Yêu quư hai chữ “Việt Nam”: Nhưng... “Việt Nam” nghĩa là ǵ?

  

 

1/ Không ít người bây giờ vẫn tưởng “Việt Nam” nghĩa là “nước Nam của người Việt”. Hoặc là, qua một số em sinh viên trẻ cho tôi biết ở trường giải thích: “Việt Nam” nghĩa là nước Việt nằm về phương Nam (so với Tàu). Mắc giống ǵ mà danh xưng một quốc gia lại đi lấy một quốc gia khác làm “hệ qui chiếu”? Coi đi, quốc gia của người Hàn nằm về phía đông nước Tàu, họ đâu giải thích nước họ là ... “Hàn Đông”.

 



Bản đồ nước Việt Nam sau khi hợp nhứt sơn hà vào năm 1802. Đặc biệt có “Thuận Thành trấn”, theo sắc lịnh của Hoàng đế Gia Long, là khu vực tự trị dành cho cộng đồng người Cham. Trên bản đồ c̣n có “Nam Bàn” (cao nguyên miền trung, bây giờ gọi là “Tây nguyên”) gồm một vài tiểu quốc, nổi bật nhứt là tiểu quốc J'rai. Vùng này măi qua đầu thế kỷ 20 mới chính thức thuộc về nước Việt do... công của người Pháp đưa quân đội lên tấn công rồi sáp nhập!

 

Ư nghĩa của hai chữ “Việt Nam” bấy lâu nay thường được diễn giải theo chủ quan của hậu thế, NHƯNG cho dù diễn giải vi diệu/hay ho/cao siêu tới đâu đi nữa th́ - xin nhấn mạnh - hăy nhớ rằng tên nước VIỆT NAM là do nhà Nguyễn đặt ra. Thành thử phải t́m hiểu nhà Nguyễn gọi vậy với ư nghĩa ǵ (chớ đừng nhét cách diễn giải của đời sau vào miệng tiền nhân)!


... Hệt như có một làn gió mát mẻ, hết sức khỏe khoắn sau khi tôi may mắn biết được ư nghĩa đích xác của tên nước “VIỆT NAM” khi Gia Long định danh.
“Việt” trong quốc danh “Việt Nam”, té ra không phải làm một với “Việt” trong quốc danh “Đại Việt” (mặc dù nh́n vô mặt chữ hệt nhau)!


Nói nào ngay, “Việt” đàng nào cũng có cái hay, nhưng lại không giống nhau.


2/ VIỆT NAM trở thành quốc danh chính thức, lần đầu tiên, là vào đời vua Gia Long, năm 1804.

 

2a) Ban đầu, năm 1802, vua Gia Long đặt tên nước là “Nam Việt” .

 

Nhưng nhà Thanh e ngại hai chữ (Nam Việt) lặp lại quốc danh “Nam Việt” mà Triệu Vơ Đế (Triệu Đà, năm 204 TCN - năm 137 TCN) đặt ra, bấy giờ lănh thổ không chỉ có Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam (đồng bằng sông Hồng cho tới Hà Tĩnh) mà bao trùm luôn Lưỡng Quảng (Quảng Đông, Quảng Tây).


2b) Để tránh sự e ngại từ nhà Thanh, vua Gia Long đă đổi “Nam Việt” thành VIỆT NAM.


Dầu “Nam Việt” hoặc “Việt Nam” cũng đều chung ư nghĩa. Trịnh Hoài Đức (1765-1825), sử gia nổi tiếng sống dưới thời vua Gia Long, có mặt trong đoàn sứ qua Tàu đàm phán với nhà Thanh, cho biết:

 

“Việt Nam là quốc danh thích hợp để chỉ một lănh thổ hợp nhứt giữa Đàng Trong với Đàng Ngoài”, “chúng ta (nhà Nguyễn) sở hữu đất của Việt Thường trước, và vùng An Nam được thêm vào sau đó”.


Hai chữ VIỆT NAM là sự kết hợp giữa VIỆT (THƯỜNG) với (AN) NAM.

3/ Việt Thường là xứ mô?

 

Theo những sách cổ xưa như “Hậu Hán thư”, “Thượng thư đại truyện”, “Tư trị thông giám cương mục” th́ nước Việt Thường nằm về phía nam Giao Chỉ.
Trong cuốn “Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập” th́ xác định tên gọi VIỆT THƯỜNG “là tên cổ của xứ Champa”!


Một nguồn khác cho biết cách gọi “Việt Thường” là để chỉ lănh thổ về phía nam của Giao Chỉ, bao gồm cả Phù Nam (sau này trở thành vùng Thủy Chân Lạp).


Khi Trịnh Hoài Đức viết “chúng ta sở hữu đất của Việt Thường trước”, là nhằm ghi nhận các bậc tiền nhân của vua Gia Long (là các Chúa Nguyễn) đă hùng cứ tại Đàng Trong (Champa, Thủy Chân Lạp). Sau đó Nguyễn Phước Ánh (vua Gia Long) đă “thêm vào vùng An Nam  “ là xứ lấy Thăng Long làm kinh đô (tức Đàng Ngoài).


4/ HĂNH DIỆN HAI CHỮ “VIỆT NAM”!


Trước đó, theo ḍng lịch sử qua các đời Lư, Trần, Lê... cho dù tự xưng quốc danh “Đại Việt” đi nữa, tuy nhiên nước Tàu không tôn trọng mà họ cứ gọi xứ sở (lấy Thăng Long làm kinh đô) là “An Nam” miết (và gọi các đời vua Lư, Trần, Hậu Lê đều là “An Nam quốc vương”)!


Đến đời Hoàng đế Gia Long, ban đầu triều đ́nh bên Tàu ép vẫn phải dùng quốc danh “An Nam”. Nhưng sứ giả của vua Gia Long không đồng ư.


Với quốc danh VIỆT NAM, quí bạn chú ư: Đây là LẦN ĐẦU TIÊN trong suốt lịch sử cả ngàn năm, Tàu đă phải từ bỏ cách gọi truyền kiếp “An Nam” đối với nước Việt chúng ta!


Đời nay chúng ta mỗi khi hănh diện về hai chữ “Việt Nam” th́ nên nhớ tới cái danh xưng đó do Hoàng đế Gia Long đặt ra. Đừng uống nước mà quên luôn cái nguồn quốc danh đó từ đâu, đừng bị nhiễm thói ăn cháo đá bát.


5/ THAY LỜI KẾT


“Việt”  dùng để chỉ Việt tộc.

C̣n “Việt”  tuy cùng mặt chữ nhưng được lấy từ trong danh từ kép “Việt Thường” (định danh về địa lư).


Ghép chữ “Việt” (trong “Việt Thường”) với “Nam” (trong “An Nam”) thành quốc danh VIỆT NAM, là sự ghi nhận đàng hoàng về nguồn gốc của từng vùng lănh thổ!


Qua đó, vua Gia Long cho thấy niềm hănh diện trước việc hợp nhứt Đàng Trong với Đàng Ngoài. Lănh thổ nước ta LẦN ĐẦU TIÊN trải rộng từ bắc chí nam, theo đường cái quan đi từ Quảng Ninh cho tới mũi Cà Mau thành đường cong chữ S.


Tắt một lời, VIỆT NAM là quốc danh mang ư nghĩa về SỰ HỢP NHỨT LĂNH THỔ.


Ư nghĩa nêu trên của hai chữ VIỆT NAM, thiệt hay hết sức, độc đáo hết sức trong tinh thần đoàn kết các cộng đồng dân tộc ./.

 

------------------------------------------------------------------------------
(*) Một số nguồn tài liệu cho rằng hai chữ “Việt Nam” đă từng xuất hiện trong thư tịch xưa kia... XIN CHÚ Ư: “VIỆT NAM” trở thành QUỐC DANH (tên nước) th́ chỉ bắt đầu vào đời Hoàng đế Gia Long mà thôi.

 

Mặt khác, ư nghĩa của quốc danh "VIỆT NAM" phải dựa trên cách giải thích từ Nhà Nguyễn (là triều đại đă đặt ra quốc danh này), như trong bài đă dẫn ra, mang ư nghĩa về SỰ HỢP NHỨT LĂNH THỔ.

 

* H́nh ảnh (phía trên): Bản đồ nước Việt Nam sau khi thống nhứt sơn hà vào năm 1802, để ư có "Thuận Thành trấn", theo sắc lịnh của vua Gia Long, là khu vực tự trị dành cho cộng đồng người Cham; có "Nam Bàn" (cao nguyên miền trung, bây giờ gọi là "Tây nguyên") gồm một vài tiểu quốc, nổi bật nhứt là tiểu quốc J'rai, họ chịu sự bảo trợ của nhà Nguyễn, nơi đây ngược ḍng lịch sử xa xưa cũng thuộc Champa;

 

 

* H́nh ảnh: Lăng vua Gia Long.

 

Theo Nguyễn- Chương Mt

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính