Một cuộc chiến khác

 

Trà Đóa

 
Dành riêng để tặng những người lính VNCH vô danh

 

 

Tôi ra đời vào một ngày mùa hè năm 1975, thời điểm cuộc chiến Việt Nam vừa kết thúc. Khi đó ba tôi đang bị “cải tạo” ở Tiên Lănh – một xă vùng núi thuộc huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Nghe mẹ tôi kể lại, đó là thời điểm mà mọi người đều tâm thần bấn loạn, đặc biệt là những gia đ́nh có người tham gia chế độ cũ, chẳng ai c̣n đủ bĩnh tĩnh để nhận biết đầy đủ những náo loạn đang diến ra và cái ǵ sẽ tới. Tất cả đều đảo lộn, rối tung rối mù. Mẹ nói chỉ biết có chạy và chạy. Gần như mọi sự đều phó mặc cho số phận.


Giữa lúc khốn khó ấy, mẹ lại đang mang bầu tôi nên chỉ c̣n biết về quê. Trong tâm thức của người Việt, quê cha đất tổ là một cái ǵ đó, ngoài sự thiêng liêng, c̣n mang cả nỗi niềm tin tưởng, là nơi nương cậy lúc cùng đường. Quả vậy, mẹ, tay dẫn anh chị tôi, bụng mang dạ chửa, chân bước nặng nhọc trở về quê, tá túc trong ngôi nhà cũ của ông bà nội trong khu vườn được phủ kín tre xanh.


Chỉ hơn một tháng sau khi về quê, vào một đêm đầu tháng trời tối như mực, mẹ trở dạ…


Tôi ra đời trong tay một bà lang vườn. Mẹ tṛn con vuông. Sau này mẹ thường nói: “hú hồn, nếu lúc đó xảy ra chuyện ǵ…chắc chỉ c̣n biết chết! Ơn Trời Phật!”.

Dĩ nhiên tôi không có bất kỳ kư ức nào về quảng thời gian đó. Đầu óc trẻ thơ là trạng thái nguyên sơ nhất của ư thức con người. Nó giống như một hồ nước tĩnh lặng trong veo mà h́nh ảnh những đám mây lần lượt in bóng rồi lần lượt trôi qua không để lại một chút dấu vết. Tôi lớn lên v́ phải lớn lên, đó là xu hướng nguyên uỷ của một cơ thể sinh học.


Nhưng kư ức trẻ thơ cũng thật lạ lùng, nó không hoàn toàn vô cảm với tất cả những thứ diễn ra quanh nó. Đôi lúc, như một sự t́nh cờ, nó ghi lại một vài h́nh ảnh mà sau này, nhờ có nó, một người có thể nhớ lại một vài câu chuyện nào đó đă xảy ra trong một bối cảnh xưa cũ mà bây giờ đă hoàn toàn mờ nhạt.


Đó là h́nh ảnh ba tôi ngày trở về sầu năo. Và những ngày sau đó là h́nh ảnh ông uống rượu triền miên rồi say nằm la mắng vang cả xóm… Rồi thỉnh thoảng, những lúc ngồi bên mâm cơm, câu chuyện của ba tôi luôn nói về những kư ức của một thời đă qua. Giọng ông lúc trầm lúc lắng, nhưng luôn đau đớn khi kể đến những thứ... mà nay đă không c̣n, hay như cách quả quyết của ba tôi, là mọi thứ đă bị tước đoạt, và kinh khủng hơn, đă bị chôn vùi vĩnh viễn vào đêm tối của căn bệnh chóng quên của người đời…


Sau này, khi đă đủ trí khôn, tôi cũng không thể h́nh dung ra nổi những bối cảnh trong các câu chuyện mà ba tôi đă kể. Tôi không biết một quả ḿn bên vệ đường phát nổ là như thế nào? H́nh ảnh một chiếc xe khách bị lật nhào cháy đen ra sao? Quá khó để tưởng tượng ra những thảm cảnh đă diễn ra hàng ngày trên con đường chỉ dài vài chục cây số mà giờ đây tôi hay đi đi về về…


Như một bằng chứng, vào ngày giẩy mả đầu xuân, ba tôi đă chỉ cho tôi ngôi mộ của một người xa lạ đă chết trẻ. Đó là anh chàng học tṛ trường Trần Cao Vân Tam Kỳ về nghỉ hè và đă chết trên một chiếc xe bị ḿn ở vệ đường. Ba tôi nói anh ta chết vào tầm tuổi tôi bây giờ…


Nhưng quả thật, khi nói về cái chết cho một người trẻ tuổi cũng giống như việc phết một lớp sơn lên một bề mặt trơn bóng không ăn màu. Nó sẽ mau chóng phai đi và trả lại lớp trơn bóng cố hữu bên dưới một cách nguyên vẹn như chưa từng có ǵ xảy ra. Thậm chí cho đến lúc tôi chứng kiến cái hố chôn tập thể lên đến hàng ngàn bộ hài cốt mà người ta t́nh cờ phát hiện khi đào móng xây nhà, nó vẫn hoàn toàn không gây nên một niềm xúc động nào trong tôi. Khi thấy ba tôi xót xa nói đó có lẽ là hố chôn đồng bào tản cư bị chết trong trận chiến mậu thân 1968, tôi cũng muốn tỏ ra chút đồng cảm nhưng tuyệt nhiên trong tôi vẫn phẳng lặng như tờ.


Tôi biết ḿnh gần như vô cảm với những thứ ấy, những thứ giống như đă xảy ra từ một thời xa lơ nào đó trong tiền kiếp mà bây giờ thỉnh thoảng người ta kể lại như những câu chuyện dân gian. Tôi chưa bao giờ h́nh dung ra ba mẹ tôi cũng là những nhân vật đă ở trong những câu chuyện ấy. Tôi có cảm giác đó là những câu chuyện chỉ dành để nói về những kẻ xa lạ mà chẳng mảy may liên hệ ǵ đến tôi.


Có vẻ khi Đấng Tạo Hoá ban cho con người khả năng ghi nhớ, Người cũng đă thiết lập một luật lệ rằng, mỗi người phải tự chịu trách nhiệm về kư ức của ḿnh mà không thể san sẻ cho ai khác. Phải chăng v́ vậy mà cho dù rất thương ba mẹ, nhưng đầu óc tôi vẫn măi trơ ĺ với những kư ức thân thiết của họ. Những bóng h́nh vẫn c̣n đó, nhưng đồng cảm th́ hoàn toàn vắng bóng…


Tôi rời quê vào Sài G̣n học đại học. Đây là lần đầu tiên tôi xa nhà và đi xa đến vậy – cả ngàn cây số. Đối với những gă trẻ tuổi quê mùa như tôi, Sài G̣n gần như là thiên đường, là nơi chất chứa hy vọng thay đổi số mệnh. Trước khi tôi đi, ba tôi đă kể rất nhiều về Sài G̣n cho tôi nghe. Thực ra, ông chỉ ở đó được khoảng một hai tháng trong một chuyến tập huấn ngày trước. Ba tôi nói rất nhiều, tất cả những ǵ ông c̣n nhớ được về Sài G̣n. Sau này, khi đă ở Sài G̣n lâu ngày, tôi nhận ra là những kư ức của ba tôi về Sài G̣n cũng hoàn toàn xa lạ. Có lẽ, Sài G̣n bây giờ đă khác xa cái thời trước, cái thời mà chỉ c̣n trong kư ức của những người “muôn năm cũ”…


Trường tôi học nằm ở quận nhứt, nhưng tôi lại ở nhà một người quen ở khu Bảy Hiền. Đây là khu xóm dệt do những người Quảng Nam di cư lập nên từ thời năm 1954. Những ngày đầu vào ở đây, không có cách nào để chịu đựng nổi tiếng ầm ầm vang như sấm động suốt ngày từ những khung dệt vải. Nhưng dần dà mọi thứ lại trở nên dễ chịu. Tôi quen dần với những tiếng động ấy đến mức, nếu không có nó, tôi sẽ chẳng ngủ được. Những tiếng đập ầm ầm theo nhịp khung cửi không ngờ lại có tác động như một lời ru dị kỳ.


Những buổi chiều rảnh rỗi tôi thường tản bộ ra uống cà phê ở khu Bàu Cát. Đây là một khu rất mới mà nếu vào thời có trong kư ức của ba tôi, nó chỉ là những ao rau muống lầy lội chạy dài ngút ngàn. Khoảng đầu thập niên chín mươi, một tay lanh lẹ đă xây dựng nó thành những khu phố khang trang như bây giờ. Khu phố này rất đẹp và nhiều cây xanh, rất thuận tiện để mở quán cà phê. V́ vậy mà quán cà phê ở đây nhiều vô kể, cái này nối tiếp cái kia, san sát bên đường.


Nhưng số phận của kẻ đă xây dựng nên nó lại không được may mắn như vậy. Anh ta là một trong số những tay nổi đ́nh nổi đám vào thời mới mở cửa. Đó là cái thời mà những kẻ quản trị nhà băng c̣n kém xa những bà chủ tiệm cầm đồ. Họ cho vay vô tội vạ bất chấp các nguyên tắc an toàn tài chính miễn có “lại quả” cho họ là được. C̣n những công ty ma lanh th́ được phép huy động tín dụng với lăi suất rất cao rồi dùng tiền để chơi bời xả láng hay hoang phí vào những thứ xa xỉ mới được du nhập vào. Và tay ấy, cái kẻ đă xây dựng Bầu Cát, là một trong số những tay chơi khét tiếng. Cuối cùng, với số nợ khổng lồ không có khả năng trả được, gă đă bị tử h́nh.


Bây giờ, chẳng c̣n mấy ai nhớ đến gă…


Tôi thường ngồi ở một quán cà phê có nhiều cây xanh trong sân. Đây xưa kia có lẽ là một khu vườn trồng cây ăn trái nhưng người chủ của nó đă nh́n xa trông rộng mà không bán đi vào thời mở cửa. Để giờ đây nó là một mặt tiền rộng răi, với nhiều cây xanh c̣n giữ lại, che bóng mát rượi. Tôi thích ngồi ở đây v́ chủ quán cũng là người Quảng. Những cô con gái của ông cũng nói giọng Quảng, tuy thỉnh thoảng có pha vài phát âm kiểu Sài G̣n. Ngồi ở đây tôi cảm thấy có ǵ đó gần gũi và đáng tin cậy. Người Quảng vốn nói năng nặng trịch và ít cảm t́nh, nhưng khi xa quê lại thường gắn bó với nhau hơn người ở những vùng khác.

Và vào một buổi chiều ở đó, tôi đă gặp một người lạ lùng…


Thực ra ban đầu tôi chẳng để ư ǵ đến ông, một người bán vé số như vô số những người bán vé số khác. Thường tôi sẽ khước từ những lời mời mua vé số. Tôi chẳng bao giờ tin vào vé số, vả lại nó cũng không rẻ. Theo cách tính kiểu sinh viên như tôi, một tờ vé số tương đương một bữa trưa, thường là một dĩa cơm đậu hủ. Chẳng gă nghèo túng nào lại mạo hiểm đánh đổi một bữa cơm trưa để mua lấy một niềm hy vọng có xác suất nhỏ đến một phần trăm ngàn cả.


Nhưng trái với những người bán vé khác, thường sẽ bỏ đi ngay sau cái phẩy tay, ông ấy h́nh như vẫn c̣n ở đó. Cho đến lúc tôi quay lại nh́n, th́ đó là một ông trung niên bị cụt cả hai chân lên đến tận háng. Ông di chuyển bằng hai cái đ̣n gỗ trơn bóng v́ bị bào ṃn lâu ngày. Đôi mắt ông nh́n tôi lạ lùng và có phần sửng sốt. Và ông cứ nh́n chăm chăm như vậy một hồi lâu. Tôi không biết là bao lâu, v́ chính tôi cũng sửng sốt không kém ông. Bởi tôi chưa từng gặp phải một t́nh huống lạ thường như vậy bao giờ. Một gă trai trẻ quê mùa như tôi chưa bao giờ học được thói quen phản ứng mau lẹ với xung quanh.


Rồi cuối cùng ông cũng giật ḿnh tỉnh lại. Gương mặt ông lộ rơ vẻ bối rối như một đứa trẻ vừa phạm một lỗi nặng. Ông nh́n tôi vừa đau khổ, vừa như muốn xin lỗi về sự bất nhă vừa rồi. Nhưng tôi nhớ ḿnh đă mỉm cười với ông, một nụ cười tự nhiên chẳng thoáng chút kỳ thị. Rồi như được cởi bỏ một gánh nặng, ông cũng mỉm cười theo. Cuối cùng ông cũng lên tiếng giải thích cho cái nh́n kỳ lạ của ḿnh:


“Cậu giống như đúc một người bạn cũ của tui”


Rồi ông nhanh chóng trở lại với gương mặt rầu rĩ cố hữu.


Tôi lên tiếng:


“Chắc là một người bạn thời trẻ của chú?”


Ông gật đầu.


“Vậy chắc anh ta đă đi Mỹ rồi?” Tôi nói đùa.


“Anh ấy chết rồi”


Câu trả lời của ông làm tôi thoáng chút gợn. Tôi hơi sợ khi nghe từ chết, đặc biệt là một cái chết trẻ. Có lẽ, câu chuyện về cái chết của anh chàng học tṛ trường Trần Cao Vân đă ám ảnh tôi ít nhiều.


Tôi hỏi ông:


“Chắc là chết thời c̣n đi học chung với chú?”


“Không, anh ấy là lính Cộng Hoà chết trận.”


Nói đến đó, gương mặt của ông trở nên như vô hồn, nhưng trên mí mắt thâm quầng đang chảy xuống một gịng nước mắt. Lúc đó tôi không hiểu ông đang nghĩ ǵ. Một cái chết xa xôi như vậy của một người bạn cũ đâu thể gây nên một sự đau buồn lâu dài đến vài chục năm. Thực tế, con người là những động vật rất dễ thích nghi, kể cả với nỗi đau. Thường với một cái chết nào đó, nó chỉ gây ra tổn thương trong một thời gian nhất định mà thôi, tuỳ thuộc vào mối quan hệ của người sống với người đă chết, nhưng ít khi nó kéo dài quá vài năm. Có thể trong phút chốc một niềm xúc động đột ngột dâng lên từ một sự kiện đă gợi lại những kỷ niệm đau buồn trong quá khứ và khiến ông đau ḷng. Nhưng nhiều lắm nó cũng chỉ đủ loé lên như một ánh lửa rồi lại ch́m ngay vào trong đêm tối của kư ức xa xăm.


Nhưng lạ lùng thay, những ḍng nước mắt của ông vẫn không ngưng chảy. Ông đang khóc như một cơn mưa dầm. Gương mặt già nua của ông trông đau khổ đến tột bực…


Tôi nói dối với ông rằng ba tôi cũng là lính cộng hoà. Thực ra, ba tôi làm bên chính quyền. Nhưng dù sao như vậy cũng đủ để tạo nên một chút đồng cảm hiếm hoi và làm lắng lại cơi ḷng sâu kín nào đó trong ông.


Bởi vậy, tôi trông ông có vẻ hoạt bát hẳn lên. Rồi ông kể cho tôi nghe đôi chút về những kư ức đau buồn đó…


Ông và người bạn ấy – người đă chết, người mà ông nói có khuôn mặt giống tôi như đúc – là hai anh lính trẻ trong một đơn vị tác chiến đóng quân ở Tây Ninh. Trong thời chiến tranh Việt Nam, Tây Ninh là vùng tranh chấp ác liệt, bởi nó gần Sài G̣n lại gần biên giới Miên. Tây Ninh cũng là cửa ngơ để những cánh quân Bắc Việt thâm nhập xuống Sài G̣n.


Trong một trận đánh khốc liệt vào năm 1974, người bạn của ông đă bị chết mất xác do pháo kích. C̣n ông th́ bị mảnh đạn phạt mất hai chân.


Ông được đưa về quân y viện dưỡng thương. Cho đến tháng 4 năm 1975, khi những cánh quân CS Bắc Việt tiến chiếm quân y viện, ông bị đuổi ra khỏi nơi ấy. Và sau đó là những tháng ngày nhọc nhằn của cuộc đời ông…


Với tấm thân tàn phế, ông đồng ư chia tay với người vợ trẻ, mà như lời ông, là để giải thoát cho một số mệnh. Ông sống thui thủi một ḿnh với cuộc mưu sinh nhọc nhằn bằng đủ mọi cách. Để rồi cuối cùng ông chọn cách lên Sài G̣n bán vé số cho đến bây giờ…


Đó là một buổi chiều buồn man mác trong thời hoa niên ít nghĩ suy của tôi. Nhưng câu chuyện của ông làm tôi nhớ đến một bức ảnh nổi tiếng của Nick Ut – một phóng viên ảnh của hăng thông tấn AP. Câu chuyện trong bức ảnh ấy cũng xảy ra ở Tây Ninh. Đó là h́nh ảnh một bé gái trần truồng, bị phỏng bởi bom napal, đang chạy hốt hoảng trên đường trong một buổi chiều đầy khói lửa. Một bức ảnh đă gây xúc động trên toàn thế giới về thảm cảnh của chiến tranh Việt Nam.


Cách đây vài năm, tôi lại được thấy trên báo chí h́nh ảnh của cô bé Kim Phúc năm nào mà giờ đây là một quư bà công dân Canada và là đại sứ hoà b́nh của UNESCO. Có lẽ cô ấy đă vượt qua được số phận đau thương nhờ t́nh nhân ái.


Thế c̣n số mệnh của những người lính, như người lính già tàn phế ấy, ai sẽ cứu vớt cuộc đời họ? Thậm chí, có bao nhiêu người c̣n nhớ đến họ không, những kẻ đă phải hy sinh một phần hay tất cả thể xác, để bảo vệ cho Tự Do, mà nay không c̣n nữa? Phải chăng họ chỉ là những kẻ bạc mệnh và vô phước, được sinh ra và lớn lên trong một thời cuộc không mong đợi?


Câu chuyện của ông rồi cũng mau chóng phai mờ trong tôi. Nhưng h́nh ảnh của ông lại có một sức sống kỳ lạ. Cứ mỗi khi đến quán cà phê ấy, tôi lại thấy bóng dáng của ông thấp thoáng đâu đó, đang lê lết trên hai đ̣n tay bằng gỗ, từ bàn nọ qua bàn kia để mời mua vé số. H́nh bóng của ông như một thứ ǵ đó đă sắp tàn nhưng chưa chịu mất, nó vẫn c̣n bám víu vào cơi đời này như một sự khắc khoải kỳ bí của hiện hữu.


Rồi một buổi chiều khác, tôi lại được gặp ông. Lần này ông đến bên tôi rất nhẹ nhàng. Khi tôi thấy ông, cũng là lúc ông nở một nụ cười rất tươi đáp chào. Tôi thấy ông có ư muốn nói ǵ đó nhưng vẫn chưa mở lời được. Rồi sau một hồi ông cũng lên tiếng:


“Có chuyện này, nhờ cậu giúp cho không biết có được không?”


Tôi suy nghĩ ḿnh th́ có thể giúp được ǵ cho ông ấy. Trong khi cái ông cần tôi lại không có. Trông tôi có vẻ bảnh bao, nhưng độ nghèo chắc cũng chẳng thua kém ông. Tôi hỏi ông:


“Cháu th́ có thể giúp được ǵ cho chú?”


Ông ngần ngừ giây lát rồi nói:


“Cậu có thể cho tui mượn một tấm h́nh được không?”


Tôi trố mắt ngạc nhiên nh́n ông:


“Chú cần h́nh của cháu để làm ǵ?”


Ông tỏ ra e ngại rồi phân minh: ông cần một cái h́nh để làm ảnh thờ cho người bạn đă chết mất xác năm xưa. V́ sau bảy lăm đồ đạc thất lạc hết nên ông chẳng c̣n giữ được tấm h́nh nào. V́ vậy trên bàn thờ anh ấy ông chỉ để cái bài vị. Ông sợ nếu không có cái h́nh, sau này sẽ chẳng c̣n ai h́nh dung ra gương mặt anh ấy nữa. Rồi ông kể anh ấy chỉ có một bà mẹ già, mà có lần về phép hai anh em xuống thăm, bà đă yếu lắm rồi. Sau bảy lăm ông không có điều kiện xuống lại quê anh ấy, nhưng chắc bà cụ đă chết rồi. Nên ông nghĩ, ngoài ông ra, chẳng c̣n ai thờ anh ấy nữa…


Tôi hốt hoảng thật sự:


“Kỳ lắm, cháu chưa chết mà đưa lên bàn thờ th́ sợ lắm.”


Ông vội xua tay phân bua:


“Không, tui chỉ mượn tấm h́nh của cậu để vẽ truyền thần cho anh ấy một tấm h́nh thôi. V́ cậu rất giống, nên chỉ cần sửa đổi đôi chút là được.”


Tôi thở phào nhẹ cả người.


Khoảng vài tuần sau tôi lại gặp ông. Ông nói đă chờ tôi mấy hôm nay mà không thấy. Ông khoe đă vẽ xong và trả lại tôi tấm h́nh với lời cám ơn. Ông nói mấy hôm nữa là ngày giỗ anh ấy và ông mời tôi ghé nhà ông chơi. Tôi đồng ư.


Mấy hôm sau, tôi cọc cạch đạp xe xuống Thủ Đức mất cả tiếng đồng hồ. Ông đă ngồi đợi ở đầu con hẻm lớn để đưa tôi vào. Nhà ông là một túp lều mái tôn, vách được che bằng những tấm ny lon lớn. Nó được dựng dựa vào bức tường của một cái đ́nh cổ. Trong lều, ngay chính giữa, có một cái bàn thờ Phật trên cao, bên dưới là tấm h́nh mà ông đă nhờ vẽ truyền thần. Nh́n h́nh, tôi cố không h́nh dung ra đó là ḿnh. Dù sao th́ môi trên hơi dày hơn và đặc biệt, có một nốt ruồi ngay dưới mí mắt phải. Đó là những chi tiết khác biệt rất dễ nhận thấy. Có thể c̣n những điểm khác nữa mà tôi chưa kịp nhận ra.


Ông mỉm cười nói với tôi:


“Hồi đó, tụi tui cũng tuổi như cậu bây giờ. Mà thật kỳ lạ, trông cậu chẳng khác ǵ anh ấy. Hôm đầu tiên trông thấy cậu, tui không tin vào mắt ḿnh nữa. Trên đời sao lại có người giống nhau đến vậy…”


Ông ấy nói đúng. Sao tôi lại đi giống một người xa lạ mà tôi chưa từng gặp đến vậy. Đây chỉ là một sự ngẫu nhiên, một t́nh cờ của Tạo Hoá, hay là một bí hiểm nào đó mà tôi chưa ngộ ra?


Tôi không biết.


Đêm đó, trong giấc ngủ, tôi đă mơ một giấc mơ kỳ lạ. Tôi thấy ḿnh đang băng qua một khu rừng trong bộ đồ chiến binh bết đầy bùn đất. Tiếng trực thăng quần thảo điên loạn trên đầu, rồi từng tràng đạn rít chói tai qua những khóm cây, làm những chiếc lá xanh rụng xuống lả tả như mưa. Và cứ thế, tôi miệt mài bước đi như bị thôi miên. Cuối cùng, tôi rơi vào một vùng sáng chói loà, rồi mất hút…

 


Trà Đoá

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính