Nền Cộng Ḥa và Hiến Pháp Việt Nam Cộng Ḥa 1956

 

Thiện Ư

 

 

 

Thấm thoát mà đă 62 năm (1956-2018), nền cộng hoà được thiết lập tại Việt Nam với bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hoà ban hành ngày 26-10-1956 tại Miền Nam Việt Nam.

 

Năm nay, nhân ngày 26-10-2018, nghĩ về Hiến pháp Việt Nam Cộng Hoà ban hành ngày 26-10-1956, chúng tôi muốn gửi bài viết này đến quư độc giả người Việt Nam không cộng sản trong cũng như ngoài nước, đề cùng tự hào với quá khứ, rằng chúng ta đă chọn đúng nền tảng một chế độ chính trị phù hợp với ư nguyện của toàn dân và tin tưởng mănh liệt ở tương lại, rằng nhất định chúng ta sẽ thiết lập được một chế độ dân chủ trên nền tảng cộng hoà đă được xác lập 62 năm qua tại Việt Nam. Nội dung bài viết lần lượt tŕnh bày:

 

I - BỐI CẢNH LỊCH SỬ H̀NH THÀNH NỀN CỘNG H̉A TẠI VIỆT NAM

 

Như quư độc giả đă biết, sau Thế Chiến II, chủ nghĩa thực dân cũ đă bước vào thời kỳ suy tàn, xu thế giải thực đă buộc các đế quốc từng có nhiều thuộc địa như Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan… đă phải lần lượt trao trả độc lập cho các nước bị trị. Điển h́nh là một số nước trong vùng Đông Nam Á như Ấn Độ và Hồi Quốc được Đế Quốc Anh trao trả độc lập năm 1947; Indonesia được Hà Lan trao trả độc lập năm 1949; Triều Tiên được Nhật trao trả độc lập năm 1945; Lào và Cao Miên Pháp trao trả độc lập năm 1953…

 

Do đó, theo nhận định của nhiều sử gia và học giả nghiên cứu chính trị và lịch sử, th́ chẳng cần cuộc kháng chiến gian khổ 9 năm do đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) phát động và chủ đạo tiến hành (1946- 1954) làm hao tổn quá nhiều xương máu nhân dân, tàn phá tài nguyên đất nước không cần thiết theo chủ trương “tiêu thổ kháng chiến” của Việt Minh cộng sản, để có được cái gọi là “Chiến thắng Điện Biên lịch sử(7-5-1954), th́ thực dân Pháp sớm muộn cũng phải trao trả độc lập cho Việt Nam cũng như nhiều thuộc địa khác. Chẳng qua Ông Hồ Chí Minh và Cộng đảng Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến này, chỉ là lợi dụng ḷng yêu nước của nhân dân, dùng chiêu bài độc lập dân tộc để “cướp chính quyền”; sau đó áp đặt chế độ độc tài đảng trị CS tại Việt Nam, thực hiện tham vọng bành trướng lănh thổ, nhuộm đỏ ṭan cầu của cộng sản quốc tế, đứng đầu là hai tân đế quốc Đỏ Nga-Tàu.

 

Thật vậy, trên thực tế, trước áp lực của xu thế giải thực, thực dân Pháp đă phải lùi từng bước, trao trả độc lập từng phần cho Việt Nam, qua các Hiệp Định Vịnh Hạ Long ngày 5 tháng 6 năm 1948, “đề cử” hoàng đế Bảo Đại làm Quốc Trưởng, và Pháp thừa nhận Việt Nam dưới sự lănh đạo của Quốc trưởng Bảo Đại như là một quốc gia độc lập nằm trong Liên Hiệp Pháp. Ngày 8 tháng 3 năm 1949 Tổng thống Pháp Vincent Auriol và Quốc trưởng Bảo Đại đă kư “Thỏa Ước Elysée”. Theo đó, Pháp hứa sẽ xây dựng cho Việt Nam một quân đội quốc gia chống cộng. Đây là khởi điểm của sự thành lập Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, gồm có các binh lính và sĩ quan gốc “Khố Xanh Khố Đỏ” của Pháp chuyển qua. Chính những sĩ quan có xuất thân này, đă nắm vận mệnh quốc gia sau khi đảo chánh lật đổ Tổng Thống Diệm, và đă góp phần làm mất Miền Nam vào tay cộng sản (30-4-1975).

 

Thế rồi, cuối cùng thực dân Pháp cũng đă phải trao trả độc lập ḥan ṭan cho Việt Nam vào năm 1954. Nhưng Việt Nam có số phận không may đă rơi vào thế gọng ḱm của một chiến lược quốc tế mới hậu Thế chiến II, với cuộc chiến tranh ư thức hệ (cộng sản chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa), nên đất nước bị qua phân theo Hiệp Định Genève ngày 20-7-1954 kư kết giữa thực dân Pháp và Việt Minh cộng sản, có ư nghĩa như là Pháp (quân cướp nước) đă mất nửa thuộc địa Miền Bắc cho đảng cộng sản (phường bán nước cho quốc tế CS Nga-Tàu). Chính quyền chính thống quốc gia của Quốc trưởng Bảo Đại, với thủ tướng chính phủ Ngô Đ́nh Diệm lúc bấy giờ, không kư vào Hiệp định Genève 1954, nên không có trách nhiệm thi hành, nhưng phải tiếp nhận độc lập chủ quyền quốc gia trên nửa nước Miền Nam, phải chấp nhận một thực tế bị áp đặt trái với ư nguyện của nhân dân Việt Nam. V́ vậy trên nguyên tắc quốc gia Việt Nam vẫn là một, chỉ tạm thời chia cắt để chờ cơ may thống nhất đất nước.

 

Hệ quả là một nửa nước Miền Bắc rơi vào tay đảng CSVN thiết lập “Nền Chuyên Chính Vô Sản”, trên đó xây dựng chế độ độc tài ṭan trị cộng sản, với quyền thống trị độc tôn, độc quyền của đảng CSVN, một công cụ chiến lược của hai tân đế quốc đỏ Nga-Tầu. Nửa nước Miền Nam Việt Nam được trao trả cho chính quyền chính thống quốc gia Việt Nam, thiết lập nền Cộng Ḥa trên đó xây dựng chế độ tự do dân chủ, tức Việt Nam Cộng Ḥa, với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ và các đồng minh Thế giới Tự do trên nguyên tắc, song trên thực tế đă bị Hoa Kỳ biến thành công cụ chiến lược một thời của ḿnh; dù chỉ là một công cụ ngay t́nh(bị ép buộc) khác với đảng cộng sản Việt Nam đă là công cụ tri t́nh (t́nh nguyện, chủ động thực hiện nghĩa vụ công cụ) cho cộng sản quốc tế Nga-Tầu. V́ đảng CSVN đă t́nh nguyện làm một công cụ bành trướng của cộng sản quốc tế, đứng đầu là Nga-Tầu lúc đó, nên đă phát động và tiến hành cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn kéo dài 21 năm để thôn tính Miền Nam Việt Nam (1954-1975) và cộng sản hóa cả nước cho đến nay đă 43 năm rồi (1975-2018).

 

Trong khi đó, chính quyền chính thống quốc gia và nhân dân Miền Nam, trong thế chẳng đặng đừng đă phải làm tiền đồn chống cộng cho Hoa Kỳ và phe Thế giới tự do; buộc ḷng phải thực hiện cuộc chiến tranh tự vệ để ngăn chặn, đẩy lùi cuộc chiến tranh xâm lược đó của CSBV, để bảo vệ phần đất tự do Miền Nam; trong ư hướng giữ vững độc lập quốc gia, chủ quyền dân tộc, để vừa chiến đấu chống cuộc xâm lăng của CSBV, vừa nỗ lực xây dựng thành công chế độ dân chủ pháp trị Việt Nam Cộng Ḥa, tiến tới thống nhất đất nước, không phải bằng bạo lực quân sự, mà bằng sự ưu thắng của chế độ dân chủ pháp trị VNCH và nền kinh tế tự do phát triển phồn vinh ở Miền Nam; trên chế độ độc tài ṭan trị CSBV và nền kinh tế chỉ huy nghèo nàn lạc hậu ở Miền Bắc. Nghĩa là chính quyền và nhân dân Miền Nam, muốn tiến tới t́nh trạng như Nam Bắc Hàn hiện nay, mà sự thống nhất Hàn Quốc một cách ḥa b́nh, với sự ưu thắng của Nam Hàn dân chủ phồn vinh trên Bắc Hàn độc tài cộng sản nghèo đói và lạc hậu, chỉ c̣n là vấn đề thời gian.

 

Chính v́ mục tiêu và lư tưởng vừa nêu, nền cộng ḥa đă được xác lập tại Việt Nam, bằng bản Hiến pháp ban hành ngày 26-10-1956, trên đó xây dựng chế độ dân chủ pháp trị Việt Nam Cộng Ḥa thay thế cho chế độ quân chủ chuyên chế tồn tại nhiều thế kỷ trước đó tại Việt Nam.

 

II - NỀN CỘNG H̉A VÀ HIẾN PHÁP VIỆT NAM CỘNG H̉A 1956.

 

1 - Nền cộng ḥa và Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm.

 

Theo tự điển Hán Việt của học giả Đào Duy Anh, cộng ḥa (Republic: Cộng đồng, dân chúng) có ư nghĩa như là nền tảng cho một chế độ dân chủ, chế độ cộng Ḥa (Repubican Regime) với “Chủ quyền quốc gia thuộc về toàn dân”. Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm được coi là người khai sáng nền cộng ḥa như thế tại Việt Nam.

 

Sử liệu cận đại Việt Nam ghi nhận các sự kiện có ư nghĩa sau đây: ngày 7 tháng 7 năm 1954, chí sĩ Ngô Đ́nh Diệm đang sống lưu vong ở hải ngoại đă về nước chấp chánh theo sự ủy thác của vua Bảo Đại trong ngôi vị Thủ tướng chính phủ chính thống quốc gia Việt Nam, để chống cộng và nếu cần chống cả thực dân và phong kiến để bảo vệ tổ quốc (Như hồi kư của cựu hoàng Bảo Đại đă viết). V́ xu thế thời đại, Thủ Tướng Diệm không thể duy tŕ thể chế quân chủ chuyên chế, nên với sự hậu thuẫn của 18 đoàn thể chính trị (Hội Đồng Cách Mạng Quốc gia), họp tại Dinh Độc Lập đă quyết định thiết lập chế độ cộng ḥa, theo xu thế thời đại, đáp ứng ư nguyện của quốc dân, qua cuộc trưng cầu dân ư ngày 23-10-1955 truất phế vua Bảo Đại, vị vua cuối cùng của chế độ quân chủ chuyên chế Việt Nam thiết lập nhiều thế kỷ trước đó, tôn vinh Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm là Tổng Thống đầu tiên chế độ Việt Nam Cộng Ḥa.

 

Để có căn bản pháp lư, ngày 26-10-1955 Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm đă ban hành Hiến Ước Tạm Thời Số 1, và ngày 23 tháng 1 năm 1956 đă kư ban hành Dụ Số 8 thiết lập Quốc hội Lập hiến định hướng cho chế độ cộng ḥa sẽ được xác lập. Trên căn bản các văn kiện pháp lư hành chánh này, nhân dân Miền Nam lần đầu tiên được cầm lá phiếu với tư cách là công dân một nước độc lập, có chủ quyền, đi bầu người đại diện vào Quốc hội Lập hiến để thay mặt ḿnh sọan thảo ra một bản hiến pháp dân chủ trên nền tảng cộng ḥa đầu tiên. Trong ṿng 9 tháng sau, Quốc hội do dân bầu này đă ḥan thành bản Hiến pháp Việt Nam Cộng Ḥa và ngày 26 tháng 10 năm 1956, Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm đă kư ban hành bản hiến pháp đầu tiên làm căn bản thíêt lập các định chế quốc gia, với tam quyền phân lập và cơ cấu của một chính quyền cộng ḥa với chủ quyền quốc gia thuộc về ṭan dân.

 

2 - Nền cộng ḥa và Hiến pháp Việt Nam Cộng Ḥa 1956.

 

Như trên đă tŕnh bầy nền cộng ḥa là nền tảng của một chế độ chính trị với chủ quyền quốc gia thuộc về ṭan dân, theo học thuyết chính trị dân chủ Phương Tây; tương tự quan niệm dân chủ Phương Đông “Dân vi quư, xă tắc thứ chi, quân vi khinh”, đều lấy “Dân làm gốc”. Tiếc rằng, quan niệm dân chủ này chỉ có trong sách vở ở xă hội phong kiến, thực tế vua vẫn là tối thượng, chủ quyền quốc gia thuộc về vua, chứ không phải của ṭan dân. Cũng như trong “nền chuyên chính vô sản” chủ quyền quốc gia thuộc về đảng cộng sản, quyền “Làm chủ của nhân dân” chỉ là bánh vẽ lừa mị nhân dân, che mắt quốc tế.

 

V́ vậy muốn chủ quyền quốc gia thuộc về ṭan dân, cần xây dựng một chế độ dân chủ trên nền tảng cộng ḥa. Để thiết định chế độ dân chủ cộng ḥa này, cần có một bản hiến pháp, là một văn kiện pháp lư căn bản qui định rơ quyền lợi nghĩa vụ người dân trong, tương quan với chính quyền và nghĩa vụ của các cơ quan công quyền, với các viên chức được người dân ủy quyền qua lá phiếu trong các cuộc bầu cử tự do, chọn người đại diện cho dân, làm nhiệm vụ công bộc ăn lương của dân, điều hành guồng máy công quyền quốc gia, từ thượng tầng kiến trúc đến hạ tầng cơ sở, theo ư nguyện của người chủ đất nước là nhân dân, sao cho xă hội ổn định, phát triển, quốc gia phú cường, mọi tầng lớp nhân dân có điều kiện phát triển đồng đều, “cộng đồng đồng tiến”, có đời sống tự do, ấm nó để mưu cầu hạnh phúc riêng (cá nhân) cũng như chung (tập thể).

 

Trong ư hướng trên, bản Hiến pháp Việt Nam Cộng Ḥa đầu tiên được soạn thảo và ban hành ngày 26-10-1956 và sau đó bản Hiến pháp Việt Nam Cộng Ḥa thứ hai được ban hành ngày 1-4-1967.

 

Bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Ḥa 26-10-1956 được sọan thảo dựa trên hai nền tảng triết lư và chính trị. Nền tảng triết lư là triết học duy tâm, lấy con nguời là trung tâm, là chủ thể xă hội và là đối tuợng phục vụ của xă hội. Nền tảng chính trị là chủ nghĩa nhân vị, trên đó thiết lập chế độ cộng ḥa với chủ quyền quốc gia thuộc về toàn dân, các quyền dân chủ, dân sinh và nhân quyền được tôn trọng, bảo vệ và hành xử. Chủ đích của các nhà lập hiến khi chọn chủ nghĩa Nhân Vị làm nền tảng cho chế độ Cộng Ḥa để soạn thảo ra Hiến Pháp hữu thần Việt Nam Cộng Ḥa là để đối kháng với triết học duy vật và chủ nghĩa Cộng Sản vô thần, là nền tảng hiến pháp của chế độ vô thần Cộng sản Bắc Việt, vốn coi tôn giáo như thuốc phiện mê hoặc con người; con nguời chỉ là sản phẩm kinh tế, là công cụ của xă hội, cá nhân phải phục vụ xă hội và quyền lợi cá nhân phải hy sinh cho quyền lợi tập thể (thực chất cũng như thực tế là hy sinh cho quyền lợi của một tập đ̣an thống trị độc quyền là đảng CSVN ), trong một xă hội mà những nguời cộng sản muốn áp đặt, đó là xă hội “Xă hội chủ nghĩa”, giai đọan đầu của “xă hội cộng sản” mà đỉnh cao là “Thiên đường cộng sản” (!?!).

 

Tham vọng của các nhà lập hiến Việt Nam khi chọn chủ nghĩa Nhân Vị làm nền tảng cho Hiến pháp chế độ cộng ḥa như là một vơ khí lư luận để đánh bại đối phương về mặt ư thức hệ. Đối phương lúc đó là đảng CSVN đă thiết lập ở Miền Bắc một chế độ độc tài đảng trị CS bằng bản Hiến pháp năm 1958, ngụy dân chủ, ngụy cộng ḥa (xanh vỏ, đỏ ḷng) . V́ Hiến pháp này chỉ giữ lại bảng hiệu “Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa”, của Hiến pháp 1946 (Một bản Hiến pháp tiến bộ, hợp ḷng dân, do Quốc hội liên hiệp Quốc-cộng soạn thảo trên nền tảng dân chủ, cộng ḥa thật, nhưng chưa thực hiện được. V́ sao? Chúng tôi sẽ tŕnh bày trong một bài viết khác), nhưng h́nh thức và nội dung rập khuôn Hiến pháp 1936 của cộng sản Liên Xô vốn xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa xă hội hay cộng sản.

 

Với vơ khí lư luận là chủ nghĩa Nhân Vị và chế độ dân chủ cộng ḥa, các nhà lập hiến VNCH tin rằng, nguời dân sẽ thấy đuợc hai con đuờng “Nhân vị chủ nghĩa” và “Cộng sản chủ nghĩa” dẫn đến mục tiêu tối hậu hoàn toàn trái nguợc: Chủ nghĩa nhân vị”: Xây dựng một xă hội v́ con nguời, tôn trọng phẩm giá con nguời và xă hội phải phục vụ lợi ích tối thuợng của con nguời. Trong khi “chủ nghĩa cộng sản”: xây dựng một xă hội v́ đảng CSVN, nô dịch và xă hội hóa con nguời, biến con nguời thành công cụ phục vụ xă hội (thực chất là phụng vụ giai cấp thống trị), nhân vị bị hạ thấp ngang tầm ḷai vật (theo lư luận và thực hành Duy vật biện chứng của CS).

 

Đồng thời, chủ nghĩa Nhân Vị sẽ là nền tảng cho chế độ chính trị Cộng Ḥa, để bảo đảm được nhân vị và các nhân quyền căn bản của người dân. Trong bối cảnh cuộc chiến tranh chống cộng bảo vệ nền Cộng Ḥa và chế độ dân chủ VNCH, chủ nghĩa Nhân Vị giúp nguời dân phân biệt đuợc mục tiêu và lư tuởng tranh đấu tối hậu của nguời Việt Quốc gia là thiết lập cho kỳ đuợc một chế độ dân chủ cộng ḥa là v́ nhân vị và phẩm giá con người, v́ hạnh phúc của nhân dân, quyền dân chủ dân sinh và nhân quyền được bảo đảm với tam quyền phân lập; trái nguợc với chế độ độc tài toàn trị cộng sản , độc tôn và độc quyền thống trị của đảng CSVN, v́ quyền lợi của giai cấp thống trị là các cán bộ đảng viên CS, gia đ́nh họ và các tầng lớp ăn theo.

 

Chính v́ vậy mà chủ thuyết nhân vị đuợc xác tín qua phần “Mở Đầu” của Hiến Pháp VNCH ngày 26-10-1956 như sau:

“Tin tuởng ở sự truờng tồn của nền văn minh Việt Nam, cần có trên nền tảng duy linh mà ṭan dân đều có nhiệm vụ phát huy;

 

“Tin tuởng ở giá trị siêu việt của con nguời mà sự phát triển tự do. Điều ḥa và đầy đủ trong cương vị cá nhân cũng như trong đời sống tập thể phải là mục đích của mọi họat động quốc gia…

 

Như vậy, chính trên nền tảng chủ nghĩa Nhân Vị, Quốc hội Lập hiến đầu tiên của quốc gia Việt Nam đă sọan ra bản Hiến pháp VNCH đầu tiên (hoàn toàn khác với cái gọi là Hiến pháp VNDCCH 1958 của Cộng sản Bắc Việt “ngụy dân chủ, ngụy cộng ḥa”), và đă đuợc Thủ tướng Ngô Đinh Diệm, sau trở thành vị tổng thống đầu tiên chế độ VNCH, đă kư ban hành ngày 26-10-1956.

 

Nội dung Bản Hiến Pháp này,ngoài phần “Mở Đầu”, gồm 10 Thiên và 98 Điều thể hiện rơ nguyên tắc phân quyền: Thiên thứ nhất quy định những “Điều khỏan căn bản”; Thiên Thứ Hai: “Quyền lợi và Nhiệm vụ nguời dân”; Thiên thứ ba:“Tổng Thống”; Thiên thứ tư: “Quốc Hội”; Thiên thứ năm “Thẩm phán”; Thiên Thứ sáu “Đặc biệt Pháp viện”; Thiên Thứ Bẩy “Hội Đồng Kinh Tế Quốc gia”; Thiên thứ tám “Viện Bảo hiến”; Thiên Thứ Chín “Sửa đổi Hiến pháp” và Thiên Thứ mười “Các Điều khỏan chung”.

 

Cuộc đảo chánh quân sự ngày 1-11-1963, với sự trợ giúp của ngọai bang đă đưa đến cái chết thảm thương cho Cố Tổng thống Ngô Đinh Diệm, một nhà ái quốc, thiết tha với việc bảo vệ chủ quyền quốc gia, độc lập dân tộc (là một trong những nguyên nhân ông phải chết), nguời có công khai sáng nền Cộng Ḥa Việt Nam. Hiến pháp VNCH ngày 26-10-1956 bị hủy bỏ cùng với sự cáo chung nền Đệ nhất Việt Nam Cộng Ḥa.

 

Sau những năm triền miên bất ổn chính trị, xă hội xáo trộn do các phe phái chính trị, quân sự tranh giành quyền lực (1963-1967) bản Hiến pháp Đệ nhị VNCH đă được Quốc hội Lập Hiến thông qua ngày 18-3-1967 và đă được Tướng Nguyễn Văn Thiệu, trong tư cách Chủ tịch Ủy ban lănh đạo quốc gia ban hành ngày 1-4-1967. Cuộc bầu cử ngày 3-9-1967 đă đưa Tướng Nguyễn Văn Thiệu lên ngôi vị Tổng Thống VNCH, là vị Tổng Thống thứ hai của nền Đệ nhị cộng ḥa Việt Nam.

 

 

III - KẾT LUẬN

 

Tóm lại, như vậy là cuộc chiến đấu anh dũng của quân dân Miền Nam bảo vệ chế độ dân chủ pháp trị VNCH đă thất bại, song chỉ là thất bại tạm thời, có tính giai đọan. V́ sau đó và cho đến nay, cuộc chiến đấu chống chế độ cộng sản độc tài toàn trị để tái lập chế độ dân chủ cộng ḥa trên cả nuớc vẫn đang tiếp diễn. Đây là giai đọan chống cộng cuối cùng v́ dân chủ, cho nền cộng ḥa Việt Nam của nguời Việt quốc gia hay là nguời Việt Nam không cộng sản trong cũng như ngoài nuớc, phù hợp với khát vọng của toàn dân. Thực tế đă và đang ngày một khẳng định “chính nghĩa Cộng Ḥa” (Chủ quyền quốc gia thuộc về toàn dân) tất thắng “ngụy nghĩa Cộng sản” (Chủ quyền quốc gia thuộc về đảng CSVN).

 

Nhân dân Việt Nam nhất định sẽ thiết lập đuợc một chế độ dân chủ cộng ḥa trên toàn cơi Việt Nam trong một tương lai không xa, với một bản Hiến pháp Dân chủ Cộng ḥa, đáp ứng đúng nguyện vọng của nhân dân Việt Nam, từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu; như từng đuợc khẳng định trong “Lời Mở Đầu” của Hiến pháp VNCH tiên khởi ngày 26-10- 1956.

 

 

Thiện Ư

Houston, ngày 26 tháng 10 năm 2018

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính