Người tù binh Pháp "nhiều năm nhất" trong ngục tù Cộng Sản.
 


Trung Tá Huỳnh bá Xuân, sĩ quan trong quân đội Pháp , trong buổi lễ tưởng niệm 11.11 tại Rennes ( ngày Đ́nh chiến trận đệ nhất thế chiến 1918) năm 2004, đă được Bộ Trưởng Quốc Pḥng Pháp Bà Alliot-Marie trao tặng Huy chương anh dũng cao cấp của quân đội " Croix de Guerre avec palme ".


Trung tá Xuân đă bị Việt Minh bắt cầm tù tại Hưng Yên năm 1953, và được trả tự do năm 1976, tổng cộng là 23 năm.


Ông viết cuốn hồi kư "Oublié 23 ans dans les goulags Viet - Minh" in tại nhà xuất bản Harmattan năm 2004.



Sau đây là vài nét chánh về tiểu sử của ông:


Sanh ngày 23.12.1929 tại Bạc Liêu tại Nam - Việt , sau khi thân phụ của ông bị Việt Minh thủ tiêu năm 1949, Ông t́nh nguyện gia nhập quân đội Pháp và tốt nghiệp các trường sĩ quan Pháp " Ecoles d'Infanterie / Bộ Binh " ở Coëtquidan, và " Arme Blindée / Thiết Giáp " ở Saumur " năm 1950. Ông làm tùy viên quân sự của Tướng De Lattre năm 1951 tại Đông Dương, được bổ nhiệm Tham mưu Trưởng với cấp bậc Đại Úy trong chiến dịch hành quân Pháp tại Nasan năm 1952, và sau cùng bị Cộng sản Việt Nam (c̣n núp dưới nhăn hiệu Việt Minh )bắt cầm tù tại Hưng Yên năm 1953. (H́nh buổi họp tại bộ chỉ huy Tướng De Lattre - Hùynh bá Xuân là người có đánh dấu chữ X trắng )




 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trong quyễn hồi kư, ông tả lại những cực h́nh và đọa đày mà CS áp dụng đối với tù binh của họ. Lúc ở tù, ông chủ mưu một cuộc nổi dậy nhưng thất bại v́ có nhiều tù nhân Pháp bỏ cuộc giờ phút chót.


Tất nhiên là Việt Cộng dành một quy chế đặc biệt cho ông : hai chân ông bị đóng gông cùm, ngủ trong pḥng tối 1,7 m chiều dài ( được hưởng 10 phút phơi nắng mỗi ngày ), lưong thực ( toàn cơm tẩm dầu hôi ở cao bằng) giảm c̣n phân nữa. 80 % tù nhân qua đời sau 10 năm bị cầm tù, và nếu c̣n sống th́ trở thành phế nhân.( Điều nầy, hơn 500000 quân nhân cán chính của Việt Nam Cộng Ḥa sau 1975, cũng đă từng nếm mùi CSVN).


Công tác đày đọa 6 ngày ṛng ră, mỗi ngày 12 tiếng có khi c̣n hơn. Chỉ có một ngày tương đối rảnh rổi th́ phải bị " nhồi sọ " nghe chúng chửi bới coi tù nhân như kẻ giết người, và phản bội tổ quốc.


Đễ chịu đựng, ông phải đọc kinh cầu nguyện Đức Mẹ, và đọc thơ của thi sĩ Pháp André Chénier.


Sau hiệp định Paris năm 1973, ông và 2 người c̣n sống sót trong trại tù được VC cho sinh sống tại Hà Nội trong một gia đ́nh làm nghề mộc dưới sự kiểm soát của công an.


Được trả tự do năm 1976, ông về Saigon và sống tại nhà của bà mẹ. Ông t́m lại được giấy tờ chứng minh ông là quân nhân của Pháp, nhưng ṭa lănh sự Pháp làm ngơ . Ông t́m cách vượt biên 2 lần nhưng thất bại, nhưng rất may là ông không bị công an bắt. Trong khoản thời gian đó, ông cưới vợ tại Biên Ḥa.


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Năm 1980, mặc dù được bà quả phụ Thông chế De Lattre giúp đỡ, với sự can thiệp của Tổng Trưởng Jean-François Poncet, ông mới được đến Paris ngày 12.7.1984.


V́ bị cầm tù từ năm 1953, nên đến năm 1955 ( thời TT Ngô đ́nh Diệm ), ông không có cách nào xin được quyền giữ quốc tịch Pháp, nên làm sao được hưởng quyền lợi của một quân nhân Pháp ?


Các sĩ quan Pháp đồng khóa Leclerc với ông, Viện " Thống chế De Lattre " vận động ủng hộ ông.


Tháng Janvier năm 1986, Ṭa Án Rennes tuyên án công nhận Ông Hùynh bá Xuân có quốc tịch Pháp, và Bộ Quốc Pḥng Pháp cho ông tái ngũ với cấp bậc Trung Tá cùng truy cập lương từ năm 1953 đến năm 1986.



Quyễn sách " 23 ans oublié dans les Goulag Viet Minh "- nhà Xuất bản Harmattan 2004 - bằng pháp ngữ đă diễn tả hết nổi niềm tâm sự của một người tù dưới chế độ phi nhân của CSVN. Cần phổ biến rộng răi với những thân hữu Pháp.


TinParis.

 

 

[Tin Tức & BL]     [Trang chính]