nh thế mới để phải sống trong ṿng thỏa hiệp với phe Mặt Trận Giải Phóng và cộng sản Bắc Việt, để ít ra Miền Nam cũng c̣n giữ được phần nào danh dự và phẩm giá của họ th́ trong trường hợp đó, Bác Sĩ Trần Văn Đỗ nói tiếp rằng nếu được yêu cầu th́ ông có thể nhận lời.

 

Theo cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn th́ khi ông nhận lời Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu để đứng ra thành lập Nội Các, ông “cũng đưa ra điều kiện chính trị mà Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu phải miễn cưỡng chấp nhận là trong công cuộc thương thuyết sắp tới sẽ không c̣n lập trường “4 không” nữa. Tôi h́nh dung một thứ liên hiệp với Mặt Trận Giải Phóng để mua thời gian...” Nguyễn Bá Cẩn: Sách đă dẫn, trang 370.

 

Như vậy th́ khi thành lập chính phủ Nguyễn Bá Cẩn, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu có nghĩ đến việc nói chuyện trong tương lai với Mặt Trận và đă đồng ư bỏ lập trường 4 không, tuy nhiên nhân vật mà ông chọn lựa để đảm nhận vai tṛ đó là ông Nguyễn Bá Cẩn.

 

Người viết có hỏi Bác Sĩ Trần Văn Đỗ rằng hồi đó, ai là người đă nghĩ đến việc đưa tên của Bác Sĩ vào trong danh sách những người được đề nghị làm Thủ Tướng th́ ông trả lời rằng ông không được biết, tuy nhiên ông cho biết trong khi nói chuyện với một vài nhà ngoại giao Nhật Bản th́ họ là những người đă đưa ra ư kiến là nếu cần phải thương thuyết hay nói chuyện một cách nghiêm chỉnh với cộng sản Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam th́ nhân vật thích hợp nhất là ông. Người viết đă từng được tháp tùng Bác Sĩ Trần Văn Đỗ sang thăm Nhật Bản nhiều lần và có biết rơ ràng ông có nhiều liên hệ rất thân thiết với cựu Thủ Tướng Nhật Nebusuki Kishi lănh tụ Đảng Dân Chủ Tiến Bộ (Liberal Demoratic Party) cầm quyền tại Nhật Bản từ sau Đệ Nhị Thế Chiến cho đến tận bây giờ.

 

Ông Kishi là vị Thủ Tướng Nhật đă đưa nước Nhật phục hồi sau sự bại trận vào năm 1945 để trở thành một quốc gia cường thịnh nhất trên thế giới về phương diện kinh tế. Do đó ông Kishi sau này tuy không c̣n làm Thủ Tướng nhưng vẫn c̣n có rất nhiều ảnh hưởng trong giới chính trị tại Nhật Bản, nhất là trong giới lănh đạo của Đảng Dân Chủ Tiến Bộ đang cầm quyền tại Nhật từ thập niên 1940 cho đến tận bây giờ.

 

Người viết có hỏi Bác Sĩ Trần Văn Đỗ rằng trong quá khứ, ông là người Miền Nam duy nhất đă được những người trong giới lănh đạo cộng sản Bắc Việt mời đến nói chuyện với họ đến hai lần, giả thử như ông được mời và nhận lời làm Thủ Tướng vào tháng 4 năm 1975, liệu phe cộng sản có chấp nhận “nói chuyện” với ông hay không?

 

Sau vài giây suy nghĩ, Bác Sĩ Trần Văn Đỗ nói rằng ông không tin rằng họ sẽ nói chuyện với ông v́ đến cuối tháng 3 năm 1975 th́ ḿnh có c̣n ǵ nữa đâu để mà họ cần phải nói chuyện với ḿnh!

 

Chuyện Bác Sĩ Trần Văn Đỗ hồi năm 1975 có thể được mời đứng ra thành lập một chính phủ với đại diện của nhiều thành phần đối lập để nói chuyện với cộng sản vẫn c̣n được nhắc nhở đến gần 10 năm sau. Trong cuốn The Final Collapse được xuất bản vào năm 1983 tại Hoa Kỳ, cựu Đại Tướng Cao Văn Viên cho biết rằng: “Ngày 2 tháng 4 năm 1975, trong một cuộc họp thường lệ ở Quốc Hội, Thượng Viện Việt Nam Cộng Ḥa đă bỏ 42 phiếu thuận và 10 phiếu chống, kết tội Tổng Thống Thiệu về những thất bại đang xảy ra và yêu cầu ông thành lập một Nội Các mới với đại diện của nhiều thành phần chính trị đối lập. Có nhiều tiếng đồn chính phủ có thể có một Nội Các liên hiệp với sự lănh đạo của hai ông Trần Văn Đỗ và Trần Văn Lắm. Ba ngày sau, ngày 5 tháng 4, Chủ Tịch Hạ Viện Nguyễn Bá Cẩn được chỉ định làm Thủ Tướng”. Cao Văn Viên: Sách đă dẫn, trang 218.

 

Trong cuộc đời chính trị, Bác Sĩ Trần Văn Đỗ đă giữ chức vụ Tổng Trưởng Ngoại Giao trong ba Nội Các khác nhau: Nội Các của Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm vào năm 1954, Nội Các của Bác Sĩ Phan Huy Quát vào năm 1965 và Nội Các của Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ từ năm 1965 cho đến 1968. Tuy nhiên có lẽ số mệnh đă an bài, dù rằng ông có thể được mời làm Thủ Tướng đến hai lần nhưng ông không bao giờ có cơ hội được giữ chức vụ này.

 

Cách đó chừng 10 năm, vào tháng 2 năm 1965, sau khi Tướng Nguyễn Khánh tuyên bố Hội Đồng Tướng Lănh dưới sự lănh đạo của ông đă “bất tín nhiệm” Thủ Tướng Trần Văn Hương, Tướng Nguyễn Khánh đă dự định mời Bác Sĩ Trần Văn Đỗ ra làm Thủ Tướng. Trong một cuộc phỏng vấn dành cho nhà báo Lư Kiến Trúc trên Đài Truyền H́nh Little Saigon TV vào ngày 20 tháng 2 năm 2004, cựu Đại Tướng Nguyễn Khánh cho biết: “Tôi chỉ định ông Phan Huy Quát làm Thủ Tướng.

 

Một cái chi tiết nữa là tôi có hai người lựa chọn, trong lúc đó ngoài ông Bác Sĩ Nguyễn Xuân Chữ không bằng ḷng (nhận lời làm Thủ Tướng), là cái ông ǵ làm Bộ Ngoại Giao của ḿnh, đó là Bác Sĩ Trần Văn Đỗ. Trần Văn Đỗ với tôi có liên hệ chút nào đó, ông Trần Văn Đỗ lúc đó cũng được người ta để ư lắm. Tôi mời ông Trần Văn Đỗ lại, ông đang đi đánh tennis. Trời ơi! Quốc gia hữu sự như thế này mà mời ổng, ổng đang đi đánh tennis th́ thôi, th́ cho ổng đi luôn đi. Tôi đưa ông Quát thế thôi”. Lư Kiến Trúc: Phỏng vấn Đại Tướng Nguyễn Khánh, Nguyệt San Văn Hóa số 86. Tháng Ba năm 2004.

 

Bác Sĩ Trần Văn Đỗ, dù là một trong những người trong sạch, có tài đức và uy tín nhất tại Miền Nam nhưng chưa bao giờ nắm giữ chức vụ Thủ Tướng, chắc có lẽ đó cũng là cái Số của ông. Sau khi đọc bài phỏng vấn cựu Đại Tướng Nguyễn Khánh vào năm 2004, người viết không thể nào hỏi Bác Sĩ Trần Văn Đỗ về vấn đề này được nữa v́ ông đă qua đời tại Pháp.

 

 

NGÀY THỨ SÁU

 

25 THÁNG 1975 Ông Thiệu Ra Đi

 

Cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức vào tối 21 tháng 4 năm 1975, tuy nhiên ông vẫn c̣n trú ngụ trong Dinh Độc Lập cho đến ngày 25 tháng 4. Theo bản cáo trạng của Phong Trào Nhân Dân Chống Tham Nhũng Để Cứu Nước và Kiến Tạo Ḥa B́nh phổ biến vào ngày 8 tháng 9 năm 1974 tại Huế th́ “Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu có mua một căn nhà ở trên đường Công Lư trị giá khoảng 98 triệu đồng và một ngôi nhà ba căn trong Cư Xá Sĩ Quan cao cấp trong khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu mà ông đă dùng 30 triệu đồng của ngân sách quốc gia để sửa chữa và tân trang từ khi c̣n là Chủ Tịch ủy Ban Lănh Đạo Quốc Gia năm 1965”, Nguyễn Khắc Ngữ: Sách đă dẫn, phần Phụ Lục.

 

Tuy nhiên ông Thiệu không muốn dọn ra khỏi Dinh Độc Lập v́ “lư do an ninh”. Theo ông Nguyễn Tiến Hưng, tác giả cuốn “The Palace Fale”, th́ chính Tân Tổng Thống Trần Văn Hương đă yêu cầu Đại Sứ Graham Martin thuyết phục ông Thiệu nên rời khỏi Việt Nam và sắp xếp phương tiện để đưa ông ta ra đi v́ chừng nào ông Thiệu c̣n ở lại Việt Nam th́ ông ta cứ t́m cách can thiệp vào công việc của tân chính phủ. Đại Sứ Martin đồng ư. Ông Nguyễn Tiến Hưng nói rằng Tổng Thống Trần Văn Hương đă gọi ông Thiệu và đề nghị ông Thiệu nên ra đi v́ nếu ông Thiệu c̣n ở lại th́ phe cộng sản sẽ có cớ để tố cáo rằng chính quyền của Tổng Thống Hương là một “chính quyền Nguyễn Văn Thiệu mà không có Thiệu”. Đề cho việc ra đi của ông Thiệu có vẻ hợp pháp, Tổng Thống Trần Văn Hương đă kư một Sắc Lệnh cử cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu làm đại diện đặc biệt cho Việt Nam Cộng Ḥa đến Đài Loan để phân ưu về việc Tổng Thống Tưởng Giới Thạch từ trần ngày 5 tháng 4 năm 75. Thật ra th́ đây là một chuyện khôi hài v́ tang lễ của Cố Tổng Thống Tưởng Giới Thạch đă diễn ra tại Taipei cách đó ba tuần lễ và người đă đại diện cho Việt Nam Cộng Ḥa chính là Phó Tổng Thống Trần Văn Hương.

 

Theo Frank Snepp, người đă lái xe đưa ông Thiệu ra Phi Trường Tân Sơn Nhất, th́ Cụ Hương cũng không mấy vui vẻ cho lắm khi ông Thiệu tuy đă từ chức nhưng vẫn c̣n muốn đóng vai “thái thượng hoàng” và vẫn c̣n ngồi trong Dinh Độc Lập gọi điện thoại can thiệp hết chuyện này đến chuyện kia, tuy nhiên nếu Cụ ép buộc ông Thiệu phải ra đi th́ sẽ làm phật ḷng những kẻ vẫn c̣n ủng hộ ông Thiệu, do đó Cụ yêu cầu Đại Sứ Martin t́m một giải pháp cho vấn đề này. Đại Sứ Martin chẳng mấy tha thiết về việc này v́ cho đến giờ phút đó, ông vẫn c̣n muốn cho mọi người mang cái cảm tưởng là Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ không hề dính dáng ǵ đến việc ông Thiệu từ chức. Tuy nhiên, Tướng Dương Văn Minh th́ lại nghĩ rằng việc ông Thiệu c̣n tiếp tục ở lại Sài G̣n sẽ là một chướng ngại vật cho việc ông ta vận động lên thay thế Cụ Hương để điều đ́nh với cộng sản, do đó ông Minh đă yêu cầu bạn của ông và cũng là nhân vật số hai của CIA ở Sài G̣n là cựu Thiếu Tướng Charles Timmes phải t́m mọi cách đề đẩy ông Thiệu ra đi. Khi có thêm áp lực của CIA, Đại Sứ Martin phải bỏ thái độ dè dặt và đành phải sắp xếp để ông Thiệu ra khỏi Việt Nam.

 

Theo ông Trần Văn Đôn trong cuốn Việt Nam Nhân Chứng  th́ vào buổi sáng ngày 25 tháng 4, ông Thiệu mời ông Đôn vào Dinh Độc Lập để “nhờ tôi lấy cho bạn ông ấy một chiếu khán đi ngoại quốc”. Ông Trần Văn Đôn kể lại rằng trước khi từ giă, ông nh́n thẳng vào ông Thiệu và nói với ông ta rằng: “c̣n phần ông, chừng nào ông đi? Tôi biết Mỹ không muốn xảy ra chuyện như ông Diệm. Xung quanh ông đang bỏ ông, nhất là khi nghe có tân Thủ Tướng và chính phủ mới. Nếu tôi lên làm Thủ Tướng, Nội Các của tôi cũng sẽ đ̣i bắt ông và tôi phải làm theo”. Trần Văn Đôn: Sách đă dẫn, trang 467-468.

 

Frank Snepp nói thêm trong phần phụ chú rằng ông Đôn là người đóng vai tṛ quyết định trong việc ông Thiệu sớm ra đi khi ông Đôn nói thêm với ông Thiệu rằng “Tướng Nguyễn Cao Kỳ và Không Quân muốn ông Thiệu ở lại để họ có thể giết ông”. Frank Snepp: Sách đă dẫn, trang 434.

 

Như vậy th́ việc cựu Tổng Thống Thiệu ra đi là do ư của Tân Tổng Thống Trần Văn Hương và Tướng Dương Văn Minh, ông Trần Văn Đôn hù dọa thêm và Đại Sứ Martin sắp xếp để ông Thiệu ra đi càng sớm càng tốt.

 

Trong cuốn Decent Interval, Frank Snepp kể lại rằng vào hồi 5 giờ 30 chiều ngày 25 tháng 4 năm 75, trùm CIA Thomas Polgar gọi Tướng Charles Timmes và Frank Snepp vào văn pḥng của ông ta và ra lệnh cho họphải giúp cho ông ta đưa ông Thiệu và ông Khiêm đi Đài Loan vào tối hôm đó.

 

Khoảng 8 giờ rưỡi tối, Tướng Timmes, Frank Snepp cùng 2 nhân viên CIA khác lái ba chiếc xe đến tư gia của Đại Tướng Trần Thiện Khiêm trong Bộ Tổng Tham Mưu và khoảng 9 giờ tối th́ trùm Polgar cũng đến nơi. Ít lâu sau th́ một chiếc xe Mercedes chạy đến đậu ngay trước nhà ông Khiêm và ông Thiệu vội vă bước vào nhà. Frank Snepp nói rằng ông Thiệu có mái tóc bạc chải bóng loáng, quần áo ủi thẳng nếp và trong lúc trời c̣n tranh tối tranh sáng, ông ta có vẻ giống như là “một người mẫu trong tạp chí Gentleman’s Quartery” hơn là một vị cựu Tổng Thống”. Đoàn tùy tùng của ông Thiệu người nào người nấy đều to con vạm vỡ tay xách những chiếc va-li quá khổ đến những chiếc xe của Ṭa Đại Sứ Mỹ và họ đ̣i phải để cho họ đích thân đặt những chiếc va li đó vào thùng sau xe. Frank Snepp nói ông ta không biết trong những va-li đó đựng ǵ, tuy nhiên có vẻ rất nặng v́ khi những hành lư đó được đặt xuống xe th́ nghe như có tiếng kim loại chạm vào kim loại.

 

Trong một bài nhan đề Từ Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà Đến Dinh Độc Lập, Những Ngày Cuối, một cựu Thiếu Úy Công Binh đă từng chỉ huy Đại Đội 541 Công Binh Kiến Tạo vào sửa chữa Dinh Độc Lập sau ngày bị Nguyễn Thành Trung dội bom vào tháng 4 năm 1975 có cho biết rằng: “Ngày 25 tháng 4 năm 1975, vị Trung Úy trong Dinh đến bắt tay thăm hỏi. Ánh mắt có vẻ không vui. Ngỏ ư mượn 6 anh em binh sĩ. Khoảng 25 phút, anh Công Binh trong toán trở lại đưa cho tôi 10.000 đồng và nói ông Trung Úy nhắn là đưa cho tôi 4.000 c̣n mỗi anh em binh sĩ 1.000 đồng. Nghe xong tôi đưa hết cho anh em binh sĩ để họ chia nhau. Tôi thắc mắc hỏi xem họ đă làm công việc ǵ th́ họ trả lời: Lên trên lầu vào pḥng khiêng một cái tủ sắt nhỏ xuống dưới thềm Dinh th́ thấy có xe hiệu Scout, loại Cảnh Sát dă Chiến sử dụng, che bạt kín bịt bùng đậu sẵn. Đẩy tủ sắt vào sàn xe bên trong có 4 người mặc thường phục áp tải đi với viên Trung Úy. Theo tôi suy nghĩ, đây là tài sản riêng của Tổng Thống Thiệu mang đi vào phút cuối. Tôi không biết trong tủ sắt nhỏ đó có những ǵ”. Nhật báo Người Việt ngày Chủ nhật 20 tháng 4 năm 2003.

 

Như vậy, ông cựu Thiếu Úy Công Binh này cho biết là lính của ông đă di chuyển tủ sắt nhỏ vào ngày 25.4 tức là ngày ông Thiệu ra đi th́ việc này cũng có thể bổ túc cho nhận xét của Frank Snepp nói rằng “hành lư rất nặng”. 

 

Trong một cuộc phỏng vấn dành cho ông Nguyễn Tiến Hưng ngày 6 tháng 3 năm 1986, ông Thomas Polgar, cựu Giám Đốc CIA tại Sài G̣n đă phủ nhận điều này. Ông ta nói rằng ông Thiệu ra đi không có mang theo nhiều hành lư v́ ông Polgar muốn rằng việc ra đi này phải thật lẹ làng và êm thấm chừng nào tốt chừng đó. Frank Snepp cũng cho biết thêm rằng ông Thiệu đă cho gởi đi nhiều thùng tài sản, đồ đạc sang Đài Loan và Canada từ ngày 2 và 3 tháng 4, tức là mấy tuần lễ trước khi ông từ chức.

 

Theo Frank Snepp th́ sau khi đưa hành lư vào thùng xe, Polgar, Tướng Timmes cùng nhiều nhân viên người Việt ra khỏi nhà và bước lên xe. Ông Thiệu lên ngồi đằng sau xe của Frank Snepp, ông ta ngồi giữa Tướng Timmes và một nhân viên người Việt, (có lẽ là Đại Tá Vơ Văn Cầm, Chánh Văn Pḥng của ông Thiệu). Tướng Timmes đă từng quen biết với ông Thiệu khi ông ta làm Tư Lệnh Sư Đoàn I tại Vùng I hồi năm 1961 và khi ông Thiệu làm Tổng Thống, Tướng Timmes vẫn thường thuyết tŕnh cho ông Thiệu về các tiến bộ trong lănh vực b́nh định. Trên xe, Tướng Timmes nói với ông Thiệu: “Xin Tổng Thống cúi đầu xuống” và khi xe đi vào cổng Phi Trường Tân Sơn Nhất, ông ta lại vội vă nhắc ông Thiệu cúi đầu xuống v́ lính gác có thể nh́n mặt người trong xe, nhất là lúc Đó đă sau giờ giới nghiêm. May thay, khi thấy xe mang bảng số ngoại giao đoàn, lính gác vẫy tay cho đoàn xe chạy thẳng.

 

Khi đoàn xe chạy qua khỏi văn pḥng của hăng hàng không Air America, người lái xe trước tắt đèn và Frank Snepp chở ông Thiệu trên xe sau cũng phải vội vă tắt đèn theo. Bên ngoài trời quá tối, bỗng Frank Snepp chợt nh́n thấy trùm Polgar chạy ra cách xe chỉ chừng mấy thước, anh ta đạp thắng thật gấp và những người ngồi băng sau kể cả ông Thiệu đều bị dội vào băng ghế trước, tuy nhiên chẳng có ai bị thương tích ǵ. Polgar mở cửa xe và dẫn ông Thiệu đến phi cơ đậu cách đấy không xa. Ông Thiệu quay lại vỗ vai và cám ơn Frank Snepp, mắt ông ta long lanh và nắm tay người tài xế Mỹ khá lâu, nói mấy lời cám ơn rồi bước vội đến phi cơ. Đại Tướng Trần Thiện Khiêm và đoàn tùy tùng cũng theo chân ông Thiệu. Đại Sứ Graham Martin và đoàn vệ sĩ của ông đang đứng dưới một chiếc phi cơ vận tải C-118 bốn động cơ của Không Lực Hoa Kỳ, ông ta cùng Polgar tiễn đưa ông Thiệu và phái đoàn lên phi cơ rồi sau đó cất cánh rời Phi Trường Tân Sơn Nhất bay đi Đài Bắc. Frank Snepp nói rằng v́ có sự sơ sót của Văn Pḥng CIA Sài G̣n, Polgar quên không mang theo hồ sơ tạm dung (parole documents) lên Phi Trường cho nên cựu Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa Nguyễn Văn Thiệu rời khỏi Việt Nam mà không có giấy tờ ǵ cho phép ông được nhập cảnh vào Hoa Kỳ và cũng không hề có chiếu khán xuất cảnh của chính phủ Việt Nam. Frank Snepp: Sách đă dẫn, trang 434-436.

 

Việc cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu rời Việt Nam vào năm 1975 đến hơn 30 năm sau th́ lại được một nguồn tin xuất phát từ London nói rằng ông Thiệu đă được người Mỹ đưa bằng phi cơ ra Đệ Thất Hạm Đội ngoài khơi hải phận Việt Nam rồi từ đó ông được đưa sang tỵ nạn tại nước Anh. Nguồn tin này hoàn toàn không đúng sự thật v́ khi ông Thiệu rời khỏi Việt Nam vào ngày 25 tháng 4 th́ các tàu chiến của Hoa Kỳ chưa nhận được lệnh cho phép đón tiếp người tỵ nạn Việt Nam và hơn nữa, ông Thiệu được di tản bằng phi cơ C-118 tức là một loại phi cơ vận tải 4 động cơ, loại phi cơ này không thể nào đáp xuống Hàng Không Mẫu Hạm được. Ông Thiệu được đưa sang Đài Loan rồi sau đó ông và gia đ́nh được sang tỵ nạn tại Anh Quốc, măi cho đến thập niên 1980 mới di chuyển sang Hoa Kỳ.

 

Cũng trong ngày 25 tháng 4 khi cựu Tổng Thống Thiệu ra đi, theo Pierre Darcourt th́ Tổng Thống Trần Văn Hương đă tiếp kiến Đại Sứ Pháp Mérillon trong 80 phút và sau khi ông Mérillon ra về th́ lại đến lượt Đại Sứ Hoa Kỳ Graham Martinvào Dinh Độc Lập gặp Tổng Thống Trần Văn Hương. Darcourt nói rằng cả hai ông Đại Sứ đều cố thuyết phục Tổng Thống Trần Văn Hương nên t́m ngay một công thức để thương thuyết với phe cộng sản. Tuy nhiên Cụ Trần Văn Hương vẫn giữ vững lập trường của ông, đó là ông không thể giao quyền cho ai ngoài khuôn khổ Hiến Pháp.

 

Trong khi đó, cũng trong ngày 25 tháng 4, Thường Vụ Trung Ương Cục đă gửi bức điện văn số 481/TV cho “Anh Sáu Dân” (Vơ văn Kiệt) anh Năm Xuân? Và P.10 tức là Đảng Ủy Sài G̣n-Gia Định nói rằng “Theo đài BBC th́ Hương đă gặp Minh nhường quyền Tổng Thống cho Minh. Trước đây ta dự kiến Thiệu đổ th́ phải làm gái. Nay Thiệu đổ trong một t́nh h́nh ta đang thắng lớn, địch đang thất bại và bối rối, nhưng lại đưa con bài mới này ra và sẽ đặt vần đề thương lượng để hạn chế thắng lôi của ta và làm lạc hướng đấu tranh của quần chúng. Cần lănh đạo tư tưởng cho ṇng cốt ta tuyên truyền trong những người tích cực ở lực lượng thứ ba đừng mắc mưu bọn đế quốc và phản động đang có âm mưu dùng con bài mới để ngăn ta giành thắng lợi hoàn toàn. Ta vẫn khẳng định phải giành thắng lợi hoàn toàn và triệt để”. Văn Kiện Đảng: Trang 307-308.

 

Như vậy th́ theo tinh thần điện văn này, dù Cụ Trần Văn Hương có trao quyền cho “con bài mới” là Dương Văn Minh đi nữa th́ cộng sản vẫn quyết tâm không thương lượng và “khẳng định phải dành thắng lợi hoàn ṭan và triệt để” tức là đi đến chiến thắng toàn diện, đó là chiếm Sài G̣n.

 

 

NGÀY THỨ BẢY 26 THÁNG 4/1975

Soạn Thảo Kê Hoạch Chiếm Sài G̣n Khởi Sự Tấn Công vào Ngày 27.4

 

Về phía cộng sản, trong cuốn Đại Thắng Mùa Xuân, Tướng Văn tiến Dũng đă nói đến những vận động chính trị đang diễn ra tại Sài G̣n nhắm vào việc thương thuyết với cộng sản là “những tṛ ngoại giao quỷ quyệt của những người chỉ muốn t́m cách ngăn cản bước tiến của quân đội (cộng sản) và để cứu lấy thân họ th́ chỉ là những việc vô nghĩa”.

 

Sự thật th́ từ ngày 22 tháng 4 năm 1975, Bộ Chính Trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam đă quyết định chấp thuận kế hoạch cuối cùng của cuộc tổng tấn công, và ngày 14 tháng 4 năm 1975, Chiến Dịch 275 được chính thức cải danh là Chiến Dịch Hồ Chí Minh, tức là chiến dịch chiếm Thủ Đô Sài G̣n.

 

Ngày 26 tháng 4 năm 1975, Lê Duẫn đă gửi điện văn số 113 cho “Anh Sáu” Lê đức Thọ, “anh Bảy” Phạm Hùng và “anh Tuấn” Văn tiến Dũng nguyên văn như sau:

“Hôm nay 26-4, Bộ Chính Trị đă họp để nhận định t́nh b́nh quân sự và chính trị ở Sài G̣n đă nghe điện báo cáo số 46/TK của anh Sáu.

Bộ Chính Trị nhận thấy chúng ta cần hành động hết sức mạnh bạo, hết sức khẩn tương và kịp thời, nhất là trong t́nh h́nh hiện nay.

 

BA. Văn Kiện Đảng: Trang 309.

 

Văn tiến Dũng và Bộ Tham Mưu sau đó đă soạn thảo xong kế hoạch hành quân chớp nhoáng sử dụng các đơn vị chiến xa và cơ giới tiến chiếm 5 mục tiêu trong Thành Phố Sài G̣n: Dinh Độc Lập, Bộ Tổng Tham Mưu, Bộ Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô, Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia và Phi Trường Tân Sơn Nhứt. Tướng Văn tiến Dũng tŕnh kế hoạch hành quân này cho 2 Ủy Viên Bộ Chính Trị là Lê đức Thọ và Phạm Hùng, nhân vật số hai và số 4 trong Bộ Chính Trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Cả hai nhân vật này chấp thuận kế hoạch và ra lệnh các cuộc tấn công vào vùng ven biển sẽ khởi sự vào ngày 27 tháng 4 và giai đoạn cuối cùng tức là tấn công vào Sài G̣n sẽ khởi sự vào ngày 29 tháng 4 năm 1975. Trong các kế hoạch của cộng sản Bắc Việt cũng như chỉ thị của Bộ Chính Trị, không hề có một điều nào, một câu nào nói đến việc “có thể thương thuyết với chính quyền mới của Dương Văn Minh”.

 

Cựu Đại Tướng Cao Văn Viên sau này cho biết: “Tổng Thống Dương Văn Minh thú nhận ông bị cộng sản lừa. Ông khuyên những Cố Vấn thân cận và con rể là Đại Tá Nguyễn Hồng Đài nên rời Việt Nam. Tướng Minh không phải là người duy nhất bị cộng sản lừa: Nhiều người dễ tin khác khi nh ận ra sự lừa gạt của cộng sản và muốn ra đi nhưng đă quá trễ”. Cao Văn Viên: Sách đă dẫn, trang 225.

 

Sáng ngày 26 tháng 4, Văn tiến Dũng cùng đoàn tùy tùng của ông rời Lộc Ninh di chuyển bằng quân xa về Bến Cát khoảng gần 50 cây số ở phía Tây-Bắc Sài G̣n, tại đó ông ta thảo luận với phụ tá của là Tướng việt cộng Trần văn Trà về những chu ẩn bị cuối cùng cho chiến dịch Hồ Chí Minh. Cấp chỉ huy trực tiếp của Văn tiến Dũng, Lê đức Thọ và Phạm Hùng, hai Ủy Viên Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam, không đi theo Bộ Tư Lệnh Tiền Phương của Văn tiến Dũng mà vẫn đóng tại Lộc Ninh để phối hợp mọi hoạt động cả chính trị lẫn quân sự trong giai đo ạn cuối của chiến dịch. Tại Trại Davis trong Phi Trường Tân Sơn Nhất, tối 25 tháng 4, phái đoàn việt cộng trong Ủy Ban Liên Hợp Bốn Bên đă nhận được mật điện của Văn tiến Dũng cho biết quân đội cộng sản sẽ khởi sự tấn công Sài G̣n, do đó Đại Tá việt cộng Vơ đông Giang đă ra lệnh cho tất cả các nhân viên trong phái đoàn việt cộng phải đào hầm để tránh pháo kích. Bức mật điện của Văn tiến Dũng kết thúc bằng câu “chúc các đồng chí may mắn. Hẹn gặp các đồng chí tại Sài G̣n”.

 

Đúng 5 giờ chiều ngày 26 tháng 4, được lệnh của Lê đức Thọ qua Văn tiến Dũng, Tướng cộng sản Bắc Việt Lê trọng Tấn ra lệnh cho hiệu thính viên truyền lệnh cho các cấp chỉ huy thuộc 6 sư đoàn dưới quyền chỉ huy của ông ta tấn công vào Quận Nhơn Trạch thuộc Tỉnh Biên Ḥa cùng các vùng nằm về phía Đông Sài G̣n.

 

Chiến Dịch Hồ Chí Minh chính thức khai diễn, như vậy th́ kể từ ngày 26 tháng 4, cộng sản Bắc Việt không hề có ư định thương thuyết với bất cứ ai nắm quyền ở Sài G̣n, kể cả Dương Văn Minh.

 

Quốc Hội Không Đồng Ư Trao Quyền

 

Trong khi đó th́ tại Paris, Nguyễn thị B́nh bắn tin cho các thân hữu người Pháp của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam rằng việt cộng quả thật muốn thương thuyết với Dương Văn Minh với điều kiện là chính phủ mới không có nhân vật nào thuộc phe ông Thiệu. Cùng ngày, chính phủ Pháp gởi một điện văn cho Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cho biết rằng Phạm văn Ba, Trưởng Phái Đoàn của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tại Paris vừa thông báo với chính phủ Pháp rằng Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam có thể sẽ chấp nhận một “công thức chính trị” nếu Dương Văn Minh đứng ra cầm đầu một chế độ được thiết lập “trên tinh thần ḥa giải hoa hợp quốc gia”. Tại Sài G̣n, Trần Văn Đôn cũng nhận được tin qua các “trung gian” thân việt cộng nói rằng họ có thể sẽ ngưng bắn nếu Dương Văn Minh lên nắm quyền và người Mỹ phải ngưng di tản người Việt cũng như các chiến cụ ra khỏi Việt Nam.

 

Trước những tin tức dồn dập về “giải pháp Dương Văn Minh” như vậy, tại Sài G̣n, các phe nhóm như nhóm ủng hộ Dương Văn Minh, nhóm Ḥa Giải Ḥa Hợp chịu ảnh hưởng của khối Phật Giáo Ấn Quang, nhóm CIA của Thomas Polgar và nhất là Ṭa Đại Sứ Pháp, tất cả đều dồn mọi nỗ lực nhằm áp lực Tổng Thống Trần Văn Hương phải từ chức càng sớm càng tốt để trao quyền Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa lại cho Dương Văn Minh.

 

Sáng ngày hôm ấy, Tổng Thống Pháp Giscard d'Estaingn đă trực tiếp gọi điện thoại nói chuyện với Đại Sứ Pháp Mérillon. Khi Tổng Đài điện thoại của Bưu Đi ện Sài G̣n gọi cho Ṭa Đại Sứ Pháp để báo rằng “có điện thoại của Tổng Thống”, người Pháp tưởng rằng đó là điện thoại của Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa và nhân viên Bưu Điện đă phải nói rơ và nhắc lại nhiều lần với Ṭa Đại Sứ rằng không phải là Tổng Thống của chúng tôi, đây là điện thoại của Tổng Thống của các ông.

 

Trong ngày hôm đó, Đại Sứ Mérillon đă gặp Tổng Thống Trần Văn Hương đến 3 lần để thuyết phục Cụ trao quyền lại cho Dương Văn Minh. Tuy nhiên, Cụ Trần Văn Hương là con người nguyên tắc và trọng pháp (legalist), cái ǵ cũng phải theo đúng tinh thần của Hiến Pháp và Luật Pháp, cho nên không ai ngạc nhiên khi Cụ nhất định từ chối việc trao quyền Tổng Thống v́ cái đó không hề có trong Hiến Pháp.

 

Theo Hiến Pháp 1967 của Việt Nam Cộng Ḥa th́ khi Tổng Thống từ chức, Phó Tổng Thống sẽ lên thay và nếu vị Phó Tổng Thống cũng từ chức th́ nhân vật thứ ba trong việc kế nhiệm là vị Chủ Tịch Lưỡng Viện Quốc Hội, lúc bấy giờ là Nghị Sĩ Trần Văn Lắm, Chủ Tịch Thượng Nghị Viện Việt Nam Cộng Ḥa. Hiến Pháp Việt Nam Cộng Ḥa năm 1967 cũng nói rơ là sau khi nhận chức Tổng Thống, vị Phó Tổng Thống phải tổ chức một cuộc bầu cử trong ṿng 6 tháng để nhân dân chọn một vị Tổng Thống mới chứ vị Phó Tổng Thống mới lên thay thế không được tiếp tục phục vụ cho hết nhiệm kỳ pháp định.

 

Sáng ngày 26 tháng 4, Tổng Thống Trần Văn Hương đă yêu cầu Nghị Sĩ Trần Văn Lắm, Chủ Tịch Thượng Viện, triệu tập một phiên họp đặc biệt của Lưỡng Viện Quốc Hội vào lúc 10 giờ sáng để thảo luận về vấn đề trao quyền Tổng Thống.

 

Tại Quốc Hội, Tổng Thống Trần Văn Hương nói rằng “Nếu không khéo dàn xếp thế nào th́ e rồi đây Sài G̣n sẽ thành một núi xương sông máu, điều mà những người có ḷng yêu nước không thể nghĩ đến được, không thể chấp nhận được. Với sự chấp nhận của Quốc Hội, chính phủ của tôi sẽ đi t́m sự thương thuyết, nhưng thương thuyết không có nghĩa là đầu hàng v́ nếu thương thuyết để đầu hàng th́ thương thuyết ǵ nữa? Thà là chết cho đến cùng chờ sao lại thương thuyết như vậy được”.

 

Tổng Thống Trần Văn Hương tŕnh bày rằng Cụ đă nghe một số người nói rằng cựu Đại Tướng Dương Văn Minh có đủ điều kiện để đứng ra thương thuyết và Cụ đă mời ông Minh làm Thủ Tướng toàn quyền nhưng ông Minh không nhận mà ngược lại ông ta lại đ̣i Cụ phải từ chức, phải giao quyền Tổng Thống lại cho ông Minh để ông ta có toàn quyền thương thuyết với cộng sản. Tổng Thống Trần Văn Hương nói với Quốc Hội nguyên văn lời ông Dương Văn Minh nói với Cụ như sau: “Thầy đă hy sinh đến mức này, tôi xin Thầy ráng hy sinh một bước nữa mà Thầy trao trọn quyền cho tôi.”

 

Tổng Thống Hương nói rằng ông không có thể làm như vậy được v́ làm như vậy là vi hiến, chỉ có Quốc Hội mới có quyền làm được việc đó v́ chỉ có Quốc Hội mới có quyền tu chính, sửa đổi Hiến Pháp mà thôi.

 

Tổng Thống Trần Văn Hương nói với Quốc Hội rằng ông chỉ có quyền chỉ định một vị Thủ Tướng, c̣n trao quyền Tổng Thống cho một nhân vật không có được chỉ định trong Hiến Pháp th́: “Hiến Pháp vẫn c̣n đây, Quốc Hội vẫn c̣n đây, tôi không thể làm một chuyện qua mặt được Quốc Hội, qua mặt được Hiến Pháp. Đây không phải là cái khăn mu-soa, một tờ giấy bạc trong tay tôi móc ra đưa cho Đại Tướng Dương Văn Minh”.

 

Tổng Thống Trần Văn Hương nói với Quốc Hội rằng: “nếu Quốc Hội nghĩ  rằng tôi phải giao quyền lại cho Đại Tướng Dương Văn Minh, tôi xin phép vâng lời Quốc Hội tôi sẽ trao quyền lại cho Đại Tướng Dương Văn Minh... C̣n như quư vị nghĩ rằng không chấp nhận đề nghị đó bởi v́ đây là một điều kiện khắt khe, một điều kiện của người thắng trận viết cho người bại trận, th́ chúng ta không c̣n nước ǵ khác hơn là lúc đó chúng ta cứ việc chết tới cùng, không c̣n biết làm sao hơn được, th́ chừng đó dầu cái Thành Sài G̣n này có biến thành một biển máu, tôi nghĩ  rằng người Việt Nam v́ thể diện của ḿnh, không thể nào từ chối được, trừ một số người không đáng ǵ nói là không thể nào chấp nhận được chuyện đó. Nếu Thựơng Đế không muốn cho nước Việt Nam Cộng Ḥa tồn tại nữa th́ chúng ta hăy cùng chết với xứ sở, nhưng chúng ta không thể đầu hàng”.

 

Tóm lại, Tổng Thống Trần Văn Hương đề nghị với Lưỡng Viện Quốc Hội hai giải pháp để chọn lựa: Đồng ư cho Tổng Thống được chỉ định một vị Thủ Tướng với toàn quyền hành động hay là chấp thuận cho Cụ giao quyền lại cho Dương Văn Minh để thay thế ông trong chức vụ Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa ngơ hầu có thể t́m được một đường lối hay biện pháp nào đó để văn hồi ḥa b́nh cho Việt Nam dù rằng đây là một giải pháp không có ghi trong Hiến Pháp.

 

Sau khi Tổng Thống Trần Văn Hương ra về, Quốc Hội bắt đầu thảo luận về hai đề nghị của Tổng Thống. Dư luận cạnh các giới Quốc Hội cho rằng ngoại trừ một số rất nhỏ Nghị Sĩ và Dân Biểu trong “khối thứ ba” ủng hộ ông, cựu Đại Tướng Dương Văn Minh không được cảm t́nh của phần lớn Dân Biểu và Nghị Sĩ v́ họ cho rằng ông Minh thường tỏ ra xem thường Quốc Hội, ông Minh coi thường Hiến Pháp, do đó giải pháp bầu cho ông Minh lên thay Cụ Hương khó mà được Quốc Hội thông qua dù rằng nhiều thế lực đang ráo riết vận động cho giải pháp này. Ngoài ra trong Quốc Hội vẫn c̣n có một số người ủng hộ ông Thiệu, họ không bầu cho ông Minh và một số nhỏ khác thuộc khuynh hướng phe hữu, đa số là người Bắc di cư và tín đồ Thiên Chúa Giáo lại muốn ủng hộ cựu Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ, do đó mà cho đến chiều th́ Quốc Hội vẫn c̣n trong ṿng bế tắc, chưa dứt khoát chọn được một giải pháp nào.

 

Đến tối hôm đó, sau hơn 10 tiếng đồng hồ thảo luận, cuối cùng th́ Quốc Hội cũng đồng ư thông qua một quyết nghị “tín nhiệm Tổng Thống Trần Văn Hương và trao cho Tổng Thống Trần Văn Hương được trọn quyền làm bất cứ điều ǵ mà ông cảm thấy rằng cần thiết để đối phó với cuộc khủng hoảng này”. Như vậy th́ Quốc Hội lại giao quả banh trở lại cho vị Tân Tổng Thống 73 tuổi với một quyết nghị có nội dung rất mơ hồ, không nói rơ nên giao quyền ǵ và giao quyền cho ai và đó cũng không phải là điều mà Cụ mong muốn v́ quyết nghị này vẫn chưa có đủ tính cách pháp lư để Cụ giao quyền lại cho ông Dương Văn Minh như đề nghị của Pháp và Mỹ.

 

Theo ông Trần Văn Đôn th́ chiều hôm đó, trước khi có sự biểu quyết của Quốc Hội, Tổng Thống Trần Văn Hương gọi điện thoại cho ông ta và nói với ông rằng “Anh Đôn, tôi sẽ chỉ định anh làm Thủ Tướng toàn quyền khi Quốc Hội biểu quyết cho tôi chỉ định Thủ Tướng”. Ông Đ ôn cám ơn Cụ Hương rồi mời nhóm anh em của ông trong Phong Trào Dân Tộc Tự Tồn hội họp để chuẩn bị thành lập chính phủ. Ông Đôn gọi điện thoại cho cựu Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ và ông Kỳ đề nghị mời Trung Tướng Nguyễn Đức Thắng làm Tổng Trưởng Quốc Pḥng. Ông Đôn cũng nói với ông Kỳ rằng “Các anh em Tổng Tham Mưu về Miền Tây để tiếp tục tổ chức pḥng thủ và kháng cư. Tôi ở lại cố gắng t́m giải pháp thương thuyết đ́nh chiến, nếu không được tôi sẽ bay về Miền Tây lo việc pḥng thủ với các anh em”. Ông Đôn nói rằng ông Kỳ đồng ư với ông. Sau đó, ông ta gọi điện thoại cho ông Dương Văn Minh và cho ông Minh biết rằng ông ta có thể được Tổng Thống Trần Văn Hương chỉ định chức vụ Thủ Tướng toàn quyền th́ ông Minh “cười khinh”. Trần Văn Đôn: Sách đă dẫn, trang 469.

 

Thực ra th́ không có một “anh em Tổng Tham Mưu” nào về Miền Tây để tổ chức pḥng thủ như lời của ông Đôn. Vào hai ngày 27 và 28 tháng 4 năm 1975, chỉ có hai Tướng Nguyễn Khoa Nam và Lê Văn Hưng ở Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 4 và cả hai vị Tướng này đă tử tiết vào ngày 30 tháng 4. Trước đó một ngày, ngày 29 tháng 4, cả hai ông Kỳ và Đôn đều đă có mặt trên tàu của Đệ Thất Hạm Đội. Theo Oliver Todd th́ máy bay của Tướng Nguyễn Cao Kỳ có chở theo Trung Tướng Ngô Quang Trưởng là chiếc trực thăng tị nạn đầu tiên đáp xuống Hàng Không Mẫu Hạm Midway vào lúc 1 giờ 12 chiều 29 tháng 4 năm 1975.

 

Ông Trần Văn Đôn cho biết rằng chiều hôm đó, trong khi nhóm anh em của ông đang “bàn thảo về lời tuyên bố với quốc dân đồng bào”, ông ta đă gọi điện thoại báo tin cho Đại Sứ Pháp Mérillon biết rằng Tổng Thống Trần Văn Hương có thể sẽ chỉ định ông ta làm Thủ Tướng toàn quyền th́ Đại Sứ Mérillon tỏ ra rất thất vọng.

 

Đại Sứ Mérillon nói với ông Đôn rằng “không thể được. Hà Nội chỉ muốn nói chuyện với ông Dương Văn Minh. Nếu người thương thuyết không phải là ông Minh th́ họ sẽ pháo kích tối nay”. Ông Mérillon nói thêm rằng sở dĩ mà ông biết được như vậy là v́ ông ta có liên lạc với Hà Nội và họ đă hạn định thời gian là tối 26 tháng 4. Ông Đôn nghe như vậy bèn yêu cầu Đại Sứ Pháp tŕnh bày việc này với Tổng Thống Trần Văn Hương. Sau đó, ông Đôn gọi điện thoại cho Đại Sứ Mỹ và ông cũng yêu cầu Đại Sứ Martin nói chuyện với Tổng Thống Trần Văn Hương.

 

Tối hôm đó, ông Đôn đến thăm Tổng Thống Trần Văn Hương để tŕnh bày với Cụ Hương về Cuộc tiếp xúc với hai vị Đại Sứ Pháp và Hoa Kỳ th́ được Cụ Hương cho biết là cả hai ông đó cũng vừa nói chuyện với Cụ qua điện thoại. Ông Đôn kể lại rằng Tổng Thống Trần Văn Hương đă nói với ông nguyên văn như thế này: “Qua hiểu rồi! Họ muốn ông Minh, qua sẽ từ chức”.

 

Tiến Sĩ Henry Kissinger sau này cho biết việc người ta đồn đại rằng cộng sản Bắc Việt chỉ muốn nói chuyện với Dương Văn Minh là điều không đúng: “Vào ngày 24 tháng 4, người kế vị ông Nguyên Văn Thiệu là Tổng Thống Trần Văn Hương đă chủ trương “mở rộng” bằng cách mời Tướng Dương Văn Minh gi ữ chức vụ Thủ Tướng. “Big Minh”, biệt danh của ông ta, là nguồn hy vọng lớn lao của phong trào “phản đối chiến tranh Việt Nam” từ năm 1967 khi mà ông ta đă thua ông Nguyễn Văn Thiệu trong cuộc chạy đua tranh dành quyền lực tại Việt Nam. Ông ta được mọi người xem như là một người “trung lập” và mọi người hy vọng rằng với lập trường đó th́ ông ta sẽ có thể được phe cộng sản chấp nhận, tuy nhiên ông Lê đức Thọ đă có những thái độ gây cho tôi có cảm tưởng ngược lại (Le Duc Tho had given me the opposite impression.) Henry Kissinger: Ending the Vietnam War, trang 548.

 

Như vậy, theo lời cựu Trung Tướng Trần Văn Đôn kể lại trong Việt Nam Nhân Chứng th́ ngày 26 tháng 4, Tổng Thống Trần Văn Hương đă mời ông làm Thủ Tướng. Người viết có hỏi ông Trần Văn Đính, thứ nam của Cố Tổng Thống Trần Văn Hương, th́ ông Đính khẳng định rằng không hề có chuyện đó. Theo ông Đính th́ Cụ Trần Văn Hương không ưa những người vốn là dân Tây, mà thân phụcủa ông Đôn, Bác Sĩ Trần Văn Đôn là dân Tây, người con, André Trần Văn Đôn, không những là dân Tây mà lại c̣n sinh Trưởng tại Thành Phố Bordeaux ở Pháp, Cụ Trần Văn Hương cũng không ưa những người đă đi lính cho người Pháp trước năm 1945 như ông Đôn và ông Dương Văn Minh. Phỏng vấn ông Trần Văn Đính, Huntington Beach, California 2002.

 

Trong cuốn Việt Nam Nhân Chứng, ông Đôn cũng có kể lại rằng tối 22 tháng 4, ông đến gặp Dương Văn Minh th́ được ông Minh cho biết là ông Minh chưa tiếp xúc với Tân Tổng Thống Trần Văn Hương v́ “ông Hương chậm chạp, lại không thích ông Minh cho lắm nên kéo dài thời gian”.

 

C̣n việc Cụ Hương muốn mời Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy làm Thủ Tướng th́ khi Giáo Sư Huy c̣n sinh tiền, người viết có lần hỏi Giáo Sư về chuyện này và đă được Giáo Sư xác nhận rằng Tổng Thống Trần Văn Hương có mời ông thành lập chính phủ vào ngày 24 tháng 4 năm 1975. Giáo Sư Huy nói rằng chiều hôm đó ông có vào Dinh Độc Lập gặp Cụ Hương. Tuy nhiên t́nh h́nh biến chuyển quá mau lẹ trong những ngày kế tiếp, nhất là áp lực từ phía các cường quốc muốn thương thuyết với cộng sản với lá bài Dương Văn Minh, cho nên ông đă từ chối và ngày 26 tháng 4, Tổng Thống Trần Văn Hương phải ra Quốc Hội để yêu cầu Ngành Lập Pháp t́m một giải pháp cho vấn đề này.

 

 

 

 

(Xin đọc tiếp phần 12)

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính