Thương Người nằm xuống

 

Trà Khan

 

 

Những giọt mồ hôi nhầy nhụa, chảy từ trán xuống, làm cay cả mắt, đắng cả môi, Bộc đưa bàn tay xương xẩu lên vuốt mặt, tiếp theo là tiếng thở dài năo nuột, như để trút hết sự mệt nhọc, của cuối ngày lao động.

 

Bộ áo quần, màu sọc xanh sọc trắng, như trái dưa gang, đă rách nát theo thời gian, để lộ bộ lưng trần, và đầu gối chàng cũng tŕnh diện ra khỏi hai ống quần rách tơi tả, khiến ai nh́n người đàn ông nọ, cũng cảm nhận rằng, đó là người tù, trong muôn một người tù, của chế độ cọng sản, đang cơ hàn thiếu áo đói cơm!

 

Bộc xuất thân, từ một trường thiếu sinh quân, nên chàng là đứa con mồ côi cha lẫn mẹ, đă ba năm qua, chàng vào tù, chỉ c̣n trông cậy duy nhất, vào người vợ thân yêu ! nhưng, càng trông lại, lại càng chẳng thấy, chàng nh́n bạn bè cùng tù, vợ con vào thăm nuôi tới tấp, từ áo quần, túi gạo, nén đường, đến cuộn giấy kiss-me cũng không thiếu, biểu tượng một t́nh thương vô cùng quí giá, của người vợ dành cho chồng, trong lao tù vẫn không phai màu, khi đất nước đổi chủ thay ngôi.

 

Bộc chỉ mong ước sao được gặp mặt vợ một lần, để bớt nhớ vơi mong, chỉ có ngần ấy thôi, song cũng chưa có, th́ làm ǵ có được cục đường với cuộn giấy vệ sinh !

 

Những ngày nghỉ cuối tuần, bạn bè trong trại, ngồi quay quần nhóm năm, nhóm bảy, chén chú chén anh, bên chén cơm thơm  thịt ướp, c̣n đối với Bộc, là thân phận người tù đơn côi, chàng nằm yên nơi pḥng mà suy nghĩ về những năm tháng xa xưa, mong quên đi trong giấc ngủ . 

 

Chàng đang kéo chiếc mền tự tạo, để phủ đôi chân trần, bằng bao bố tời đựng gạo, mà chàng đă xin từ nhà bếp của ban cấp dưỡng. Bỗng có tiếng người trật tự trại bước vào pḥng, gọi Lê văn Bộc có vợ thăm nuôi, nghe gọi tên ḿnh, chàng đứng dậy như một đoàn bẩy, mượn áo quần bạn tù mặc tạm ra gặp vợ.

 

Một người đàn bà tên Thoại Khanh, tay cầm giỏ xách, tay kia đang dắt ba đứa bé, lứa tuổi lên năm, lên bốn và lên ba, đó là vợ con người tù mang tên Bộc, đang đứng đợi nơi pḥng tiếp tân.

 

Vừa gặp nhau chưa tṛn mười phút, Thoại Kkanh nói với chồng “em đi vội quá, c̣n thiếu vài món đồ cho anh, sẵn có chợ gần đây, em chạy ra mua thêm, em sẽ vào liền”.

 

Đă gần hết giờ thăm nuôi, nhưng chẳng thấy vợ trở lại, Bộc đưa tay ḿnh lục vào túi xách vợ để lại, kéo ra một phong thơ và gỡ ra đọc: “Anh Bộc! em đến thăm anh lần nầy, là lần đầu, cũng là lần cuối, em chờ anh quá sức mỏi ṃn, nhưng chẳng thấy anh về! em không thể nuôi con đơn độc! đem gởi ba đứa con lại anh! đừng chờ đợi em nữa! Vĩnh biệt anh! Thoại Khanh!

 

Khi hay tin, vợ giao con cho chồng, cả tù nhân trong trại tù, đều bàng hoàng xúc động, buồn cho bạn, oán cho đời, nhưng anh em trong tù, chưa vội oán trách người đàn bà kia tệ bạc, v́ sao và tại sao, phải hành động nông nổi đến thế !

 

Ông ban trưởng trại tù, không thể một sớm một chiều, cho chàng ra khỏi tù, để về nuôi con dại, “vỏ quít dày có móng tay nhọn”, nếu trại cho chàng về, dù đó tạm gọi là “ḷng nhân”, th́ trường hợp nầy cũng sẽ là trường hợp kế tiếp cho các bà vợ khác. Bộc vẫn tiếp tục “cải tạo” ngày lao động, tối trở về ngủ với con, bằng một nhà riêng đặc biệt trong trại tù.

 

Các con anh tội t́nh ǵ thế? Ngày lại ngày, ra những đám sắn, đám khoai đi mót và xin ăn, mặt mày lem luốt, ḿnh trần rám nắng, không một mảnh áo che thân, ba đứa chỉ bận duy nhất là mỗi một quần đùi, tóc tai rối bù, phủ đến ngang vai, chấm ót cũng chưa ai hớt . Sáng khoai, chiều cơm độn sắn, nhờ các anh em trong tù, tự  nguyện đóng góp, mỗi người lon gạo, của các bà chị thăm nuôi chồng, giúp đỡ Bộc nuôi con, được lúc nào hay lúc đó.

 

Người tù trong trại, khi bắt gặp những đứa con của Bộc, nơi băi lao động xin ăn, thường ngâm “trại lại” những câu thơ.

 

“Thoại Khanh Châu Tuấn em ơi!

Đi đâu bỏ lại con tôi trong tù”

 

Đó không mục đích trêu cợt hay mỉa mai, nhưng, đó là tiếng than trầm thống, biểu tỏ ḷng xót thương “ngậm đắng nuốt cay” vô cùng tận, cho một  người bạn tù! Nếu ai nh́n thấy hoàn cảnh cha con Bộc, cũng phải rưng rưng nước mắt.

 

Đêm đêm, Bộc ngủ với con, chàng vẫn thấy h́nh ảnh vợ ḿnh chập chờn trước mặt, cuốn phim dĩ văng, đang quây thật chậm hiện ra trước mắt chàng, kể từ năm 20 tuổi, Bộc giă từ áo thư sinh, bước vào đời lính chấp nhận hiểm nguy, chàng gặp TK, người yêu của lính kể từ đó. Nàng nói “anh là lính, em yêu anh, em chấp nhận cuộc sống buồn, và đau thương có thể xảy ra, trong Chinh Phụ Ngâm cũng có nói “chinh phu tử sĩ mấy người”. Song em nguyện cầu, anh được măi măi bên em, cho đến bạc màu mái tóc”!

 

Sau bảy năm có dư mấy tháng, Bộc trả hết “món nợ trần ai”, dắt con ra khỏi cổng tù, chàng t́m về nhà người bà con sống nhờ, và nghe nói “kể từ lúc TK lên thăm Bộc đến nay, đă lâu lắm rồi, không thấy TK trở lại đây, chắc có điều ǵ chẳng lành cho nó, bác lo cho nó quá, tuổi già lại hay đau yếu, nên không biết nhờ ai thăm hỏi, trước khi đi, vợ con có gởi lại bác chiếc tủ nhỏ khóa kỹ, con nên cạy mở ra, thử  xem vợ con gởi những ǵ trong đó”.

 

Bàn tay Bộc như thừa như thiếu, khi cạy bật cánh tủ, một phong thư, như nhào lộn rồi rớt trước mặt chàng, Bộc xé thư ra xem,

 

“Anh Bộc! em không thể sống xa anh một ngày, em muốn anh được mau về cùng em nuôi con dại. Có tên cán bộ đến bảo em, muốn chồng về sớm, phải có quí kim, với giá thỏa thuận nhận trước, th́ trong ṿng 3 tháng, chồng bà sẽ ra khỏi tù. V́ quá thương nhớ anh, em quên mất cả đắn đo suy xét, bao nhiêu vàng dành dụm lúc trước, em đă đưa cho hắn để lo cho anh được về nhưng “tiền mất tật vẫn c̣n mang” hắn đă chạy trốn, không t́m ra tăm tích.

 

Anh Bộc! Em không c̣n đủ can đảm sống để nuôi con, chờ anh về! Sau khi đem giao các con cho anh trong tù, em t́m đến cái chết. Chết để tṛn thủy chung với anh, chết để quên đi cuộc sống bất hạnh sau ngày mất nước. Bên kia thế giới nào đó, em sẽ phù hộ cho cha con anh đủ nghị lực để sống!

 

Người vợ đau khổ của anh.

 

Thoại Khanh!

 

Bộc đọc thư xong, chàng không c̣n biết ḿnh là ai nữa, một đắng cay,  trên chót vót của đắng cay! niềm tin yêu và lẽ sống đă hết!

 

Ngày tháng trôi qua, Bộc thăm ḍ tin tức TK, chàng đă t́m ra được nơi an nghỉ của vợ chàng, nhờ dân làng vớt lên chôn, hơn bốn năm qua, trên khoảnh đất hoang, cách cầu sông Đồng Nai hai km thuộc tỉnh  B́nh Dương.

 

Tháng ngày lặng lẽ trôi qua, nhưng, không phải đó là liều thuốc tiên để chàng quên được Thoại Khanh.

 

Quê hương và đất khách, tuy rằng hai phương trời cách biệt, song h́nh bóng người vợ yêu thương, vẫn măi trong tim Bộc. Chàng và ba đứa con, đă đến Mỹ được 15 tháng, theo diện tỵ nạn,

 

V́ vận nước, ra đi là mang theo nỗi buồn rách nát bởi hai chữ tỵ nạn, sức nặng tưởng ngh́n cân, Bộc không vay mượn danh xưng, không múa rối để vàng lộn đỏ,  như kẻ du học, du lịch, hay người làm đi làm kinh tế, kinh bang.

 

Cái ray rứt nhất của Bộc, là Bộc không thể không buồn, khi Bộc nghĩ về quá khứ nơi quê hương Bộc, có những cái Bộc có thể giữ nó lại, nhưng v́ vận nước, đành phải đánh mất nó vĩnh viễn. Bây giờ, Bộc phải ở vào hoàn cảnh gà trống nuôi con.

 

Khi đến Mỹ, viễn tượng đầu tiên, là niềm tin yêu vào lẽ sống, Bộc cảm thấy hy vọng, sẽ trở về cố hương theo đúng nghĩa của nó, có thể một vài năm nữa, hay ngày mai kia không biết chừng, cái viễn tưởng ấy, hầu như càng ngày càng xa thẳm, không c̣n hy vọng một chút nào nữa, bằng khi cha con Bộc mới bỏ nước ra đi.

 

Không thể chối bỏ, và cũng phải cảm nhận rằng, giây phút đầu tiên, Bộc đặt chân trên nước Mỹ, hai thái cực khác biệt nhau, “nước Mỹ nước Việt” hai lối sống cách biệt quá xa. Không khí tự do được hít thở, như một hào quang linh diệu, đă phần nào làm lên cân nặng cáng, đầu óc, tim phổi nhẹ đi phơi phới, về tinh thần lẫn thể xác.

 

Bộc linh cảm rằng, nh́n cách sống người Mỹ, có dấu hiệu biểu lộ nhiều điều tốt đẹp, hơn quê hương của chàng, nói thế không phải là để vạch áo cho người xem lưng, song điều đó là sự thật. Nếp sống văn minh nơi đây, đă đạt được mọi sự tiến bộ, bao giờ cũng gọn gàng tươm tất, mọi thứ đều sạch sẽ, từ những món đồ bán từ siêu thị, bao b́ nhăn hiệu kỹ lưỡng, vệ sinh tuyệt hảo, ngày tháng sử dụng ghi rơ ràng, khi đến trả tiền hay cần một việc ǵ, mọi người đều tự động sắp hàng một, không chen lấn, đó là nếp sống đặc trưng (thù) của người Mỹ, công ăn việc làm, đă đạt đến kỹ thuật tân tiến bậc nhất.

 

Bộc cảm ơn tất cả những ai, đă giúp đỡ cho cha con Bộc, cũng như những ai bất hạnh, có mặt trên đất Mỹ hôm nay, sống yên b́nh trên mọi phương diện, t́m lại cuộc đời, có đủ cơm ngon áo đẹp. Cuộc sống nơi đây, có khác nhiều, với cuộc sống nơi quê mẹ, mà Bộc không c̣n sức chịu đựng, phải bỏ nó ra đi.

 

Người Mỹ chắc hẳn rằng, họ là những người hiểu rơ nỗi thống khổ của  dân tộc Việt Nam hơn bao giờ hết, họ vừa là đồng minh thuở trước, vừa là nhân chứng, từ lúc chiến tranh đến khi chấm dứt chiến cuộc, người Mỹ muốn chia xẻ nỗi thống khổ, trên quê hương điêu tàn đổ nát, khi người Quốc Gia không c̣n đất đứng, họ hành động ra tay cưu mang, nhưng không hẳn rằng, người Mỹ đang xót thương một dân tộc  bất hạnh, một khi họ đă biết đất nước Việt Nam, “chỉ có xơ không có múi”. Nhưng, v́ yêu chuộng công lư, và thường nhắc đến công lư, nên người Mỹ không thể nhắm mắt bịt tai, chỉ thế thôi.

 

Một đất nước nào trên hành tinh nầy, Bộc thiết nghĩ rằng, chưa chắc họ có nhiều thống khổ cho bằng dân tộc Việt Nam, ngh́n năm đô hộ giặc Tàu, trăm năm đô hộ giặc Tây, hai mươi năm Nam Bắc đánh nhau, cho đến hôm nay, vẫn c̣n âm ỉ cháy, nghĩ đến đó, mắt Bộc không khỏi rưng rưng.

 

Khi nghĩ đến dân tộc Do Thái, Bộc càng thêm buồn, khác hẳn khi nghĩ đến dân tộc Chiêm Thành, ḷng Bộc chùng lại, và lại càng buồn hơn.

 

Đặc biệt, bên cạnh nhà thuê của Bộc, người hàng xóm, là người Mỹ gốc Do Thái, họ đến Mỹ không biết bao lâu rồi, song họ nói tiếng Mỹ cũng không giỏi lắm, họ biết Bộc là người Việt Nam tỵ nạn cọng sản, mỗi khi gặp họ, Bộc không thể nói hết nỗi đau về đất nước cho nhau nghe. V́ ngôn ngữ bất đồng, song nh́n vào gương mặt họ, họ không tránh khỏi nỗi buồn, v́ đất nước họ, cũng “cùng chung một tiếng tơ đồng”, như dân tộc Việt Nam của Bộc.

 

Khi đi giao dịch, hoặc t́m đến bưu điện, ngân hàng, đến sở xin việc, hay bị lạc đường, đôi khi Bộc gặp người Mỹ bản xứ, có nhiều giai cấp khác nhau, từ sinh viên, đến ông giám đốc, hoặc người phu lao công, có nhiều điều làm cho Bộc đáng ghi nhớ và khâm phục, mặc dầu vốn liếng tiếng Mỹ của Bộc chỉ bập bẹ, phát âm không đúng, văn phạm dùng sai, nhưng phản ứng người đối diện, đều nồng hậu và ân cần lắng nghe, động lực nầy đă giúp cho Bộc mạnh dạn hơn, không c̣n rụt rè e ngại, khi đứng trước một người bản xứ nói chuyện bằng tiếng Mỹ .

 

Bộc cảm thấy người Mỹ đầy thiện chí, muốn giúp đỡ và khuyến khích “khi biết nói sai, th́ sửa lại, nay một ít mai kia một ít, dần dần sẽ được như ư, c̣n hơn là không bao giờ dám nói, th́ sẽ không bao giờ nói được tiếng Mỹ”. Bộc xin biết ơn họ về lời khuyên đó.

 

Tuy nhiên với ḷng tự trọng, “hăy tự trọng ḿnh, rồi người khác mới trọng”, Bộc cố gắng học thêm tiếng Mỹ, nghĩ rằng “không rèn th́ làm sao thành thợ rèn”.

 

Hoàn cảnh gà trống nuôi con nơi đất khách, một ḿnh vừa chống vừa chèo, các con của bộc, tuổi đời như con chim non đứng trên bờ tổ, cũng cảm thấy nỗi khổ đau của cha ḿnh, và nỗi thương nhớ khi người mẹ không c̣n nữa, các con của chàng cũng cố công học hành, làm thêm giờ để giúp cha thơi thả, dành dụm tiền bạc, gởi về làm bia, đắp mả cho mẹ.

 

Chàng cảm ơn các con, với sự nỗ lực làm việc cần cù vượt bậc đó, trước hết để đền ơn cha, trả hiếu cho mẹ, sau hết, xây dựng lại cuộc sống hướng về tương lai tốt đẹp ở quê người, nhiều hơn khi bỏ nước ra đi.

 

Trên đất khách, Bộc luôn nghĩ về quê hương, và người ở lại, xét thấy trên miền đất mới, chàng có cảm nghĩ như lúc nào cũng bị bao vây bởi giờ giấc, từ cuộc sống vật chất lẫn tinh thần.

 

Hành trang mang theo bên ḿnh, khó quên, bởi lời nói người xưa “nước mất nhà tan” lúc nào cũng thấm đậm trong tâm tư, v́ sao Bộc phải ra đi, t́m đến một đất nước cưu mang, cách xa quê mẹ thăm thẳm ngh́n trùng.

 

Định luật tạo hóa theo chu kỳ xoay vần, Xuân qua Tết đến, cuốn lịch dày cộm, từ từ rơi rụng từng tờ, làm mỏng dần đến c̣n một tờ chót trên bản lịch.

Tuổi đời Bộc cũng cứ thế mà chồng chất lên cao, tóc nơi mái đầu đă đến lúc đổi màu sương muối, vầng da trên khuôn mặt cũng vận hành theo phép tịnh tiến của thời gian, tô điểm vào những nét nhăn nheo gợn sóng, báo trước một tuổi đời, như bóng mặt trời vào buổi hoàng hôn.

 

Chiếc đồng hồ trên tường nhà, thong thả gơ nhẹ một tiếng, như muốn nhắc nhở Bộc, trời đă về khuya rồi đấy! Song đêm nào cũng thế, tuổi càng cao, lại càng khó ngủ, Bộc nghĩ lại cuộc đời ḿnh đă trải qua, 10 năm mặc áo lính, 7 năm bận áo tù, sau cùng đi làm thuê vác mướn, nuôi con cho đến hôm nay, đó là khúc quanh nhiều bất hạnh, trên đoạn đường đời của Bộc. 

 

Cùng đêm ấy, Bộc thiếp đi trong giấc ngủ hôn mê, để không bao giờ thức dậy nữa, và cũng không kịp nói với con chàng một lời chót. Bác sỹ xét nghiệm, chàng bị nhồi máu cơ tim trong giấc ngủ, đă đưa đến cái chết đáng thương tâm, không làm vướng bận đến người thân.

 

Giờ đây, con Bộc phải  nhận cuộc sống chít chiu lạc lơng nơi đất người, đứa lớn nhất chưa tṛn 19, thay cha nuôi em, trong trạng huống “quyền huynh thế phụ”, anh em  nương tựa nhau, để d́u nhau dắt nhau vào đời.

 

Hoàn cảnh nghiệt ngă nơi gia đ́nh Bộc, nếu ai đó có tấm ḷng nhân ái, nghĩa đồng bào, cũng phải chạnh ḷng, xót thương cho người vừa nằm xuống.

 

 

Trà Khan

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính