Thân phận vợ của một tù "cải tạo"

 

Thanh Minh

 

 

1. DUYÊN PHẬN:

 

Tôi sanh năm 1929 tại huyện Băi Xàu, tỉnh Sóc Trăng, Miền Nam Việt Nam.

 

Ba tôi làm công chức tại Ty Bưu Điện của huyện lÿ Băi Xàu. Thuở đó, dân ta quen gọi chức vụ của ba tôi là “thầy thông Nhà dây thép”. Ba má tôi sanh được sáu đứa con. Tôi là gái thứ hai, nhưng dân Miền nam quen gọi là “thứ ba”. Tôi theo học Trường Sơ học Băi Xàu. Thời ḱ đó, nước Việt Nam c̣n là thuộc địa của Pháp và hầu hết các môn học đều giảng dạy bằng tiếng Pháp.

 

Năm 1941, sau khi đậu bằng Sơ học (Certificat d’études primaires), tôi đi Sài G̣n dự thi vào “Collège des jeunes filles indigènes”. Về sau trường nầy được đổi tên là Trường Trung Học Gia Long. Thời may, tôi thi đậu. Thêm một điều may nữa  là sau đó ba tôi được điều động lên làm việc tại Sở Bưu điện Sài G̣n. Thế là, cả gia đ́nh chúng tôi dọn lên cư trú tại thành phố Sài G̣n.

 

Lúc tôi 16 tuổi, một bước ngoặt đau buồn ập đến cuộc đời của tôi. Ba tôi qua đời v́ bịnh lao phổi. Trước khi nhắm mắt, ba tôi xin người chị ruột của ba tôi, mà tôi gọi là cô Sáu, đem tôi về nuôi, để có thể tiếp tục việc học hành, lư do là gia đ́nh chúng tôi rất nghèo. Số là, cô tôi có một người con trai duy nhứt, lúc đó là chủ một hăng kem đánh răng lớn ở Sài G̣n. Đó là Hăng kem Perlon, đối diện chợ An Đông, đường An Dương Vương, quận 5, Sài G̣n. Ông Huỳnh Văn Xin, Tổng Giám đốc hăng, chính là anh họ của tôi. Người Miền Nam gọi là “anh cô cậu”, tức là tôi gọi má của anh Xin là “cô”, và anh Xin gọi ba tôi là “cậu”.

 

Tôi xin nghỉ học và vô làm việc trong văn pḥng hăng Perlon. Tôi vừa là nhân viên của hăng, vừa là thân quyến của chủ hăng, cho nên được mọi công nhân trong hăng nể v́. Tôi phụ trách giữ sổ sách xuất nhập kho nguyên liệu và sản phẩm hoàn thành.

 

Một thời gian sau, hăng tuyển một nhân viên mới với nhiệm vụ là kế toán trưởng (chef comptable). Anh nầy tên là Thạch, 21 tuổi, lớn hơn tôi 5 tuổi, có dáng dấp như một thư sinh, tánh t́nh hiền lành, khép kín. Chúng tôi làm chung gần ba năm. Sau đó, chúng tôi đă kết hôn, với sự đồng ư của hai bên gia đ́nh đàng trai và đàng gái.

 

Theo quan niệm duy tâm, qua câu nói: “Hữu duyên thiên lư năng tương ngộ”, có phải chăng, anh Thạch và tôi đă có duyên nợ từ kiếp trước? Tôi chỉ biết là, trước kia tôi vốn là một cô gái đồng quê, ở một tỉnh lẻ hẻo lánh, khỉ ho c̣ gáy. Nếu tôi không có “số” di cư lên Sài G̣n hoa lệ, th́ làm sao mà tôi gặp được anh Thạch, một cư dân của Sài G̣n, chưa hề bước chân đến tỉnh lẻ, quê hương của tôi?

 

Sau ngày kết hôn, tôi về làm dâu nhà anh Thạch, ở Tân Định, quận 1, Sài G̣n. Một thời gian sau, chúng tôi ra riêng, thuê lại một tiệm tạp hóa có hiệu là “Vũ Lai”, đường Paul Blanchy (nay là đường Hai Bà Trưng) đối diện chợ Tân Định, thành phố Sài G̣n. Nhờ thuận vợ thuận chồng và chí thú làm ăn, đầu năm 1952, chúng tôi tậu được một căn phố tại đường Lê Quang Định, gần chợ Bà Chiểu, Gia Định. Nhờ có điều kiện thuận lợi, tôi đem hai đứa em của tôi, một gái và một trai, về ở chung, nuôi chúng nó ăn học. Lúc đó, ba chị em chúng tôi đều mồ côi, cả cha lẫn mẹ.

 

Lúc đầu chúng tôi buôn bán nhỏ, chỉ mong kiếm sống, độ nhựt qua ngày. Về sau nhờ tích lũy vốn liếng và phát triển cơ sở, chúng tôi nhập cảng dây đàn Argentine từ nước Pháp, phân phối độc quyền trên lănh thổ Đông Pháp (Indochine Francaise), gồm cả ba nước Việt Nam, Cao Miên và Lào.

 

Đang làm ăn trôi chảy, tháng 12 năm 1952, chồng tôi được lịnh động viên vào Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, khóa 2. Chúng tôi đành phải chấm dứt việc kinh doanh, đóng cửa tiệm tạp hóa và ngưng nhập cảng dây đàn. Sau 22 năm phục vụ trong quân đội, năm 1974 đến tuổi hưu, chồng tôi được giải ngũ, với cấp bực “Trung Tá Trừ Bị”. Theo qui chế của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa thời đó, nếu là trung tá, tuổi trên 49, mà chưa thăng cấp đại tá, đương nhiên phải giải ngũ. Tiện dịp, hăng kem Perlon của anh tôi đang cần nhân viên, chồng tôi trở lại làm việc tại hăng này. Làm được khoảng một năm th́ xảy ra biến cố 30-4-1975.

 

 

2. LÀM ĐƠN XIN ở TÙ:

 

Lúc ấy, tuy chồng tôi là thường dân 100%, nhưng gốc là nhà binh chánh hiệu. Cho nên chồng tôi rất lo âu. Cuối tháng 5 năm 1975, Việt Cộng ra thông cáo kêu gọi “sĩ quan ngụy” phải đi “tŕnh diện đăng kư”. Ngày 11-6-1975, báo “Sài G̣n Giải Phóng” số 31 đăng thông cáo, qui định tất cả “sĩ quan ngụy” phải tŕnh diện đi “học tập cải tạo”.  Bảng “Hướng dẫn cho sĩ quan đi học tập trung” đăng trên báo, nguyên văn như sau:

 

“Mỗi người đến địa điểm học tập cải tạo phải mang theo:

- 1 tháng ăn bằng tiền, mỗi ngày: 300đ x 30ngày = 9.000 đồng.

- 1 ngày 0,7kg gạo, mỗi kí lô bằng: 220đ x 21 kí = 4.600 đồng.

Tổng cộng bằng = 13,610 đồng.

- Ngày tập trung đầu tiên, từng người phải mang theo thực phẩm khô để ăn ngày hôm đó, ngày thứ hai nhà thầu phục vụ cơm nước.”

 

Hầu hết mọi người đều tin là chỉ phải đi “học” 30 ngày mà thôi và đinh ninh, khi “măn khóa” sẽ được trở về làm ăn với tư cách là một “công dân chân chính”, theo lời hứa của tập đoàn Việt Cộng gian xảo và tráo trở.

 

Chồng tôi đưa đơn lên Ban giám đốc Hăng kem Perlon, xin tạm nghỉ việc một tháng, để đi “học tập cải tạo” theo lịnh của Cộng Sản Việt Nam.

 

Kết quả thảm thương là phần đông sĩ quan quân đội Miền Nam đều bị sập vào cái bẩy do bọn mafia Việt Cộng đă dụng ư ngụy trang với lời lẽ đường mật, gọi là “chính sách khoan hồng”, để tóm gọn những người mà trong thâm tâm họ xem như là kẻ thù không đội trời chung của chúng.

 

 

3. GIảI NGŨ RỒI VẪN BỊ ĐI TÙ

 

Sau ngày chồng tôi đi tŕnh diện “đi học” tại trường Trung Học Don Bosco, quận G̣ Vấp, Gia Định được khoảng hai tuần th́ nhựt báo “Sài G̣n Giải Phóng” đăng thông cáo bổ túc, cho biết những sĩ quan chế độ cũ, nếu đă giải ngũ trước ngày 30-4-1975 th́ được miễn tŕnh diện đi “học tập cải tạo” mà chỉ đi “học tập tại chỗ” trong ṿng một tuần (?) mà thôi.

 

Tôi mừng quá, đến trường Don Bosco, G̣ Vấp, xin gặp chồng tôi, nói anh ấy cầm tờ báo, đến văn pḥng thủ trưởng, xin được trở về nhà, để theo khóa học tại địa phương. Tôi có đem theo tờ “chứng chỉ giải ngũ” của chồng tôi để làm bằng chứng là chồng tôi đă giải ngũ ngày 31-3-1974, tức là trước ngày 30-4-1975 trên 1 năm.

 

Tên cán bộ cầm tờ báo vào tŕnh thủ trưởng của y. Một chập sau, anh ta trở ra, phán một câu “xanh dờn”: “Lănh đạo nói, tŕnh diện học tập là tốt, lỡ đi rồi th́ nên đi luôn, cho thông suốt chính sách nhà nước. Trước sau ǵ cũng sẽ được ra trại mà.” Tôi nghe nói, bủn rủn tay chân. Hy vọng chồng được tha cho về nhà bổng chốc tan tành như mây khói”.

 

 

4. KHÔNG MẤT NHÀ NHỜ TẤM L̉NG NHÂN ÁI

 

Trong thời gian chồng tôi ở tù, ở nhà hai mẹ con tôi sống thui thủi. Con của chúng tôi lúc đó được 11 tuổi. Nhà ba từng lầu, rộng thênh thang khiến tôi cảm thấy cô đơn và lo sợ đủ chuyện.

 

Đứa em trai kế của tôi, tên Huỳnh Tương Đương, đại úy binh chủng Thiết Giáp cũng đă đi tù “cải tạo” như chồng tôi. Gia đ́nh cậu em nầy gồm hai vợ chồng và tám đứa con, trong suốt thời gian tại ngũ, v́ chưa có tiền tậu nhà riêng, nên phải cư trú tại các trại gia binh. Sau ngày 30-4-1975, họa vô đơn chí, vợ của Đương bị bạo bịnh và qua đời. V́ không có nhà cửa cố định, nên tám đứa con sống lây lất tại một gian nhà cất dựng tạm bợ trên lề đường tại Đồng Ông cộ, quận B́nh Thạnh, Gia Định.

 

Nghĩ t́nh ruột thịt, tôi đem tám đứa cháu, gọi tôi bằng cô, mồ côi mẹ trong lúc cha th́ đi tù, về cho tá túc tại nhà tôi. Tôi nào có biết trước được là, về sau tôi gặp một điều may hiếm có trên đời. Điều may đó là: Trong chiến dịch Việt Cộng “cướp” nhà của những nhà tư sản Miền Nam, tôi đă thoát nạn trong đường tơ kẻ tóc. Bọn cán bộ địa phương đến đo diện tích tất cả nhà tư nhân “ngụy” trong phường khóm. Luật lệ của chúng là: Nếu diện tích lớn hơn tiêu chuẩn ấn định so với số người trong “hộ khẩu” (tờ khai gia đ́nh) th́ Việt Cộng sẽ áp dụng hai biện pháp như sau: Một là Việt Cộng sẽ ghép cho cán bộ Cộng Sản vào ở chung nhà với ḿnh. Hai là, chúng sẽ tịch thu nhà của ḿnh và cấp cho một căn nhà khác nhỏ hơn. Hú hồn! Nhờ số người trong nhà tôi tăng từ hai lên mười người, cho nên nhà tôi không bị Việt Cộng tịch thu.

 

 

5. KHÔNG MẤT NHÀ NHỜ KHÔNG PHảI LÀ TƯ SảN

 

Nhà tôi ở mặt tiền đường Lê Quang Định, Gia Định. Vào thời điểm 30-4-1975, chúng tôi đang khai thác một tiệm tạp hóa ngay tại nhà. Sau ngày Miền Nam lọt vào tay Cộng Sản, thị trường thương măi tại Sài G̣n bị tê liệt. Sài G̣n có một bộ mặt tiêu điều, quang cảnh gây cảm giác hoang tàn, trông giống như một thành phố “chết”. Các cơ sở thương măi của tư doanh (nhà xuất nhập cảng, ngân hàng, nhà hàng, khách sạn, rạp hát, tiệm buôn...) đóng cửa im ĺm. V́ ảnh hưởng dây chuyền, các tiểu thương như chúng tôi cũng bị vạ lây. Hàng mua vô không có, lấy ǵ để bán? Mỗi ngày mở cửa hàng suốt ngày ngồi “ngáp ruồi” sao?

 

Tôi đến phường xin trả môn bài, để đóng cửa tiệm một cách chánh thức, hợp lệ và hợp pháp. Phường không chấp thuận nhưng không nêu lư do và bảo phải tiếp tục mở cửa tiệm buôn bán b́nh thường. Sao kỳ vậy? Quyết định vô lư nầy khiến tôi thắc mắc, không hiểu nổi thâm ư của Cộng Sản. Tôi nghĩ, thông thường, việc xin môn bài buôn bán là chuyện khó, v́ phải có một số điều kiện. Trái lại, việc nghỉ bán, đóng cửa tiệm là quyền của thương gia.

 

Tuy cán bộ phường không chấp nhận trả môn bài, tôi nhứt quyết dẹp tiệm. Qua ngày hôm sau, tôi đóng cửa tiệm. Về hàng hóa c̣n tồn động, tôi dự trử để xài lần hồi. Cả tủ kệ dùng để chưng hàng hóa, một phần đem cho bà con lối xóm, một phần đem vô nhà kho cho khuất mắt bọn cán bộ phường. Phía trước th́ trang trí lại, có xa lông tiếp khách, có bàn ăn. Độ một tháng sau, Cộng sản phát động chiến dịch “đánh tư sản”. Các tiệm buôn lớn nhỏ đều bị liệt kê vào danh sách “tư sản mại bản”. Chủ nhân và cả gia đ́nh được lịnh phải ra đi và nạp nhà lại cho phường “quản lư”. Ai không chấp hành lịnh sẽ bị bắt giam như kẻ tù tội. Trong lúc đó, nhà của chúng tôi được xem như nhà ở, không thuộc diện tự sản, nên không hề hấn ǵ.

 

Cũng cần nói thêm, dưới chế độ cộng sản, tất cả các h́nh thức hoạt động kinh tế và thương măi đều do Nhà nước điều khiển và quản trị. Đó là chánh sách “kinh tế chỉ huy” của cộng sản. Nói cách khác, các nhà tư sản hoạt động trong nền “kinh tế thị trường” (tức là thị trường tự do của các nước tư bản) là kẻ thù mà cộng sản phải tiêu diệt.

 

Tại khu phố chúng tôi gần chợ Bà Chiểu, vài đại thương gia có tiếng tăm là nạn nhân của chiến dịch “đánh tư sản”. Toàn bộ gia đ́nh của những nhà tư sản đều bị trục xuất ra khỏi nhà:

 

1/ Ông Tám Yến, chủ nhân một tiệm cầm đồ (vàng, nữ trang).

2/ Ông Lê Văn năm, chủ tiệm Mỹ Hương, bán loại thực phẩm cao cấp.

3/ Ông bà chủ tiệm MIMI, hành nghề uốn tóc.

 

Tại thành phố Sài G̣n, hầu hết các nhà tỉ phú đều bị “cướp” tài sản và họ phải bỏ chạy ra hải ngoại. Xin kể vài vị tiểu biểu:

 

1/ Ông Huỳnh Văn Xin, giám đốc hăng kem Perlon.

2/ Ông Nguyễn Tấn Đời, giám đốc Tín Nghĩa Ngân Hàng.

3/ Ông Nguyễn Hùng Trương, chủ nhà sách và nhà xuất bản Khai Trí.

 

Lúc đó, tôi mới vỡ lẽ, hiểu rơ lư do mà trước kia đơn xin trả môn bài của tôi không được cộng sản chấp thuận.

 

 

6. BÁN ĐỒ GIA DỤNG ĐỂ SANH TỒN

 

Lúc c̣n trẻ, tôi thường nghe ông bà khuyên bảo: “ở không hoài, ăn măi th́ núi cũng lỡ”. Từ ngày Việt Cộng cướp Miền Nam, tôi thấp thỏm lo âu. Chồng tôi đă đi tù c̣n tôi th́ không có nghề ngỗng ǵ hết. Buôn bán th́ bị cấm đoán, bây giờ phải làm ǵ để sống đây? Cũng như hầu hết bà con lối xóm, tôi đành bóp bụng, đem đồ đạc trong nhà, thứ ǵ bán được, lần hồi bán đi, để kiếm chén cơm. Chén bát, son chảo, ḷ ga, tủ lạnh, đồng hồ đeo tay, đồ nữ trang... từ từ đội nón ra đi. Vừa bán vừa cảm thấy xót xa, đau đớn, thương tiếc mấy thứ tư trang mà trước kia ḿnh đă nưng niu, giữ ǵn với một t́nh cảm yêu quí.

 

 

7. LUẬT RỪNG

 

Năm 1955, lúc làm ăn buôn bán, chúng tôi có sắm một chiếc xe hơi cũ, kiểu du lịch (từ ngữ Miền Bắc gọi là xe con) hiệu volkswagen, để làm phương tiện đi chuyển và chở hàng hóa. Nhờ nhà rộng răi, gồm ba căn phố, chúng tôi dành riêng phần diện tích phía trước của một căn, làm ga-ra, cất chiếc xe vào nhà.

 

Thời kỳ đó, nước ta c̣n nghèo, rất ít người sắm xe hơi, cho nên những ông chủ địa ốc, xây cất nhà cho thuê, không hề dự trù diện tích riêng cho xe hơi (parking).

 

Sau ngày 30-4-1975, công an khu vực của phường đi kiểm tra từng nhà để làm "hộ khẩu" (sổ gia đ́nh), thấy vài ba người ở xóm tôi có để xe hơi trong nhà. Bọn chúng phán ngay một chỉ thị trong “bộ luật rừng” của chúng: “Nhân dân hiện nay, nhiều người không có nhà ở, thế mà “chị” lại để xe trong nhà. Tất cả xe ô-tô của tư nhân phải đem lên phường giao lại cho nhà nước quản lư. Kỳ hạn vài hôm, cá nhân nào không thi hành, phường sẽ cho người đến tịch thu”.

 

Bà con lối xóm có xe hơi phản ứng mỗi người một cách để đối phó với “luật rừng” của cộng sản. Có hai vị chủ xe t́nh nguyện xin vào làm việc tại phường với nhiệm vụ là tài xế cho hợp tác xă và cho phường mượn luôn chiếc xe của ḿnh. Phường thấy có lợi nên ưng thuận. Một vị khác đem xe gời thân quyến đă đi theo “cách mạng” (tức cộng sản) giữ giùm. Một vị có sáng kiến rất độc đáo. Ông ấy đội xe lên, tháo gỡ bốn bánh xe và luôn cả b́nh điện, đem đi gởi nhà bà con ở nơi khác. Cán Bộ đến khám nhà, thấy xe không sử dụng được, đành phải bỏ đi. Riêng tôi, phận đàn bà thua kém, không biết ứng phó cách nào cho thích đáng, đành phải nhờ người giới thiệu, đem bán rẻ cho một anh cán bộ. Thà không có xe đi mà có một ít tiền xài, chớ dại ǵ đem giao cho phường quản lư, kể như mất toi luôn.

 

 

8. ĐAN MÂY TRE TẠI NHÀ

 

Trong chánh sách cai trị của Việt Cộng, họ luôn luôn chủ trương thể thức sản xuất tập thể. Tất cả người dân làm bất cứ ngành nghề lớn nhỏ ǵ cũng phải vào nghiệp đoàn. Mục tiêu của họ là kiểm soát lợi tức (từ cộng sản gọi là thu nhập) của từng người dân. ở nông thôn, làm vườn, làm ruộng phải vào tập thể. ở thành thị, làm nghề hớt tóc, chạy xe ôm cũng phải vào nghiệp đoàn. Cộng sản muốn nắm hầu bao của mọi người. Nói nôm na là, cộng sản không muốn cho người dân giàu lên để trở thành nhà tư bản. Đây là chánh sách bần cùng hóa nhân dân của cộng sản Việt Nam. Dân càng nghèo th́ cộng sản càng dễ dàng xỏ mũi và sai khiến.

 

Với chủ trương sản xuất tập thể nói trên, phường tại địa phương tôi thành lập một “tổ hợp sản xuất mây tre” và bắt buộc tất cả vợ của sĩ quan bị bắt đi tù phải gia nhập vào tổ hợp nầy. Trong xóm, tôi là người tương đối khá giả, có nhà rộng răi mà ít người ở, cho nên phường cho cán bộ đến gặp tôi, nói là “tạm mượn mặt bằng” để cho chị em người dân thấp cổ bé miệng, khó mà từ chối. Với lại, ḿnh giúp cho phường mượn địa điểm, biết đâu chừng sau nầy, ḿnh có cần việc ǵ, họ có thể dễ dăi với ḿnh chăng. Do đó, bất đắc dĩ, tôi phải ưng thuận.

 

Sau đó, phường lo tất cả mọi việc, cho người đi mua mây tre tại các vùng quê như là Bà Điểm, Hóc Môn, đem về dự trử tại nhà tôi, cho cán bộ chuyên nghiệp đến huấn luyện chị em trong tổ hợp cách thức đan giỏ. Phường cũng tự lo đem đi bán hàng hóa sản xuất được. Cuối cùng, họ đem tiền phân phát trả công cho chị em, tùy theo số lượng sản xuất của từng người. Họ ban phát bao nhiêu th́ nhận bấy nhiêu, chứ không ai dám hỏi t́nh h́nh chi thu ra sao. Tôi nghĩ, đây là một sự bốc lột sức lao động tinh vi của chế độ cộng sản.

 

 

9. ÁP LỰC ĐI VÙNG KINH TẾ MỚI

 

Một thời gian sau, có lịnh bắt buộc “dân ngụy” đi các “vùng kinh tế mới”. Tức là đi khai phá các vùng đất hoang vu trở thành đất đai sử dụng được vào sản xuất để phát triển đất nước. Đây là một mánh khóe của Việt Cộng để diệt tư sản. Một mũi tên nhắm vào hai mục tiêu. Một là đuổi “ngụy” ra khỏi thành phố để tịch thu nhà cửa, hai là để đày đọa và bần cùng hóa dân Miền Nam, mà Việt Cộng cho là kẻ thù truyền kiếp của bọn chúng.

 

Công an khu vực đến từng nhà khuyến dụ: “Vợ sĩ quan nào có chồng đă đi “cải tạo” nay nếu tự nguyện đi “kinh tế mới” th́ “cách mạng” sẽ thả chồng về. Tôi liều mạng trả lời: “Thả chồng tôi về th́ tôi sẽ đi liền. Tôi ốm yếu như vầy, đang ở với thằng con 11 tuổi, nay đi “kinh tế mới” làm được việc ǵ để sống đây?” Kết quả là số đông trong phường không hưởng ứng lời kêu gọi của cán bộ. Thấy sự việc rỉ tai khó thuyết phục, phường ra thông báo, bắt buộc tất cả vợ sĩ quan “ngụy” phải lên phường họp để “đăng kư” đi vùng kinh tế mới. Vợ sĩ quan, ai cũng ngán và sợ cộng sản, nên tất cả đều đi họp rồi tùy cơ ứng biến, chớ không ai dám ở nhà.

 

Tại pḥng họp, tên đại úy công an chủ tọa tŕnh bài mục đích “tốt đẹp” của "vùng kinh tế mớ"i và yêu cầu, gần như bắt buộc, mọi người phải lên bàn chủ tọa, kư tên vào mẫu giấy để sẵn trên bàn là đồng ư đi “kinh tế mới” th́ nhà nước sẽ cứu xét thả chồng về ngay. Tên công an nhấn mạnh thêm: “Nhà nước nói ǵ, nhân dân phải thi hành, không được trả giá”. Ư muốn nói là nhân dân không được đặt điều kiện. Một số vợ sĩ quan nghe nói ngọt, cả tin vào lời đường mật của Việt Cộng, lần lượt đi lên bàn của tên chủ tọa, kư tên đồng ư đi.

 

Riêng tôi, không hiểu sao tôi dám liều lĩnh, rủ vài chị bạn cùng xóm, chẳng những không lên kư tên mà c̣n lặng lẽ bỏ ra về. Mấy tên công an, gác cửa pḥng họp, chận lại và hỏi: “Mấy chị kư tên chưa mà ra về vậy?

 

“ Tôi dứt khoát trả lời: “Thả chồng tôi về tới nhà th́ tôi sẽ đi ngay”. Tôi vừa nói vừa kéo tay mấy chị bạn rảo bước đi nhanh. Bọn công an giữ trật tự nh́n chúng tôi, không phản ứng. Tôi nghĩ bụng, nếu ḿnh cứng cỏi th́ họ để yên, bằng không nếu ḿnh yếu thế th́ họ sẽ lấn tới.

 

Kết cuộc, một số đông gia đ́nh đi kinh tế mới, sống lầm than nhiều năm tháng mà người chồng gia trưởng vẫn biệt tăm biệt tích. Trong lúc đó, nhà của ḿnh bị Việt Cộng tịch thu và cấp cho cán bộ đến cư trú. Đây là một cú lừa ngoạn mục mà Việt Cộng đă thành công “vượt chỉ tiêu”, sau khi đă tóm gọn hầu hết sĩ quan “ngụy” vào cái rọ cải tạo.

 

 

10. EM TÔI ở PHÁP

 

Khi mới đi tù, chồng tôi bị giam tại trại Long Giao, tỉnh Long Khánh. Nửa năm sau, được chuyển về trại Tân Hiệp (cũng gọi là Suối Máu), tỉnh Biên Ḥa. Sau đó, được chuyển ra Bắc Việt, lần lượt giam tại hai trại Hoàng Liên Sơn và Vĩnh Phú.

 

Ngày vô tù th́ có, trái lại ngày măn tù th́ mù tịt. Trong những tháng năm chồng tôi ở tù, tinh thần tôi suy sụp trầm trọng, ngày đêm chỉ biết vái van, cầu Trời, khẩn Phật cho chồng tôi sớm được ra tù.

 

Trong lúc tinh thần sa sút, tôi được thơ của cậu em trai, Huỳnh Sĩ Nguyên, định cư tại Pháp từ năm 1976, đang giữ chức vụ Chánh văn pḥng của Tổng trưởng Thông tin trong chánh phủ Pháp. Em tôi khuyên tôi nên gởi giấy tờ hộ tịch của tôi và đứa con, để làm thủ tục bảo lănh qua Pháp. Cậu em lư luận: “Anh Ba (tức chồng tôi) ở tù cộng sản, ḿnh đâu có biết ngày nào được thả, với lại chị làm sao sống nổi với tụi cộng sản được! Tụi nó toàn xài luật rừng” Tôi viết thơ hồi âm, từ chối ngay, không chút lưỡng lự. Tôi nghĩ, chồng ḿnh đang bị hoạn nạn, ḿnh nỡ ḷng nào mưu t́m sự sung sướng cho riêng ḿnh.

 

 

11. MỘT MỐI T̀NH ĐƠN PHƯƠNG

 

Năm 1979, lúc chồng tôi ở tù được bốn năm, một hôm, anh Thành, một người bạn học ngày xưa cùng trường tiểu học ở Sóc Trăng, đến nhà tôi cho biết một tin, làm tôi hết sức sững sờ. Số là, hồi tôi c̣n ở tuổi học tṛ ở quê nhà, có anh bạn học cùng lớp, tên Nhẫn, đă thầm yêu tôi nhưng chỉ giữ kín trong ḷng. Sau biến cố năm 1945, Nhẫn đi theo kháng chiến chống Pháp, nay mang quân hàm Thiếu tá Việt Cộng và đang phục vụ tại Sóc Trăng. Nay, sau trên 30 năm mất liên lạc, Nhẫn đă nhờ Thành, đang cư trú tại Sài G̣n, thăm ḍ xem t́nh trạng gia cảnh của tôi để thực hiện mối t́nh đơn phương năm xưa mà Nhẫn vẫn c̣n ôm ấp trong ḷng.

 

Hôm đó, sau khi nghe Thành tŕnh bày mục đích của cuộc gặp gỡ, không chút lưỡng lự, tôi trả lời ngay: “Thành về nói lại với Nhẫn là anh ấy nên kiếm vợ, làm ăn với người ta. C̣n tôi th́ nay đă có chồng con. Chồng tôi đang ngồi tù tận ngoài Bắc và tôi đang chuẩn bị đi thăm nuôi đây. Tối với Nhẫn chẳng có duyên nợ ǵ hết, xin đừng trông mong hảo huyền nữa”.

 

Trong thâm tâm, tôi đă có một ư nghĩ dứt khoát. Vợ chồng tôi đă ăn ở với nhau ba chục năm nay, t́nh nghĩa thắm thiết. Vừa rồi, em ruột tôi tự nguyện bảo lănh tôi đi Pháp, tôi đă từ chối. Nay, làm sao tôi có thể chia tay với một người chồng đă từng sóng chung rất đầm ấm để đi lấy chồng khác. Theo truyền thống gia giáo từ ngàn xưa, con gái Việt phải chính chuyên, một ḷng chung thủy, một chồng một vợ mà thôi.

 

 

12. SUƯT BỊ LƯỜNG GẠT

 

Sau khi chồng tôi được chuyển ra các trại giam ở Bắc Việt khoảng bốn năm, một hôm có một phụ nữ Miền Bắc đến nhà tôi, tự giới thiệu y là một cán bộ đang phục vụ tại trại cải tạo Vĩnh Phú, nơi chồng tôi đang “học tập”. Y nói tiếp là, chồng tôi nhờ y thị, nếu có đi công tác vào thành phố Hồ Chí Minh th́ giúp giùm đến nhà tôi, bảo tôi gởi ra anh ấy một cái đồng hồ đeo tay, một vài bộ quần áo ấm, và chút ít tiền, tùy theo khả năng. Y nói thêm, nếu có sẵn th́ tốt, bằng không th́ cho biết hôm nào có, cô ta sẽ trở lại nhận để đem ra Bắc giao lại cho chồng tôi.

 

Tôi nghĩ, đúng cô ta là cán bộ phục vụ tại trại mà chồng tôi đang bị giam cho nên mới biết rơ tên họ và địa chỉ của chồng tôi ở Sài G̣n. Tuy nhiên, tôi vẫn bán tín bán nghi. Có thật chồng tôi có nhờ vả cô ta điều mà cô tŕnh bày không? Điểm nầy đáng nghi ngờ. Rất may, tôi chợt nhớ lại, xưa kia, trong thời gian chồng tôi vào quân đội, phục vụ ở xa nhà, chồng tôi thường dặn ḍ: “Nếu anh có cần ǵ th́ anh viết thơ đàng hoàng. Em phải cẩn thận, xem tuồng chữ và chữ kư. Để đề pḥng những người lạm dụng ḷng tin, làm những việc không tốt”. Nhờ vậy, tôi từ chối khéo: “Chồng tôi có viết cho tôi một lá thơ nào không?” Cô cán bộ sừng sộ, nói như gây gổ: “Chị không tin tôi là cán bộ tại trại mà anh ấy đang học tập sao?” Tôi điềm đạm đáp: “Tôi tin cô, nhưng tôi cần có vài gịng chữ của chồng tôi để làm bằng cớ”.

 

Cô cán bộ phân bua om ṣm, lối xóm ra xem rất đông. Tôi vẫn giữ lập trường, im lặng, không trả lời. Một chập sau, cô ta bẻn lẻn bỏ đi.

 

Về sau, được biết lối xóm ở phường tôi, có vài người, có con đi “cải tạo” ở Bắc, đă bị cán bộ đến nhà lừa đảo, tương tợ như cô cán bộ đến gặp tôi.

 

 

13. ĐI THĂM NUÔI

 

Cuối năm 1979, trong lúc chồng tôi đang bị giam tại trại Vĩnh Phú, Bắc Việt, tôi “được phép làm đơn” xin thăm nuôi. Làm đơn xin thăm nuôi, phải chờ có thông báo, không phải lúc nào muốn nộp đơn là được chấp nhận. Ngày nhận được giấy phép cho đi thăm nuôi, tôi quá đổi vui mừng. Nhưng vừa mừng lại vừa lo. Lúc đó, trong nhà đâu c̣n tiền. Mấy năm vừa qua, tôi đă bán sạch bách tất cả của nổi, tức là đồ đạc và tư trang trong nhà để sống tới nay. May quá, chúng tôi một ít của ch́m. tức là chúng tôi đang là sở hữu chủ ba căn phố. Tôi đành bấm vụng, bán bớt một căn cho người hàng xóm, để có tiền đi thăm nuôi.

 

Tôi đi với đứa con trai và rủ hai chị bạn lối xóm cùng đi. Hai chị nầy có chồng ở tù cùng một trại với chồng tôi. Đi xe lửa xuyên Việt từ Sài G̣n ra Hà Nội mất hết ba ngày hai đêm. Xe lửa chật như nêm, tôi phải ngủ ngồi trên chiếc băng gổ, c̣n thằng con th́ trải bạ, nằm ngủ trên sàn xe. Con tôi, năm đó 15 tuổi, mua vé loại giảm giá cho trẻ em. Khi lên xe, tên công an giữ an ninh, thấy vóc dáng con tôi cao lớn, hỏi con tôi mấy tuổi. Tôi nói, nó 15 tuổi. Tên nầy nghĩ rằng, tôi khai gian tuổi để mua vé giá rẻ dành cho trẻ em. Anh ta sừng sộ, bảo tŕnh “chứng minh nhân dân” để kiểm chứng.

 

Đến Hà Nội lúc chiều tối, chúng tôi thuê pḥng trọ, ngủ một đêm. Sáng hôm sau, tôi đi chợ mua bánh chưng và trái cây tươi, để phụ thêm thực phẩm đem từ Sài G̣n như sữa hộp, cá chà bông, mấm ruốc xào, muối đậu phộng...

 

Lạ nước lạ cái, không biết chợ búa ở đâu, chúng tôi gọi xe xích lô chở đi. Chú xa phu chở tôi và đứa con, nói một hơi, làm cho tôi ngạc nhiên. Anh ấy nói: “Tôi thấy mấy bà, biết ngay là người Sài G̣n ra đây để thăm mấy ông đi “cải tạo”. ở trong đó, sao mấy ông dở quá? Tụi nầy ở Bắc trông mong mấy ông ấy ra giải phóng Bắc Việt. Thế mà nay có chuyện ngược đời. Thương hại cho mấy ông ấy!” Tôi làm thinh, không biết trả lời thế nào đây.

 

Chồng tôi bị giam ở trại Vĩnh Phú/K5, ở mạn Bắc Hà Nội. Nghe nói, đi bộ từ Hà Nội đến trại phải mất một ngày trời. Năm đó, tôi 50 tuổi, già yếu nhưng luôn tâm niệm là phải cố gắng. Tôi thuê xe ba gác, chở cái rương sắt đựng thức ăn, quần áo, thuốc men. Anh phu xe đi trước, tôi và thằng con lẻo đẻo theo sau. Đến trại th́ trời đă xế chiều. Chúng tôi được phép ngủ đêm lại tại một gian nhà tranh dành riêng cho khách thăm nuôi.

 

Sáng hôm sau, chúng tôi được hướng dẫn đến pḥng thăm nuôi. Tôi tŕnh giấy phép. Cán bộ cầm giấy tờ lên văn pḥng. Một chập sau trở lại, cho biết là, chồng tôi đă chuyển đi K1 gần một tháng rồi. Lúc tôi làm đơn xin đi thăm th́ chồng tôi c̣n ở K5. Tôi bàng hoàng, choáng váng, đứng không vững, như muốn té quÿ xuống đất. Cán bộ cho biết, trại K1, nơi chồng tôi đang bị giam, ở cách trại K5 khoảng 10 cây số.

 

Tôi lại phải thuê xe ba gác, cùng với thàng con lội bộ thêm nửa ngày, đến xế chiều mới tới K1. Lại ngủ thêm một đêm thứ hai tại nhà khách lạnh lẽo. Sáng hôm sau, chúng tôi được hướng dẫn đến pḥng thăm nuôi. Tại đây đă có mặt vài anh cán bộ. Nhờ chiều hôm trước, khi vừa đến trại, tôi đă có tŕnh giấy phép thăm nuôi, nên sáng hôm đó, chồng tôi được miễn xuất trại đi lao động và được hướng dẫn đến pḥng thăm nuôi để gặp chúng tôi.

 

Trong pḥng, có một bàn gỗ dài cỡ ba thước và 2 cái băng dài. Anh cán bộ ra dấu, bảo tôi và đứa con ngồi một bên và chồng tôi ngồi đối diện. Có nghĩa là hai vợ chồng không được ngồi cạnh nhau. C̣n anh cán bộ th́ ngồi bên phía chồng tôi để theo dơi cuộc nói chuyện.

 

Chúng tôi biết ư, chỉ hỏi thăm về sức khỏe, chỉ nói chuyện liên quan đến gia đ́nh mà thôi. Đâu dám nói chuyện ǵ khác, rủi bị cán bộ đuổi về sớm th́ mang họa. Tôi giao cho chồng tôi cái rương sắt nhỏ, đựng đủ thứ thức ăn và đồ dùng. Tôi dặn chồng tôi, có cần ǵ th́ viết thơ cho biết.

 

Sau gần năm năm đi tù, chồng tôi thay đổi quá nhiều. Thân h́nh ốm nhom, nước da đen đúa, mặt mày bơ thờ. Trông tội nghiệp quá. Tự nhiên nước mắt tôi trào ra, tôi vội lấy khăn lau. Tôi cố cắn răng, cầm cho khỏi hóc nấc lên. Trời ơi! Sao tôi bị đày đọa, bị bắt phải chịu cảnh sống khốn khổ quá vậy?

 

Nói chuyện sơ sơ, khoảng nửa giờ th́ tên cán bộ nói đă hết giờ qui định rồi. Tôi nói lới chia tay mà nước mắt ràn rụa. Tôi cảm thấy đau nhói trong tim, muốn la lên kêu Trời cho đỡ đau khổ.

 

Trên đường về Hà Nội, chúng tôi sử dụng nhiều phương tiện di chuyển: đi bộ, đi thuyền và đi xe lửa. Đến Hà Nội, chúng tôi thuê pḥng trọ ngủ đêm. Sáng hôm sau, đi xe lửa xuyên Việt về Sài G̣n.

 

 

14. SUƯT BỊ LƯỜNG GẠT LẦN THỨ HAI

 

Thăm chồng về được vài tháng, một hôm có một thanh niên đến nhà tôi, cũng tự xưng là cán bộ tại trại Vĩnh Phú. Cũng giống như cô cán bộ đến nhà tôi lần trước, anh ta nói, chồng tôi nhờ anh ấy, trong dịp đi công tác vào Nam, đến nhắn bảo tôi tiếp tế thực phẩm, quần áo và tiền bạc.

 

Tôi biết ngay là anh cán bộ này nói dối. Là v́, trong chuyến thăm chồng tôi vừa rồi, tôi đă tiếp tế đầy đủ những thứ mà anh ta vừa mới nói. Tuy nhiên, với bản chất ôn ḥa, tôi không muốn tranh căi với người dưng nước lă làm chi. Có thể, cả đời ḿnh, chỉ gặp họ một lần mà thôi. Tôi từ chối khéo: “Cám ơn anh rất nhiều, đă chịu khó đến nhà tôi. Nhưng tôi sắp sửa đi thăm nuôi chồng tôi cho nên không dám làm phiền anh”. Thế là tôi đă thoát nạn lần thứ nh́. Nếu dễ tin th́ đă bị lường gạt.

 

 

15. NGÀY TRở VỀ

 

Buổi tối, ngày 30-4-1980, tôi và đứa con đang ngồi ăn cơm, th́ chồng tôi bước vô nhà. Trông chồng tôi gầy ốm, đen đúa, quần áo lếch thếch, lưng đeo ba lô. Đâu c̣n phong độ của thời huy hoàng ngày xưa. Tôi sững sờ, đánh rơi đủa chén, líu lưỡi, không nói nên lời.

 

Chồng tôi cho biết, anh ấy đă được trả tự do vài ngày trước đây. Ra trại Vĩnh Phú, anh ấy về Hà Nội, ngủ ngoài trời một đêm tại sân ga xe lửa. Ngay khi tới Hà Nội, anh ấy đă đến bưu điện, gởi điện tín báo tin mừng, một ngày trước lên xe lửa về Na. Xe chạy từ Hà Nội vô Sài G̣n mất thêm hai ngày nữa. Thế mà, điện tín lại đi chậm hơn xe lửa. Do đó, sự xuất hiện của chồng tôi đă đem lại cho tôi một sự mừng rỡ, một hạnh phúc bất ngờ, tưởng chỉ có trong giấc mơ mà thôi.

 

Tôi đề nghị hai đứa ra phố ăn cơm tiệm để mừng ngày thoát cảnh tù đày. Chồng tôi nói: “Thôi! Ăn cơm tù nhiều năm quen rồi, bây giờ có ăn cơm nguội cũng sướng như tiên rồi”. Đúng là bị méo mó nghề nghiệp ở tù.

 

Lúc ấy, tiếng nhạc cát-xết nhà bên cạnh vọng sang văng vẳng:

 

“Em vẫn chờ khi nào anh về,

Dù cho bao năm bao tháng lê thê.

Xuân tới, hè sang rồi thu lạnh lùng

Vẫn bền ḷng một nỗi nhớ nhung.

 

 

Thanh Minh

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính