Mẹ Têrêsa

 

Song Thao

 

 



Mẹ Têrêsa, cái tên quen thuộc với nhiều người khốn khổ trên khắp thế giới. 

Tôi nghĩ người được nhiều người gọi là mẹ nhất trên thế giới khi c̣n tại thế phải là mẹ Têrêsa (Mother Teresa).

 

Con người nhỏ bé, ốm yếu, đứng trong đám đông nào cũng lọt thỏm hầu như mất tích, lại là một trong những con người lớn lao nhất thế giới. Sự lớn lao tạo thành bởi những điều nhỏ bé của mẹ: chăm sóc những người nghiện ngập ma túy, người hấp hối, cô nhi, người vô gia cư, những người bị bỏ rơi. Toàn những loại người bị người đời lánh xa, khinh rẻ, không muốn động tới.

 

Một lần mẹ và một chị nữ tu đang săn sóc vết thương gớm ghiếc cho một người bệnh, một ông nhà giầu bỉ thử: “Có cho tôi một triệu đô để làm việc này, tôi cũng chịu thua!” Mẹ Têrêsa trả lời: “Có cho chúng tôi mười triệu đô để không làm việc này, chúng tôi vẫn làm. V́ t́nh mến Chúa.”

 

Trong Kinh Thánh có ghi đoạn Chúa nói với những người công chính: “Ta đói, các ngươi đă cho ta ăn; ta khát, các ngươi đă cho ta uống; ta là khách lạ, các ngươi đă tiếp rước; ta trần truồng, các ngươi đă cho mặc; ta đau yếu, các ngươi đă thăm nom; ta ngồi tù, các ngươi đă thăm viếng.” Bấy giờ các người công chính thưa: “Có bao giờ chúng tôi thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống, có bao giờ thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước hoặc trần truồng mà cho mặc, có bao giờ chúng tôi đă thấy Chúa đau yếu hoặc ngồi tù mà đến thăm đâu?” Chúa đáp lại: “Ta bảo thật cho các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của ta đây, là các ngươi đă làm cho chính ta vậy!” Mẹ Teresa sống đúng với lời Chúa. Mẹ kể lại: “Một tập sinh đến với chúng tôi từ một nơi xa xôi, từ một gia đ́nh khá giả. Chúng tôi sai chị đến phục vụ trong nhà hấp hối. Trước khi sai đi, tôi dặn chị: ‘Trong Thánh lễ chị đă thấy linh mục cầm cách cung kính và nhẹ nhàng Ḿnh Chúa Kitô biến đổi từ tấm bánh trở nên như thế nào, chị hăy làm như vậy trong nhà hấp hối.’ Ba giờ sau, chị nhà tập trở về, chị đến với tôi , vui vẻ nói: ‘Thưa Mẹ, con đă chạm đến ḿnh Chúa Kitô trong ba giờ.’ Tôi hỏi lại: ‘Làm cách nào chị có thể chạm đến ḿnh Chúa?’ Chị nói, chị đă cứu được một người bị sâu bọ gặm hết một nửa thân. Con đă thực sự cảm thấy con đụng đến ḿnh Chúa Kitô, v́ Người nói: ‘Khi ta đau yếu… Chị nhà tập trẻ tuổi này là một người biết suy niệm. Chị đă được đụng chạm tới Chúa Kitô trong ba giờ, chị đă dâng t́nh yêu chị cho Chúa. Muốn làm như chị, cần phải nhận biết những người nghèo. Người nghèo là người vĩ đại. Người nghèo đáng được yêu. Bạn có biết đến những người nghèo đang ở giữa bạn không? Thật là buồn, nếu bạn không nhận ra sự nghèo khó trong nhà bạn.’ T́nh yêu phải bắt đầu từ trong nhà bạn, sự nghèo khó cũng bắt đầu từ trong nhà bạn. Bạn phải biết ai là người cô đơn, ai không được yêu mến, ai đang bị bỏ quên ngay trong gia đ́nh bạn.”

 

Mẹ Teresa chỉ làm những việc vụn vặt như vậy mà cả thế giới phải ngưỡng mộ. Năm 1979, Mẹ đă được trao tặng giải Nobel Ḥa B́nh v́ “những hoạt động diễn ra trong sự đấu tranh vượt qua sự nghèo khó và cùng quẫn, là những điều đe dọa ḥa b́nh.” Mẹ từ chối bữa tiệc mừng truyền thống khi nhận giải và xin gửi số tiền phí tổn cho bữa tiệc là $192,000 cho người nghèo v́ “những phần thưởng trên thế gian chỉ có giá trị khi nào chúng giúp ích cho những người thiếu thốn trên thế giới.”

 

Thế giới chỉ ḥa b́nh khi mọi người yêu thương nhau. Mẹ Teresa kể lại: “Nhiều người đến thăm tôi tại Calcutta và trước khi ra về thường ngỏ ư với tôi: ‘Xin cho chúng tôi một lời khuyên để chúng tôi sống tốt đẹp hơn.’ Tôi liền bảo họ: ‘Quư vị hăy về và hăy ban tặng cho nhau những nụ cười. Một nụ cười cho vợ của ông. Một nụ cười cho chồng của bà. Một nụ cười cho con cái của ông bà. Hăy cười tươi với tất cả mọi người, bất luận người đó là ai. Với những nụ cười tươi như thế quư vị sẽ lớn lên trong t́nh yêu hỗ tương.’ Nghe vậy, một người trong nhóm hỏi tôi: ‘Bà có lập gia đ́nh không?’ Tôi gật đầu và nói: ‘Đôi khi tôi cũng cảm thấy khó nở một nụ cười với vị hôn phu của tôi.’ Và mẹ Teresa kết luận: ‘Đúng thế, Chúa Giêsu có thể đ̣i hỏi rất nhiều. Và chính khi Ngài đ̣i hỏi như thế th́ không ǵ đẹp cho bằng nở một nụ cười thật tươi với Ngài.’”

 

Mẹ Teresa đă giă từ cuộc sống cho tha nhân vào ngày 5 Tháng Chín, 1997 giữa sự bàng hoàng thương tiếc của mọi người. Khi đó Hội Thừa Sai Bác Ái của Mẹ Teresa đă có bốn ngàn nữ tu hoạt động trong 610 cơ sở từ thiện tại 123 quốc gia. Ḍng tu của Mẹ đă được sự hỗ trợ của 300 tu sĩ và 100 ngàn người t́nh nguyện. Ṭa Thánh đă phong chân phước cho mẹ Teresa vào ngày 19 Tháng Mười, 2003 và phong thánh với danh hiệu “Teresa Thành Calcutta” vào ngày 4 Tháng Chín, 2016.

 

Mẹ Teresa đă thành thánh nhưng vết chân của mẹ ở nơi trần thế này vẫn c̣n rơ nét. Tôi t́nh cờ thấy trên Facebook một bức h́nh khắc trên đồng của mẹ Teresa đặt trước một bát nhang chi chít những chân nhang, bên cạnh một chiếc b́nh có những bó nhang dành cho người tới viếng thắp cho mẹ. Thấy bức h́nh lạ tôi chú ư đọc lời chú thích mới biết đây là một ban thờ kỷ niệm ngày mẹ tới thăm nơi này. Nơi đó có địa chỉ rơ ràng: 140/4 Vơ Thị Sáu, phường 8, quận 3, Sài G̣n. Và ngày tấm h́nh được post lên là ngày 10 Tháng Tư, 2018, ngày kỷ niệm tṛn 24 năm Mẹ Teresa đặt chân tới căn nhà này. Chuyện này làm tôi ngạc nhiên. Người mẹ của thế giới đă tới Việt Nam? Tôi liên lạc với người post h́nh là anh Soi Thomas để hỏi thêm chi tiết. Qua thư trả lời của anh tôi mới biết Tháng Tư, 1994, Mẹ Teresa có tới Việt Nam. Và mẹ đă đặt chân tới đất nước chúng ta năm lần tất cả!

 

Anh kể chuyện cơ duyên gặp Mẹ Teresa: “Vợ chồng chúng tôi theo thông lệ tham dự thánh lễ song ngữ Việt – Pháp lúc 10 giờ sáng mỗi Chủ Nhật tại nhà thờ Đức Bà Sài G̣n. Ngay khi vừa dứt thánh lễ ngày Chủ Nhật, 10 Tháng Tư, 1994, linh mục chủ sự thánh lễ tên Vương đ́nh Bích (Bề trên ḍng Anh Em Đức Mẹ Người Nghèo – AEDMNN), ngài đă dành đôi phút để thông báo: Mẹ Teresa đang ở thành phố chúng ta, Mẹ có ư t́m một căn nhà trong khu vực b́nh dân để lập cộng đoàn của Mẹ, ḍng Thừa Sai Bác Ái tại Việt Nam, bà con giáo dân có hoặc biết ai có nhà như vậy th́ xin liên lạc với văn pḥng nhà xứ nhà thờ Đức Bà để nói chuyện với Mẹ.”

 

Anh Soi có căn nhà muốn dành cho Mẹ Teresa nên liên lạc ngay với Cha Bích sau khi tan lễ. Anh có được cái hẹn với Mẹ Teresa và các sơ trong đoàn. “Đúng 15 giờ rưỡi , tôi và bà xă Yoshii Michiko vào căn nhà ở Bà Huyện Thanh Quan, căn nhà không phải là khách sạn mà dạng như nhà có pḥng cho thuê, người tiếp tân chào, nhận ư kiến của chúng tôi xong gọi điện thoại nội bộ báo có chúng tôi đă đến. Đôi phút sau từ trên cầu thang xoắn bằng sắt, Mẹ Teresa vịn tay vào thành cầu thang từ từ chậm chậm bước xuống, một phụ nữ lớn tuổi dáng người thấp nhỏ trong tu phục sari xuất hiện đi theo là một nữ tu cùng ḍng, một phụ nữ khác nữa mập mập trong y phục đời thường cùng xuống cầu thang theo Mẹ. Sau khi đón nhận đôi tay nồng ấm và nụ cười hiền dịu của Mẹ, ḷng cảm thấy toại nguyện, không ngờ được diện Mẹ mà gặp trong tâm thế như gặp một người thân mà ḷng kính trọng từ lâu.”

 

Mọi người lên xe đi tới căn nhà mà anh Soi muốn hiến. Nói là mọi người v́ trong số đó có một bà tên Hương, Trưởng Văn Pḥng II của Bộ Lao Động, Thương Binh và Xă Hội. Đại diện cho chính quyền thường có nhiệm vụ theo dơi nhưng dù vậy bà Hương cũng luôn luôn kính cẩn trước mẹ Teresa.

 

Theo mô tả của anh Soi th́ khi đó mẹ Teresa đă 84 tuổi, bước đi chậm răi nhưng không cần người d́u bên. Duy có tiếng nói nhiều khi không rơ v́ yếu mệt, cần có bà Nirmala “phiên dịch” lại. Căn nhà anh hiến mang số 595/29 đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, mái tôn, vách tô xi măng, mặt tiền tô đá rửa, được cất từ năm 1974. Nhưng điều mẹ Teresa chú ư không phải là t́nh trạng vật chất của căn nhà.

 

Anh Trần Văn Soi, một người có vợ Nhật, định cư tại Nhật nhưng thường xuyên về Việt Nam làm việc thiện qua việc xây cầu cho dân nghèo và giúp đỡ các trẻ em ngoài đường phố, kể tiếp: “Câu hỏi đầu tiên mà Mẹ nêu ra, nhà nầy có nằm trong khu vực b́nh dân không, v́ tuy là nhà xập xệ, nhưng có một khuôn viên riêng trên diện tích đất 200 mét vuông. Tôi thưa với Mẹ là bà cụ mẹ tôi mua miếng đất rộng khoảng 2000 mét vuông, sau bán dần chí c̣n lại căn nhà nầy, chung quanh là những người lao động nghèo: thợ hồ, làm rượu giả, nông dân trước đây giờ không c̣n đất th́ t́m việc mưu sinh, ai thuê ǵ làm nấy, nhiều người thất chí trở thành con sâu rượu. Đặc biệt căn nhà nằm cách con kinh đào từ thời Pháp độ 80 mét, c̣n khá đông người từ miền bắc vào cả nhà 4, 5 người mưu sinh bằng việc đánh cá trên chiếc thuyền bé tí, cuộc sống cơ cực mà vệ sinh không được quan tâm, một môi trường ngoại thành phù hợp để việc phát triển cộng đồng được triển khai.”

 

Điều thứ hai mẹ chú ư là nhà có gần nhà thờ không để các nữ tu có thể dễ dàng dâng lễ hàng ngày. Cũng may nhà thờ Thanh Đa chỉ cách có 300 thước. Mẹ Teresa chấp thuận dùng căn nhà này. Anh Soi muốn kư giấy hiến tặng luôn nhưng luật lệ Việt Nam cấm hiến tặng tài sản cho người ngoại quốc nên chỉ kư cho mượn 10 năm vô điều kiện và có gia hạn.

 

Chuyện tưởng dễ dàng hóa ra rắc rối. Rắc rối tới mức Mẹ Teresa, tuy bận bịu với các cơ sở trên 123 quốc gia, mà phải lặn lội qua Việt Nam tới năm lần tất cả. Lần anh Soi gặp Mẹ là lần thứ ba. Lần đầu, Mẹ qua vào Tháng Chín, 1991 qua ngả Cambodia, các cơ quan thông tin lớn như The Telegraph, Herald Journal, AFP đều loan tin về biến cố này. Mẹ Teresa gặp các nhà lănh đạo Việt Nam ngỏ ư muốn lập ḍng “Thừa Sai Bác Ái” tại Việt Nam để giúp đỡ nhưng người neo đơn, trẻ mồ côi và người nghèo. Ngoài việc gặp giới cầm quyền, trong ba ngày lưu lại Việt Nam, mẹ đă tới thăm cơ sở nuôi người già tại Hà Sơn B́nh và một số cơ sở xă hội khác mà chính phủ cho phép.

 

Lần thứ hai vào cuối năm 1993, Mẹ Teresa đă gặp Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Mạnh Cầm và Thứ Trưởng Bộ Lao Động, Thương Binh và Xă Hội Nguyễn Thị Hằng để nhắc lại ư muốn xin phép mở ḍng tại Việt Nam. Chính phủ Việt Nam không chấp thuận yêu cầu này mà chỉ cho phép năm nữ tu được mở một ngôi nhà tại Sài G̣n để hoạt động xă hội.

 

Chỉ một năm sau, Tháng Tư, 1994, Mẹ Teresa lại qua một lần nữa. Khi đó Hồng Y Phạm Đ́nh Tụng đang coi sóc giáo phận Hà Nội đă cử Cha Giuse Trịnh Hưng Kỷ cùng cô Trần Thị Hường, chuyên viên kinh tế đối ngoại tại Vụ Tài Chánh Kế Toán của Bộ Năng Lượng, ra sân bay đón tiếp.

 

Cô Hường kể lại: “Mẹ Teresa mặc một chiếc áo sari vải thô, ba hàng kẻ xanh trên áo nói lên ba lời khấn: khiết tịnh, khó nghèo và vâng phục; Mẹ khoác chiếc áo len tím than mỏng đă bạc màu. Chân Mẹ đi đôi xăng đan đă cũ và sờn màu, tay cầm theo cỗ tràng hạt.” Mẹ yêu cầu nhưng không được gặp Thủ Tướng Vơ Văn Kiệt v́ Bộ Chính Trị không cho phép. Chính phủ cho phép mở một nhà t́nh thương nhưng phải để nhà nước quản lư tài chánh. Mẹ trả lời: “Tôi không có tiền và cũng không có trương mục ngân hàng. Ai cho tôi bên tay phải th́ tôi cho đi bên tay trái!” Tuy nhiên chính quyền cho phép tám nữ tu của ḍng qua Việt Nam hoạt động tại Hà Nội và Ba V́. Tất cả để chăm sóc các em cô nhi. Trại mồ côi Ba V́ là trại nghèo nàn và tồi tệ nhất miền Bắc. Chỉ sau một tháng hoạt động, các nữ tu đă biến trại thành một nơi sạch sẽ, hết mùi khai và hôi thối. Theo cô Hường kể lại th́ mùa đông miền Bắc rất khắc nghiệt và giá rét mà các sơ chỉ đi chân trần làm việc. Thấy vậy, cô mua cho mỗi sơ một đôi tất để giữ ấm chân. Ít ngày sau không thấy các sơ mang tất, cô hỏi và được các sơ trả lời: “Bọn trẻ con c̣n rét hơn chúng tôi. Chúng tôi cho các em tất rồi!”

 

Ngày 20 Tháng Mười Hai, 1995, Mẹ Teresa lại mang cái thân già qua Hà Nội. Mẹ sang Việt Nam lần này v́ chính phủ Việt Nam không gia hạn chiếu khán cho các sơ ở lại hoạt động. Mẹ xin chính phủ Việt Nam cho phép các sơ tiếp tục phục vụ người nghèo. Chuyến đi của mẹ thất bại. Các sơ phải rời Việt Nam vào ngày 23 Tháng Mười Hai, 1995. Sơ Marie Francoise Hà Thị Thanh Tịnh nhắc lại lời mẹ nói với bà lúc đó: “Chúng ta hăy nhận thánh ư Chúa, t́m hiểu thánh ư Ngài muốn chúng ta làm ǵ.” Cùng ngày 23 Tháng Mười Hai đó, Mẹ bị sốt nặng phải bay gấp qua nằm bệnh viện tại Singapore. Đó là lần cuối Mẹ Teresa qua Việt Nam. Sức khỏe của Mẹ suy yếu dần và mất vào ngày 5 Tháng Chín, 1997. Ḍng tu của Mẹ vẫn không được phép hoạt động tại Việt Nam.


Nhiều năm sau ngày Mẹ Teresa qua đời tin vui mới tới. Tháng Sáu, 2006, sơ Nirmala, người kế vị điều khiển ḍng tu của Mẹ Teresa cùng hai sơ nữa tới Việt Nam. Ngày 9 Tháng Sáu, 2006, sơ Hà Thị Thanh Tịnh dẫn phái đoàn lên gặp Ban Tôn Giáo Chính Phủ tại Hà Nội. Bấy giờ chính phủ mới sẵn sàng mời hội Thừa Sai Bác Ái của Mẹ Teresa sang Việt Nam hoạt động.

 

Suốt năm năm ṛng ră, với năm lần qua Việt Nam, Mẹ chỉ chờ nhà nước bật đèn xanh cho hội ḍng của Mẹ vào giúp đỡ những người cùng khổ tại Việt Nam. Vậy mà tới khi ĺa đời, Mẹ vẫn không nh́n thấy được ánh đèn đó.

 

Có một câu chuyện do chính Mẹ Teresa kể lại. Tại Úc có một ông già thổ dân sống trong một túp lều tranh tối tăm xiêu vẹo. Lần đầu tới thăm lều của ông, Mẹ đề nghị: “Để tôi dọn dẹp nhà và sửa soạn giường chiếu cho ông.” Ông hờ hững đáp: “Tôi đă quen sống như vậy rồi.” Mẹ không nản chí: “Dù sao, ông cũng sẽ cảm thấy dễ chịu hơn với căn nhà sạch sẽ và ngăn nắp.” Ông bằng ḷng để mẹ dọn lại nhà cửa. Trong khi dọn, mẹ thấy một cây đèn cũ khá đẹp nhưng phủ đầy bụi. Mẹ hỏi: “Có bao giờ ông thắp đèn này không?” Ông trả lời với giọng chán ngán: “Thắp đèn cho ai? Có ai bước chân vào nhà này bao giờ đâu!” Mẹ hỏi lại: “Nếu như các sơ tới thăm ông thường xuyên, ông có bằng ḷng thắp đèn lên không?” Ông vui vẻ đáp: “Dĩ nhiên rồi!” Từ hôm đó, các sơ thay phiên nhau ghé nhà ông mỗi chiều. Cũng từ bữa đó, căn nhà sáng ánh đèn và được ông dọn dẹp ngăn nắp hơn. Ông sống thêm được hai năm nữa.

 

Trước khi mất, ông nhờ các sơ nhắn với Mẹ: “Xin các sơ nhắn với Mẹ Teresa, bạn của tôi, rằng ngọn đèn mà Mẹ đă thắp lên trong đời tôi vẫn c̣n chiếu sáng. Đó chỉ là một việc nhỏ, nhưng trong bóng tối cô đơn của đời tôi, một tia sáng đă chiếu lên và vẫn c̣n tiếp tục sáng măi.”

 

Ngọn đèn xanh mà Mẹ mong ước được nh́n thấy sáng lên tại Việt Nam cuối cùng cũng được thắp lên. Chắc Mẹ đă nh́n thấy, từ trời cao.

 

 

Song Thao

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính