Cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trả lời phỏng vấn của báo Spiegel 1979

 

Phạm Thị Hoài (dịch)

 

 

 

 

Spiegel: Thưa ông Thiệu, từ 1968 đến 1973 Hoa Kỳ đă nỗ lực thương lượng ḥa b́nh cho Việt Nam… Trong cuốn hồi kư của  ông Henry Kissinger, trưởng phái đoàn đàm phán Hoa Kỳ,  đă dùng nhiều trang để miêu tả việc ông, Tổng thống Việt Nam Cộng ḥa, đă chống lại những nỗ lực nhằm đem lại ḥa b́nh cho một cuộc chiến đă kéo dài nhiều năm, với hàng triệu nạn nhân và dường như là một cuộc chiến để “bóp nát trái tim Hoa Kỳ”. V́ sao ông lại cản trở như vậy?

 

Nguyễn Văn Thiệu: Nói thế là tuyệt đối vô nghĩa. Nếu tôi cản trở th́ đă không có Hiệp định Ḥa b́nh năm 1973 – mặc dù, như ai cũng biết, đó không phải là một nền ḥa b́nh tốt đẹp; hậu quả của nó ở Việt Nam là chứng tích rơ ràng nhất. Kissinger đại diện cho chính sách và lợi ích của chính phủ Mỹ. Là Tổng thống Nam Việt Nam, bổn phận của tôi là bảo vệ những lợi ích sống c̣n của đất nước tôi.

Tôi đă nhiều lần chỉ ra cho Tổng thống Nixon và TS Kissinger rằng, đối với một cường quốc như Hoa Kỳ th́ việc từ bỏ một số vị trí không mấy quan trọng ở một quốc gia bé nhỏ như Nam Việt Nam , không có ǵ đáng kể. Nhưng với chúng tôi, đó là vấn đề sinh tử của cả một dân tộc.

 

Spiegel: Kissinger không phủ nhận rằng cuối cùng ông cũng đồng ư. Nhưng ông ấy cũng nói rằng phải đàm phán lâu như vậy v́ ông cản trở nhiều, rằng ông đồng ư với các đề xuất của Mỹ chỉ v́ ông chắc mẩm rằng đằng nào th́ Hà Nội cũng sẽ bác bỏ.

 

Nguyễn Văn Thiệu: Không đúng như vậy. Để chấm dứt một cuộc chiến tranh đă kéo dài gần 30 năm, người ta cần nhiều thời gian hơn là hai, ba ngày hay hai, ba tháng. Tôi hiểu rơ rằng đối với người Mỹ đă đến giúp chúng tôi, đây là cuộc chiến dài nhất trong lịch sử của họ. Có lẽ v́ thế mà họ vội vă như vậy. Nhưng điều chúng tôi cần là một nền ḥa b́nh lâu dài.

 

Spiegel: Kissinger có ư cho rằng ông không thực sự muốn kư kết một thỏa thuận về ḥa b́nh, đúng ra ông ngầm mong phía miền Bắc cũng sẽ cứng đầu như ông. Kissinger viết rằng, ông đồng ư với nhiều đề xuất từ phía Mỹ – trong tinh thần sẵn sàng không tuân thủ, chỉ v́ trong thâm tâm ông không tin rằng ḥa b́nh sẽ được kư kết. Có phải là trong khi đàm phán, ông đă lừa, với hy vọng là sẽ không bao giờ phải lật ngửa bài lên?

 

Nguyễn Văn Thiệu: Không. Sao lại có thể nói là một dân tộc đă chịu đựng bao nhiêu đau khổ suốt 30 năm lại muốn kéo dài cuộc chiến? Kissinger muốn xúc tiến thật nhanh mọi việc để Mỹ có thể rút quân và tù binh Mỹ được thả. Mà có lẽ mục đích của chính phủ Mỹ cũng là cao chạy xa bay. Họ th́ có thể bỏ chạy. Nhưng chúng tôi th́ phải ở lại Nam Việt Nam.

Chúng tôi có quyền chính đáng để đ̣i hỏi một hiệp định ḥa b́nh toàn diện. Không phải là vài ba năm ḥa b́nh, rồi sau đó lại 30 năm chiến tranh.

 

Spiegel: Vậy tại sao ông lại đi trước cả người Mỹ và tự đề nghị Hoa Kỳ rút quân trong cuộc họp tại đảo Midway ở Thái B́nh Dương tháng Sáu 1969, theo tường thuật của Kissinger?

 

Nguyễn Văn Thiệu: Trước khi họp ở Midway, việc chính phủ Mỹ dự định rút quân đă không c̣n là điều bí mật. Cho phép tôi nhắc để các ông nhớ lại, tin tức về việc Mỹ sẽ rút một số quân đă loan khắp thế giới, trước cuộc họp ở Midway. V́ sao? Theo tôi, chính phủ Mỹ muốn thả bóng thăm ḍ, tiết lộ tin tức trước cho báo chí và đẩy chúng tôi vào sự đă rồi.

 

Spiegel: Tức là ông đă nắm được t́nh h́nh?

 

Nguyễn Văn Thiệu: Đúng thế. Cuộc họp ở Midway nhằm hai mục đích. Thứ nhất, cho hai vị tân tổng thống cơ hội làm quen và bàn về đề tài Việt Nam. Điểm thứ hai đă vạch rất rơ là bàn về việc rút những toán quân Mỹ đầu tiên. Tôi đă không h́nh dung sai điều ǵ và đă làm chủ t́nh thế. Không có ǵ phải lo lắng, và tôi đă rất vững tâm.

 

Spiegel: Khi đề xuất Mỹ rút quân, ông có thật sự tin rằng Nam Việt Nam có thể chiến đấu một ḿnh và cuối cùng sẽ chiến thắng trong một cuộc chiến mà hơn 540.000 lính Mỹ cùng toàn bộ guồng máy quân sự khổng lồ của Hoa Kỳ không thắng nổi không? Chuyện đó khó tin lắm.

 

 

Nguyễn Văn Thiệu: Không, đề xuất đó không phải của tôi. Tôi chỉ chấp thuận. Tôi chấp thuận đợt rút quân đầu tiên của Mỹ, v́ Tổng thống Nixon bảo tôi là ông ấy gặp khó khăn trong đối nội và việc rút quân chỉ mang tính tượng trưng. Ông ấy cần sự ủng hộ của dư luận và của Quốc hội. Nhưng tôi cũng bảo ông ấy rằng: Ông phải chắc chắn rằng Hà Nội không coi việc bắt đầu rút quân đó là dấu hiệu suy yếu của Hoa Kỳ.

 

Spiegel: Và ông không nghĩ đó là khởi đầu của việc rút quân toàn bộ?

 

Nguyễn Văn Thiệu: Không. Tôi đă h́nh dung được rằng, đó là bước đầu tiên để cắt giảm quân số. Nhưng không bao giờ tôi có thể nghĩ Mỹ sẽ rút hẳn và bỏ rơi Nam Việt Nam. Tôi đă tŕnh bày với Tổng thống Nixon rằng việc cắt giảm quân số sẽ phải tiến hành từng bước, như khả năng chiến đấu và việc tiếp tục củng cố Quân lực Việt Nam Cộng Ḥa cho phép – tương ứng với những viện trợ quân sự và kinh tế có thể giúp Nam Việt Nam tự đứng trên đôi chân của ḿnh.

Quan trọng hơn, tôi đă bảo ông ấy phải yêu cầu Hà Nội có một hành động tương ứng đáp lại. Phía Mỹ đồng ư với tôi ở mọi điểm về một sự rút quân từng bước và của cả hai phía…

 

Spiegel: … và mang tính tượng trưng?

 

Nguyễn Văn Thiệu: Tôi hiểu rơ rằng cuộc chiến ở Việt Nam cũng là một vấn đề đối nội của Hoa Kỳ. Và Tổng thống Nixon giải thích rằng ông ấy cần một cử chỉ tượng trưng để giải quyết vấn đề đó. Trước đó một tuần tôi đến Seoul và Đài Loan, tôi đă nói với Tổng thống Park Chung Hee và Tổng thống Tưởng Giới Thạch rằng,  tôi hy vọng việc rút quân sắp bàn với Tổng thống Nixon ở Midway chỉ là một sự cắt giảm quân số mang tính tượng trưng. Song tôi cũng lưu ư rằng nếu Hoa Kỳ muốn rút hẳn th́ chúng tôi cũng không thể ngăn cản. Vậy th́ đề nghị họ rút quân từng bước, đồng thời viện trợ để củng cố một quân đội Nam Việt Nam hùng mạnh và hiện đại, có thể thay thế người Mỹ, sẽ là hợp lư hơn. Không bao giờ tôi đặt giả thiết là lính Mỹ sẽ ở lại Việt Nam vĩnh viễn.

 

Spiegel: Mỹ vẫn đóng quân ở Hàn Quốc và Tây Đức mà.

 

Nguyễn Văn Thiệu: Nhưng chúng tôi là một dân tộc rất kiêu hănh. Chúng tôi bảo họ rằng, chúng tôi cần vũ khí và viện trợ, nhưng nhiệt huyết và tính mạng th́ chúng tôi không thiếu.

 

Spiegel: Ông đánh giá thế nào về t́nh thế của ông khi ấy? Vài tháng trước đó, Bộ trưởng Quốc pḥng Mỹ Melvin Laird vừa đưa ra một khái niệm mới: “Việt Nam hóa chiến tranh”. Trước đây người Mỹ chỉ nói đến việc “phi Mỹ hóa” cuộc chiến. Cái khái niệm mới ấy đă thể hiện rơ dự định rút khá nhanh của người Mỹ rồi, đúng không?

 

Nguyễn Văn Thiệu: Khi đến Sài G̣n vào tháng Bảy 1969, ông Nixon đă nhắc lại rằng ông ấy cần được sự hậu thuẫn của dư luận trong nước Mỹ. Tôi hiểu ông ấy. Nhưng ông ấy không hề tuyên bố rằng việc rút quân là một lịch tŕnh mang tính hệ thống do sáng kiến của Mỹ. Ông ấy chỉ nói với tôi về những khó khăn trong nước, ở Mỹ, và đề nghị tôi giúp. Ông ấy bảo: “Hăy giúp chúng tôi giúp ông.” Tôi đáp: “Tôi giúp ông giúp chúng tôi.” Trong lần họp mặt đó, chúng tôi lại tiếp tục bàn về việc rút quân từng bước.

 

Spiegel: Nhưng không đưa ra một lịch tŕnh cụ thể?

 

Nguyễn Văn Thiệu: Không. Và ông Nixon lại hứa rằng việc rút quân của Mỹ sẽ phải đi đôi với những hành động tương ứng của Bắc Việt và phải phù hợp với khả năng pḥng thủ của Nam Việt Nam cũng như phải phù hợp với việc Mỹ tiếp tục viện trợ quân sự và kinh tế cho Nam Việt Nam.

 

Spiegel: Ở thời điểm đó ông có nhận ra rằng nếu thấy cần th́ Mỹ cũng sẽ sẵn sàng đơn phương rút quân không?

 

Nguyễn Văn Thiệu: Có, tôi đă ngờ. Nhưng lúc đó tôi vẫn rất vững tâm và tin tưởng vào đồng minh lớn của chúng tôi.

 

Spiegel: Có lẽ ông tin thế là phải. Cuốn hồi kư của Kissinger cho thấy khá rơ rằng chính phủ Nixon không thể dễ dàng “đ́nh chỉ một dự án liên quan đến hai chính phủ, năm quốc gia đồng minh và đă khiến 31,000 người Mỹ phải bỏ mạng, như thể ta đơn giản chuyển sang một đài TV khác.”

Rơ ràng là người Mỹ muốn thoát khỏi Việt Nam bằng con đường đàm phán. Chỉ trong trường hợp cần thiết họ mới muốn đơn phương rút quân. Ông có đưa ra yêu sách nào liên quan đến những cuộc thương lượng giữa Washington và Hà Nội không?

 

Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi đă chán ngấy chiến tranh và quyết tâm chấm dứt nó qua đàm phán. Chúng tôi yêu cầu những kẻ xâm lăng đă tràn vào đất nước của chúng tôi phải rút đi. Tất cả chỉ có vậy.

 

Spiegel: Ông đă oán trách rằng sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam năm 1975 chủ yếu là do sau Hiệp định Paris, miền Bắc vẫn được phép đóng quân tại miền Nam. Ông khẳng định rằng ḿnh chỉ chấp nhận sự hiện diện đó của miền Bắc trong quá tŕnh đàm phán, c̣n sau khi kư kết th́ Hà Nội phải rút quân.

 

Nhưng Kissinger lại khẳng định trong hồi kư rằng ông thừa biết việc Hà Nội sẽ tiếp tục trụ lại ở miền Nam, và cho đến tận tháng Mười 1972 ông cũng không hề phản đối những đề xuất của phía Mỹ liên quan đến điểm này.

 

 

Nguyễn Văn Thiệu: Đó là một lời nói dối hết sức vô giáo dục của Kissinger, rằng tôi chấp thuận cho quân đội Bắc Việt ở lại miền Nam. Nếu ngay từ đầu tôi đă chấp thuận như Kissinger nói th́ lúc ông ấy cho tôi xem bản dự thảo, trong đó không có điều khoản nào về việc rút quân của Bắc Việt, tôi đă chẳng phản đối quyết liệt như thế.

Điểm then chốt nhất mà tôi dốc sức bảo vệ, từ đầu cho đến khi kết thúc đàm phán, chính là yêu cầu Hà Nội phải rút quân. Tôi đă tuyên bố rơ với Kissinger là nếu không đạt được điều đó th́ không có kư kết.

Sau nhiều ngày tranh luận gay gắt, cuối cùng ông ta bảo: “Thưa Tổng thống, điều đó là không thể được. Nếu được th́ tôi đă làm rồi. Vấn đề này đă đặt ra ba năm trước, nhưng phía Liên Xô không chấp nhận.” Tôi hiểu ra rằng chính phủ Mỹ đă nhượng bộ trước yêu sách của Liên Xô, và đó là nỗi thất vọng lớn nhất của tôi.

 

Spiegel: Có lẽ Liên Xô không thể làm khác, v́ Hà Nội không chấp nhận coi Nam Việt Nam là một quốc gia khác, và một thời gian dài họ c̣n phủ nhận việc họ đă đưa quân đội chính quy vào miền Nam.

 

Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi đă chiến đấu hơn 20 năm và học được rằng, đừng bao giờ tin lời Nga Xô và Hà Nội. Bắc Việt đóng quân ở cả Lào, Campuchia và Nam Việt Nam, tôi tin rằng một người mù cũng nh́n ra điều đó. Muốn chấm dứt chiến tranh th́ chúng ta phải nh́n vào hiện thực chứ không thể chỉ nghe lời kẻ địch.

 

Spiegel: Ông có lập luận như thế với Kissinger không?

 

Nguyễn Văn Thiệu: Tất nhiên, và với cả Tướng Haig nữa. Tôi bảo ông ấy thế này: “Ông Haig, ông là tướng, tôi là tướng. Ông có biết một hiệp định ḥa b́nh nào trong lịch sử lại cho phép kẻ xâm lăng tiếp tục đóng quân tại lănh thổ mà nó xâm lược không? Ông có cho phép Liên Xô vào Hoa Kỳ đóng quân rồi tuyên bố rằng ông đă kư kết thành công một hiệp định ḥa b́nh với Liên Xô không?”

 

Spiegel: Ông ấy trả lời sao?

 

Nguyễn Văn Thiệu: Ông ấy không trả lời được. Mà trả lời thế nào cơ chứ, chuyện đó hoàn toàn vô lư. C̣n ǵ mà nói nữa.

 

Spiegel: Nhưng Kissinger th́ có câu trả lời trong hồi kư. Ông ấy viết rằng khó mà bắt Hà Nội rút quân, v́ họ hoàn toàn không sẵn sàng từ bỏ trên bàn đàm phán những thứ mà họ không mất trên chiến trường. Nhưng ông ấy cũng nói rằng trong Hiệp định Paris có một điều khoản không cho phép xâm lấn. Ông ấy đi đến kết luận rằng “lực lượng miền Bắc sẽ tự nhiên tiêu hao sinh lực và dần dần biến mất.”

 

Nguyễn Văn Thiệu: Tôi thấy chính phủ Mỹ và đặc biệt là TS Kissinger không hề rút ra được bài học nào khi phải đàm phán với cộng sản, sau những kinh nghiệm đau thương năm 1954 giữa Pháp và cộng sản Việt Nam và từ Chiến tranh Triều Tiên. Họ cũng không học được ǵ từ những cuộc đàm phán về Lào và Campuchia và cũng không nắm bắt được là nên xử sự thế nào với cộng sản và cần phải hiểu chiến lược và chiến thuật của cộng sản ra sao.

Tức là ta lại phải trở về với vấn đề rằng, v́ sao TS Kissinger, người đại diện cho một quốc gia lớn và tự cho ḿnh là nhà thương thuyết giỏi giang nhất, lại có thể tin rằng quân Bắc Việt đóng tại miền Nam sẽ không xâm lấn. Sao ông ấy có thể tin như vậy cơ chứ?

Ông ấy đủ sức kiểm soát từng tấc đất trên biên giới của Campuchia, và của Lào, và của Nam Việt Nam à? Dù có cả triệu nhân viên quốc tế giám sát, chúng tôi cũng không bao giờ có thể khẳng định là đă có đủ bằng chứng rằng không có xâm lấn. Sao ông ấy lại có thể tin những ǵ Bắc Việt nói. Ông ấy có thể tin lời cộng sản, nhưng chúng tôi th́ không… V́ thế mà tôi đă cương quyết đ̣i Bắc Việt phải rút quân. Nếu họ thực sự muốn ḥa b́nh th́ họ ở lại miền Nam làm ǵ?

 

Spiegel: Vậy Kissinger nói sao?

 

Nguyễn Văn Thiệu: C̣n nói ǵ được nữa? Ông ấy và chính phủ Mỹ chỉ muốn chính xác có một điều: rút khỏi Việt Nam càng sớm càng tốt và bảo đảm việc trao trả tù binh Mỹ. Họ bảo chúng tôi là họ mong muốn một giải pháp trong danh dự, nhưng sự thực th́ họ chỉ muốn bỏ của chạy lấy người. Nhưng họ lại không muốn bị người Việt và cả thế giới kết tội là đă bỏ rơi chúng tôi. Đó là thế kẹt của họ.

 

Spiegel: Kissinger viết rằng, ngay sau Chiến dịch Xuân-Hè 1972 của Hà Nội, các bên dường như đă đổi vai. Hà Nội đột nhiên muốn đàm phán trở lại, c̣n Sài G̣n th́ muốn đánh cho đến khi giành toàn thắng.

 

Nguyễn Văn Thiệu: Hoàn toàn vô nghĩa! Ông TS Kissinger hiểu thế nào là chiến thắng? Bắc Việt đă đem chiến tranh vào miền Nam. Chúng tôi yêu cầu họ phải rút quân. Thế là chiến thắng hay sao? Tôi chưa bao giờ yêu cầu Bắc Việt tự coi ḿnh là tù binh của miền Nam. Tôi chưa bao giờ yêu cầu Bắc Việt bồi thường cho tổn thất chiến tranh. Tôi chưa bao giờ đ̣i hỏi Bắc Việt giao nộp lănh thổ. Tôi chưa bao giờ đ̣i có chân trong chính phủ ở Hà Nội. Vậy ông Kissinger hiểu thế nào về chiến thắng và toàn thắng?

 

Spiegel: Về vấn đề rút quân của miền Bắc, 31 tháng Năm 1971 là một ngày quan trọng. Kissinger cho biết là khi đó, trong các cuộc họp kín, Mỹ đă đưa ra yêu cầu hai bên cùng rút quân. Trong hồi kư, ít nhất ba lần TS Kissinger viết rằng không những ông được thông báo trước, mà ông c̣n chấp thuận.

 

Nguyễn Văn Thiệu: Tôi không bao giờ chấp thuận việc rút quân đơn phương. Từ cuộc họp ở Midway, tôi luôn luôn yêu cầu rút quân từng bước và cả hai bên cùng rút. Hoa Kỳ đă thay đổi lập trường và t́m cách ép chúng tôi, với những chiến thuật mà họ thường sử dụng, bằng cách quơ thanh gươm Damocles trên đầu tôi, chẳng hạn họ đem công luận Mỹ ra đe tôi, họ bảo: “H́nh ảnh của ông tại Hoa Kỳ hiện nay rất tồi tệ!” Hoặc: “Quốc hội muốn cắt giảm viện trợ.” Vân vân. Họ áp dụng đúng những chiến thuật đă biết, tiết lộ tin tức cho báo giới và đặt tôi trước sự đă rồi.

Nếu tôi từ chối, công luận sẽ quay ra chống tôi: “Ông ta đ̣i quá nhiều, ông ta sẽ không bao giờ cho Mỹ được rút, ông ta sẽ không bao giờ cho tù binh Mỹ được trở về.” Thế là tôi luôn phải chấp thuận. Không phải tự nguyện, mà miễn cưỡng. Tôi phản đối làm sao được, khi lần nào họ cũng bảo rằng: “Ông mà chống th́ sẽ bị cắt viện trợ.”

 

Spiegel: Kissinger viết rằng trước bất kỳ một quyết định dù dưới h́nh thức nào, phía Mỹ cũng hỏi ư kiến ông trước.

 

Nguyễn Văn Thiệu: Vâng, họ hỏi ư kiến tôi, nhưng chắc chắn không phải là để nghe tôi nói “Không”, nếu đó là những quyết định phục vụ cho lợi ích của Hoa Kỳ. Họ ưa gây sức ép hơn, và đạt được gần như mọi thứ bằng cách đó.

 

QLVNCH ở Hạ Lào

 

Spiegel: Bây giờ Kissinger cay đắng chỉ trích về Chiến dịch Hạ Lào năm 1971. Ông ấy viết rằng, ông đă đồng ư rằng chiến dịch này nhất định phải thực hiện trong mùa khô. Vậy ư tưởng đó ban đầu là của ai?

 

Nguyễn Văn Thiệu: Của người Mỹ. Trước đó khá lâu, chúng tôi từng có ư định thực hiện, nhưng không đủ khả năng tiến hành một ḿnh. Đến khi phía Mỹ đề xuất th́ chúng tôi sẵn sàng đồng ư, để sớm chấm dứt chiến tranh. Chiến dịch đó do liên quân Việt-Mỹ thực hiện và được vạch ra rất rơ ràng: Chúng tôi tác chiến tại Lào, c̣n phía Mỹ th́ hỗ trợ tiếp vận từ Việt Nam và từ biên giới.

 

Spiegel: V́ sao? V́ Quốc hội Mỹ có luật cấm quân đội Mỹ xâm nhập lănh thổ Lào?

 

Nguyễn Văn Thiệu: Vâng, tôi tin là vậy. Nhưng cũng v́ chúng tôi không có đủ phương tiện để tiếp tế cho binh lính, và nhất là để cứu thương binh ra ngoài. Việc đó chỉ có thề thực hiện bằng trực thăng, và chỉ phía Mỹ mới có đủ trực thăng. Không có họ th́ không đời nào chúng tôi đồng ư thực hiện chiến dịch tại Lào…

 

Spiegel: Kissinger viết rằng quân của ông gặp khó khăn khi yêu cầu không quân hỗ trợ, v́ gần như không có báo vụ viên nói được tiếng Anh.

 

Nguyễn Văn Thiệu: Hoàn toàn không có vấn đề ǵ với việc hỗ trợ của không quân. Đôi khi không có th́ chúng tôi cũng không lo lắng; chúng tôi có thể dùng pháo binh. Vấn đề là: trong ba ngày mở đầu chiến dịch, phía Mỹ đă mất rất nhiều phi công trực thăng. V́ thế mà họ chần chừ, không bay đúng thời điểm và ở quy mô cần thiết. Điều đó thành ra một vấn đề lớn với quân lực Nam Việt Nam.

 

Spiegel: Tinh thần binh lính bị suy sụp?

 

Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi không đem được binh lính tử trận và thương binh ra ngoài. Không phải chỉ tinh thần binh lính, mà cả độ tiến của chiến dịch cũng bị ảnh hưởng..

 

Spiegel: Kissinger nêu ra một lư do khác. Rằng ông đă lệnh cho các sĩ quan chỉ huy phải thận trọng khi tiến về hướng Tây và ngừng chiến dịch nếu quân số tổn thất lên tới 3000. Kissinger viết rằng nếu phía Mỹ biết trước điều đó th́ không đời nào họ đồng ư tham gia chiến dịch này.

 

Nguyễn Văn Thiệu: Đối với một quân nhân, định trước một tổn thất về quân số là điều phi lư. Nếu TS Kissinger nói thế th́ ông ấy thật giàu trí tưởng tượng. Chúng tôi chỉ có thể tiến về phía Tây trong giới hạn mà trực thăng cứu viện có thể bay đến. Kissinger bảo là chúng tôi đă rút quân mà không báo cho phía Mỹ. Làm sao chúng tôi có thể triệt thoái trên 10,000 quân mà họ không hay biết ǵ?

 

Spiegel: Tức là ông đă thông báo cho họ?

 

Nguyễn Văn Thiệu: Ồ, tất nhiên. Để tôi kể cho ông nghe một câu chuyện. Hồi đó tờ Time hay tờ Newsweek có đăng bức h́nh một người lính Nam Việt Nam đang bám vào càng một chiếc trực thăng cứu viện. Bên dưới đề: “Nhát như cáy”. Tôi chỉ cười. Tôi thấy nó tệ. Không thể ngăn một người lính lẻ loi hành động như vậy được. Nhưng báo chí lại kết tội lính Nam Việt Nam là hèn nhát và đồng thời giấu biến sự thật về tinh thần chiến đấu sút kém của phi công trực thăng Mỹ trong chiến dịch này.

 

Spiegel: Một điểm gây rất nhiều tranh căi giữa Hoa Kỳ và Nam Việt Nam là vấn đề ngưng bắn. Theo cuốn hồi kư của Kissinger th́ ngay từ mùa Hè 1970 chính phủ Mỹ đă thống nhất về việc sẽ đề xuất một thỏa thuận ngưng bắn tại các chiến tuyến hiện có. Kissinger khẳng định rằng ông không chỉ chấp thuận mà c̣n ủng hộ đề xuất này.

 

Nguyễn Văn Thiệu: Đúng như vậy, tôi cũng cho rằng ngưng bắn phải là bước đầu tiên để đáp ứng một hiệp định ḥa b́nh. Nhưng ngưng bắn ngay lập tức – và tôi xin nhắc lại: ngay lập tức – th́ tôi không bao giờ đồng ư với Kissinger. Tôi bảo, chúng ta phải cân nhắc hết sức kỹ lưỡng việc này. Không thể thực hiện ngưng bắn trước khi tính kỹ việc ai sẽ giám sát việc ngưng bắn, nếu ai vi phạm th́ hậu quả sẽ thế nào, hai bên sẽ đóng quân ở đâu, vân vân.

 

Spiegel: Kissinger viết: “Khi đó chúng tôi vẫn tưởng rằng chúng tôi và Thiệu cùng đồng hành hợp tác.” Phía Mỹ đă không hiểu rằng ông đem những “chiến thuật né tránh” mà “người Việt thường áp dụng với người ngoại quốc” ra dùng.

 

Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi là một nước nhỏ, gần như mọi thứ đều nhờ ở một đồng minh lớn và vẫn tiếp tục phải xin viện trợ dài hạn của đồng minh đó, không bao giờ chúng tôi lại cho phép ḿnh dùng những thủ đoạn nào đó.

 

Spiegel: Khi Mỹ đă rút, c̣n Hà Nội th́ được phép tiếp tục đóng quân ở miền Nam, chắc ông phải thấy là ông đă thua trong cuộc chiến này?

 

Nguyễn Văn Thiệu: Không hẳn, nếu chúng tôi tiếp tục được sự trợ giúp cần thiết từ phía Mỹ, như chính phủ Mỹ đă hứa khi chúng tôi đặt bút kư hiệp định. Ngay cả khi kư, tôi đă coi đó là một nền ḥa b́nh tráo trở. Nhưng chúng tôi vẫn tin rằng có thể chống lại bất kỳ sự xâm lăng nào của Bắc Việt. V́ hai lư do: Chúng tôi có lời hứa chắc chắn bằng văn bản của Tổng thống Nixon rằng Hoa Kỳ sẽ phản ứng quyết liệt, nếu Bắc Việt vi phạm hiệp định.

 

Spiegel: Mặc dù ông ấy không hề cho biết sẽ phản ứng bằng cách nào?

 

Nguyễn Văn Thiệu: Thứ hai, chúng tôi được bảo đảm là sẽ có đủ viện trợ quân sự và kinh tế cần thiết để chống Bắc Việt xâm lược. Nếu chính phủ Mỹ thực ḷng giữ lời hứa th́ chiến tranh có thể kéo dài, nhưng miền Nam sẽ không bị Bắc Việt thôn tính.

 

Spiegel: Về điều này th́ ông và Kissinger ít nhiều đồng quan điểm. Ông ấy viết rằng chiến lược toàn cục có thể sẽ thành công, nếu Mỹ đủ khả năng hành động trước bất kỳ một vi phạm nào của Hà Nội và tiếp tục viện trợ đầy đủ cho miền Nam. Nhưng chuyện ǵ đă xảy ra? Kissinger quy lỗi cho vụ Watergate, v́ sau đó Tổng thống Mỹ không c̣n đủ uy tín. Ông có nghĩ rằng vụ Watergate thực sự chịu trách nhiệm, khiến tất cả sụp đổ không?

 

Nguyễn Văn Thiệu: Rất tiếc, nhưng tôi không phải là người Mỹ. Tôi không muốn quét rác trước cửa nhà người Mỹ. Nhưng nếu người Mỹ giữ lời hứa th́ đó là sự cảnh báo tốt nhất, khiến Bắc Việt không tiếp tục xâm lăng, và chiến tranh có thể sẽ dần chấm dứt.

 

Spiegel: Nếu Hoa Kỳ giữ lời th́ theo ông, hiệp định hoàn toàn có thể thành công?

 

Nguyễn Văn Thiệu: Tôi cho là như vậy.

 

Spiegel: Như vậy về tổng thể, Hiệp định Paris không đến nỗi tồi?

 

Nguyễn Văn Thiệu: Đó chắc chắn không phải là một hiệp định có lợi cho chúng tôi. Nó tráo trở. Nhưng đó là lối thoát cuối cùng. Ông phải hiểu rằng chúng tôi đă kư kết, v́ chúng tôi không chỉ có lời hứa của chính phủ Mỹ như tôi đă nói, mà hiệp định đó c̣n được mười hai quốc gia và Liên Hiệp Quốc bảo đảm.

 

Spiegel: Trong cuốn hồi kư, TS Kissinger có những b́nh luận rát mặt về khá nhiều chính khách đầu đàn. Nhưng riêng ông th́ bị ông ấy dành cho những lời hạ nhục nhất. Tuy đánh giá cao “trí tuệ”, “sự can đảm”, “nền tảng văn hóa” của ông, nhưng ông ấy vẫn chú tâm vào “thái độ vô liêm sỉ”, “xấc xược”, “tính vị kỷ chà đạp” và “chiến thuật khủng khiếp, gần như bị ám ảnh điên cuồng” trong cách ứng xử với người Mỹ của ông. V́ thế, cuối cùng Kissinger nhận ra “sự phẫn nộ bất lực mà người Việt thường dùng để hành hạ những đối thủ mạnh hơn về thể lực”. Ư kiến của ông về những khắc họa đó thế nào?

 

Nguyễn Văn Thiệu: Tôi không muốn đáp lại ông ấy. Tôi không muốn nhận xét ǵ về ông ấy. Ông ấy có thể đánh giá tôi, tốt hay xấu, thế nào cũng được. Tôi muốn nói về những điều đă xảy ra giữa Hoa Kỳ và Nam Việt Nam hơn.

 

Spiegel: Hay ông đă làm ǵ khiến ông ấy có cái cớ để viết về ông với giọng coi thường như thế?

 

Nguyễn Văn Thiệu: Có thể ông ấy đă ngạc nhiên v́ gặp những người quá thông minh và mẫn cán. Có thể cũng do cái phức cảm tự tôn của một người đàn ông hết sức huênh hoang. Có thể ông ấy không tin nổi là người Việt đối thoại với ông ta lại địch được một người tự coi ḿnh là vô cùng quan trọng.

 

Để tôi kể thêm một câu chuyện nữa: Ở đảo Midway tôi thấy buồn cười, v́ thật chẳng bao giờ tôi có thể h́nh dung là những người như vậy lại tệ đến thế. Chúng tôi, gồm ông Nixon, ông Kissinger, phụ tá của tôi và tôi, gặp nhau ở nhà một sĩ quan chỉ huy hải quân ở Midway. Ở đó có ba chiếc ghế thấp và một chiếc ghế cao. Ông Nixon ngồi trên chiếc ghế cao.

 

Spiegel: Như trong phim Nhà độc tài vĩ đại của Chaplin? Hitler cũng ngồi trên một chiếc ghế cao để có thể nh́n xuống Mussolini, ngồi trên một chiếc ghế thấp hơn.

 

Nguyễn Văn Thiệu: Nhưng tôi vào góc pḥng lấy một chiếc ghế cao khác, nên tôi ngồi ngang tầm với Nixon. Sau buổi gặp đó ở Midway, tôi nghe bạn bè người Mỹ kể lại rằng Kissinger đă rất bất ngờ v́ Tổng thống Thiệu là một người như vốn dĩ vẫn vậy.

 

Spiegel: Trong hồi kư, Kissinger phàn nàn là đă bị cá nhân ông đối xử rất tệ; ông bỏ hẹn để đi chơi trượt nước. Nixon c̣n quá lời hơn. Theo Kissinger th́ Nixon đă gọi ông là “đồ chó đẻ” (son of a bitch) mà Nixon sẽ dạy cho biết “thế nào là tàn bạo”.

 

Nguyễn Văn Thiệu: Rất tiếc, nhưng tôi không thể cho phép ḿnh đáp lại những lời khiếm nhă, thô tục đó của Nixon, v́ tôi xuất thân từ một gia đ́nh có nề nếp.

Nếu tôi không tiếp TS Kissinger và Đại sứ Bunker th́ đơn giản chỉ v́ chúng tôi chưa chuẩn bị xong để tiếp tục đàm thoại. Họ đă cần đến 4 năm, vậy v́ sao lại bắt tôi trả lời ngay lập tức trong ṿng một tiếng đồng hồ? Có lẽ họ sẽ hài ḷng, nếu chúng tôi chỉ biết vâng dạ. Nhưng tôi không phải là một người chỉ biết vâng dạ, và nhân dân Nam Việt Nam không phải là một dân tộc chỉ biết vâng dạ, và Quốc hội của chúng tôi không phải là một Quốc hội chỉ biết vâng dạ. Mà tôi phải hỏi ư kiến Quốc hội.

 

Spiegel: TS Kissinger viết rằng thái độ của ông với ông ấy chủ yếu xuất phát từ “ḷng oán hận độc địa”.

 

Nguyễn Văn Thiệu: Không. Tôi chỉ bảo vệ lợi ích của đất nước tôi. Dĩ nhiên là đă có những cuộc tranh luận nảy lửa, nhưng thái độ của tôi xuất phát từ tinh thần yêu nước của tôi.

 

Spiegel: Kissinger viết rằng ông ấy hoàn toàn “thông cảm với hoàn cảnh bất khả kháng” của ông. Ông có thấy dấu hiệu nào của sự thông cảm đó không?

 

Nguyễn Văn Thiệu: Không, tôi không thấy. Tôi chỉ thấy duy nhất một điều, đó là áp lực từ phía chính phủ Mỹ.

 

Spiegel: Kissinger viết rằng ông không bao giờ tham gia vào các buổi thảo luận về chủ trương chung. Ông ấy bảo rằng ông chiến đấu “theo kiểu Việt Nam: gián tiếp, đi đường ṿng và dùng những phương pháp khiến người ta mệt mỏi hơn là làm sáng tỏ vấn đề”, rằng ông “chê bai mọi thứ, nhưng không bao giờ nói đúng vào trọng tâm câu chuyện”.

 

Nguyễn Văn Thiệu: Hăy thử đặt ḿnh vào t́nh thế của tôi: Ngay từ đầu tôi đă chấp nhận để chính phủ Mỹ họp kín với Hà Nội. Kissinger bảo là đă thường xuyên thông báo cho tôi. Vâng, tôi được thông báo thật – nhưng chỉ về những ǵ mà ông ấy muốn thông báo. Nhưng tôi đă tin tưởng rằng đồng minh của ḿnh sẽ không bao giờ lừa ḿnh, không bao giờ qua mặt tôi để đàm phán và bí mật bán đứng đất nước tôi.  Các ông có h́nh dung được không: vỏn vẹn bốn ngày trước khi lên đường đến Hà Nội vào tháng Mười 1972, ông ấy mới trao cho tôi bản dự thảo mà sau này sẽ được chuyển thành văn bản hiệp định ở Paris, bằng tiếng Anh? Chúng tôi phải làm việc với bản dự thảo tiếng Anh này, từng điểm một.

Và bản dự thảo đó không phải do Nam Việt Nam cùng Hoa Kỳ soạn ra, mà do Hà Nội cùng Hoa Kỳ soạn ra. Các ông có thể tưởng tượng được điều đó không? Lẽ ra, trước hết phía Mỹ nên cùng chúng tôi thống nhất quan điểm về những điều kiện đặt ra cho hiệp định, và sau đó, nếu Bắc Việt có đề nghị ǵ khác th́ Kissinger phải trở lại hội ư với chúng tôi. Nhưng ông ấy không hề làm như vậy.

Thay vào đó, ông ấy cùng Bắc Việt soạn ra các thỏa thuận rồi tŕnh ra cho tôi bằng tiếng Anh. Các ông có thể hiểu cảm giác của tôi khi cầm văn bản của hiệp định ḥa b́nh sẽ quyết định số phận của dân tộc tôi mà thậm chí không buồn được viết bằng ngôn ngữ của chúng tôi không?

 

Spiegel: Nhưng cuối cùng ông cũng có bản tiếng Việt?

 

Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi cương quyết đ̣i bản tiếng Việt, đ̣i bằng được. Măi đến phút cuối cùng ông ấy mới miễn cưỡng chấp nhận. Sau đó chúng tôi phát hiện ra rất nhiều cái bẫy. Tôi hỏi Đại sứ Bunker và Kissinger, ai đă soạn bản tiếng Việt. Họ bảo: một người Mỹ rất có năng lực thuộc International Linguistics College tại Hoa Kỳ cùng với phía Hà Nội. Nhưng làm sao một người Mỹ có thể hiểu và viết tiếng Việt thành thạo hơn người Việt. Và làm sao một người Mỹ có thể ứng đối bằng tiếng Việt với cộng sản Bắc Việt giỏi hơn chính chúng tôi? Đồng minh mà như thế th́ có chân thành và trung thực không?

 

Spiegel: Một số giới chức cao cấp ở Hoa Kỳ từng nhận định rằng thực ra Kissinger chỉ cố gắng đạt được một khoảng thời gian khả dĩ giữa việc Mỹ rút quân và sự sụp đổ tất yếu của Nam Việt Nam. Trong cuốn sách của ḿnh, Kissinger bác bỏ quan niệm đó. Ư kiến của ông th́ thế nào?

 

Nguyễn Văn Thiệu: Bất kể người Mỹ nói ǵ, tôi tin rằng mục đích cuối cùng của chính phủ Mỹ là một chính phủ liên hiệp tại Nam Việt Nam.

 

Spiegel: Nhưng Kissinger đưa ra cả một loạt điểm để chứng minh rằng không phải như vậy.

 

Nguyễn Văn Thiệu: Chính phủ Mỹ t́m cách ép chúng tôi phải đồng ư. Để họ có thể hănh diện là đă thoát ra được bằng một “thỏa thuận danh dự”. Để họ có thể tuyên bố ở Hoa Kỳ rằng: “Chúng ta rút quân về nước, chúng ta bảo đảm việc phóng thích tù binh Mỹ.” Và ở ngoài nước Mỹ th́ họ nói rằng: “Chúng tôi đă đạt được ḥa b́nh cho Nam Việt Nam. Bây giờ mọi chuyện do người dân Nam Việt Nam định đoạt. Nếu chính phủ liên hiệp biến thành một chính phủ do cộng sản chi phối th́ đó là vấn đề của họ. Chúng tôi đă đạt được một giải pháp danh dự.”

 

 

Spiegel: Kissinger viết như sau: “Nguyên tắc mà chúng tôi tuân thủ trong các cuộc đàm phán là: Hoa Kỳ không phản bội đồng minh.”

 

Nguyễn Văn Thiệu: Ông cứ nh́n miền Nam Việt Nam, Campuchia và toàn bộ Đông Dương hiện nay th́ biết. Khi tranh luận với các đại diện chính phủ Mỹ về hiệp định ḥa b́nh, chúng tôi thường có ấn tượng rằng họ không chỉ đóng vai, mà thực tế là đă biện hộ cho ác quỷ.

 

Spiegel: Có bao giờ ông thấy một chút ǵ như là biết ơn đối với những điều mà người Mỹ đă làm để giúp nước ông không? Trong cuốn sách của ḿnh, Kissinger viết rằng: “Biết công nhận những cống hiến của người khác không phải là đặc tính của người Việt.”

 

Nguyễn Văn Thiệu (cười): Về những điều mà Kissinger viết trong cuốn sách của ông ấy th́ tôi cho rằng chỉ một người có đầu óc lộn bậy, chỉ một người có tính khí tởm lợm mới nghĩ ra được những thứ như vậy. Trong cuốn sách đó ông ấy c̣n tỏ ư sợ người Việt sẽ đem những người Mỹ c̣n sót lại ra trả thù, sau khi Washington bỏ rơi chúng tôi. Không bao giờ chúng tôi làm những điều như thế, không bây giờ và không bao giờ.

 

Spiegel: Cá nhân ông có cảm thấy một chút hàm ơn nào với họ không?

 

Nguyễn Văn Thiệu: Hết sức thực ḷng: Nếu chính phủ Mỹ không phản bội, không đâm dao sau lưng chúng tôi th́ nhân dân Việt Nam măi măi biết ơn họ. Có lần, sau khi chúng tôi tranh luận rất kịch liệt về một văn bản trong hiệp định, một số thành viên trong chính phủ của tôi bảo rằng, nếu Kissinger lập công với miền Nam như ông ta đă lập công với miền Bắc th́ may mắn biết bao. Tôi bảo họ: nếu ông ấy thương lượng được một nền ḥa b́nh thực sự với Hà Nội th́ miền Nam sẽ dựng tượng ông ấy, như MacAthur ở Nam Hàn. Nhưng đáng tiếc là đă không như vậy. Nh́n vào những hậu quả của nền ḥa b́nh ấy: trại tập trung cải tạo, nạn đói, nhục h́nh tra tấn, hàng ngàn thuyền nhân bỏ mạng trên biển, và một cuộc diệt chủng tàn bạo hơn, hệ thống hơn và hoạch định hơn cả ở Campuchia, tôi nghĩ tốt nhất là người Mỹ nên tự đánh giá những điều mà ông Nixon và ông Kissinger đă gây ra cho miền Nam Việt Nam. Kissinger không có ǵ để tự hào về nền ḥa b́nh mà ông ấy đă đạt được. Đó là ḥa b́nh của nấm mồ.

 

Spiegel: Xin cảm ơn ông Thiệu đă dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn này.

 

Hết.

----------------------------------------------------

 

 

'The Americans betrayed us' from Der Spiegel (10 December 1979)

 

Caption: In an interview in December 1979 with German weekly Der Spiegel, Nguyen van Thieu, former President of South Vietnam, comments on the content of the memoirs of Henry Kissinger, former US Secretary of State, with regard to the Vietnam War.

Source: Der Spiegel. Das Deutsche Nachrichten-Magazin. Hrsg. AUGSTEIN, Rudolf ; Herausgeber ENGEL, Johannes K.; BÖHME, Erich. 10.12.1979, n° 50; 33. Jg. Hamburg: Spiegel Verlag Rudolf Augstein GmbH. "Die Amerikaner haben uns verraten", p. 197-213.

Copyright: (c) Translation CVCE.EU by UNI.LU

All rights of reproduction, of public communication, of adaptation, of distribution or of dissemination via Internet, internal network or any other means are strictly reserved in all countries. Consult the legal notice and the terms and conditions of use regarding this site.

URL:

http://www.cvce.eu/obj/the_americans_betrayed_us_from_der_spiegel_10_decembe r_1979-en-20035c62-a1c8-44ab-9721-273749085ae4.html

Last updated: 06/07/2016


 

 

‘The Americans betrayed us’

Former South Vietnam President Nguyen Van Thieu on Kissinger’s memoirs and the Vietnam War

 

SPIEGEL:

Mr Thieu, for five years, from 1968 to 1973, the United States tried to negotiate peace for Vietnam. In his memoirs, America’s chief negotiator, Henry Kissinger, describes at length how you, as President of South Vietnam, undermined his efforts to bring peace in a war that had lasted for many years, cost millions of lives and, in his words, seemed destined to ‘break America’s heart’. Why were you obstructive?

 

THIEU:

That is complete nonsense. If I had been obstructive, there would have been no peace settlement in 1973 — although, as everyone knows, it was not a good peace, witness the consequences of the peace in Vietnam. Kissinger represented the policy and interests of the American Administration. As President of Vietnam, I had the task of defending my country’s vital national interests.

I frequently pointed out to President Nixon and to Dr Kissinger that abandoning a few unimportant positions in a little country like Vietnam might not mean very much to a great power like the United States. But for us, it was a matter of life and death for the entire nation.

 

SPIEGEL:

Kissinger does not deny that you eventually agreed to the peace settlement. But he does say that the main reason why it took so long was that you were so obstructive and the real reason why you never challenged America’s proposals was that you calculated that all of them would be rejected by Hanoi.

 

THIEU:

That is not true. It takes more than just two or three days, or two or three months, to end a war that has been going on for almost 30 years. I realise that this war, in which the United States had come to our aid, was the longest in its history. Perhaps that is why the Americans were in such a hurry. We, however, needed a lasting peace.

 

SPIEGEL:

Kissinger suggests that you did not really want a peace settlement and that you hoped that the North

Vietnamese would be as stubborn as you were. He claims that it was for that reason that you agreed to many American proposals but never intended to abide by them because, at all events, you did not believe that an agreement would be reached. Did you bluff during the negotiations in the hope that you would never have to put your cards on the table?

 

THIEU:

No. A nation that had suffered so much over more than 30 years cannot be accused of seeking to protract the war. Kissinger wanted to move quickly so that US troops could be withdrawn and American prisoners of war released. And perhaps the US Administration also intended to get out in a hurry, to ‘cut and run’.

They could get out. We had to stay in South Vietnam.

We had every right to demand a comprehensive peace settlement — not just two or three years of peace and then another 30 years of war.

 

SPIEGEL:

So why did you anticipate the Americans, as Kissinger reports, by proposing the withdrawal of US troops yourself, at the meeting on Midway in the Pacific in June 1969?

 

THIEU:

Even before the meeting on Midway it was no secret that the US Administration intended to withdraw its troops. May I remind you that news of the plan to withdraw some US troops had been reported worldwide before the Midway meeting? Why? I suppose that the US Administration wanted to fly a kite, leak the story to the press and present us with a fait accompli.

 

SPIEGEL:

So you were already in the picture?

 

THIEU:

Yes. The Midway meeting served two purposes. It gave the two new Presidents an opportunity to get to know each other and discuss Vietnam. The second, clearly defined item on the agenda was the initial withdrawal of American troops. I was under no illusions, and I had a clear grasp of the situation. There was nothing to worry about, and I felt very confident.

 

SPIEGEL:

When you proposed the troop withdrawal, did you really believe that you could conduct and, eventually, win the war on your own — a war that more than 540 000 American troops and the mighty US military machine had been unable to win? That is hard to believe.

 

THIEU:

No, I did not in fact propose it. I merely acquiesced. I agreed to the initial withdrawal of American troops because President Nixon told me that he had domestic problems and that the withdrawal would be purely symbolic. He had to have public opinion and Congress behind him. But I also told him that he must make sure that Hanoi did not see the initial troop withdrawal as a sign of US weakness.

 

SPIEGEL:

And you didn’t think that it was the beginning of a complete withdrawal?

 

THIEU:

No. I could imagine that it might be the first step in a move to reduce troop numbers. I could never imagine that America would leave altogether and abandon South Vietnam. I told President Nixon that the reduction should be made gradually, as and when the strike power and consolidation of the South Vietnamese army permitted — depending on the military and economic aid that would enable Vietnam to stand on its own feet.

Even more important, I suggested that he might invite Hanoi to make a similar gesture in return. The Americans entirely agreed with me about a gradual and mutual …

 

SPIEGEL:

… and symbolic withdrawal?

 

THIEU:

I realised that the Vietnam War was also causing a domestic problem in the US. And President Nixon told me that he needed a symbolic gesture to solve it.

When I was in Seoul and Taiwan the week before, I told President Park Chung Hee and President Chiang

Kai-shek that I hoped that the troop reduction that I was to discuss with President Nixon in our talks on Midway would be purely symbolic. But I did point out that we could not prevent the US from withdrawing altogether if it wanted to. So it would make much more sense to ask them to withdraw gradually and, at the same time, provide aid to enable us to build up a strong, modern South Vietnamese army to replace the Americans. I never supposed that US troops would stay in Vietnam for ever.

 

SPIEGEL:

American troops stayed in South Korea and West Germany.

 

THIEU:

But we are a very proud people. We told them that we needed aid and weapons but that we had plenty of blood in our veins and plenty of men.

 

SPIEGEL:

How would you describe your situation at that time? Only a few months earlier, the US Defense Secretary, Melvin Laird, had coined a new term: ‘Vietnamisation’. The Americans had previously spoken of ‘deAmericanising’ the war. Didn’t this new term alone make it clear that America intended to withdraw quite quickly?

 

THIEU:

When Mr Nixon came to Saigon in July 1969, he repeated that he had to have the American public behind him. I understood his position. But he never explained that withdrawal meant reductions on a systematic timetable and at America’s initiative. He spoke only of his domestic difficulties in the United States and asked me to help him. He said: ‘Help us to help you.’ I replied: ‘I will help you to help us.’ At that meeting, we again spoke of gradual withdrawal.

 

SPIEGEL:

But not a definite timetable?

 

THIEU:

No. And Mr Nixon again promised that any withdrawal would be matched by similar measures on the part of North Vietnam, would be consistent with South Vietnam’s defence capability and would be accompanied by further military and economic aid to South Vietnam.

 

SPIEGEL:

Did you realise at the time that America had already decided on unilateral withdrawal, if necessary?

 

THIEU:

Yes, I suspected it. But at that time I was still very confident and trusted our great ally.

 

SPIEGEL:

Perhaps you were right to do so. It is fairly clear from Kissinger’s book that the Nixon Administration could not simply ‘walk away from an operation involving two administrations, five allied countries and thirty-one thousand dead as if we were switching a television channel’.

The Americans clearly wanted a way out of Vietnam by negotiation. They did not want to withdraw unilaterally unless they had to. Did you make any demands in regard to the negotiations between Washington and Hanoi?

 

THIEU:

We had had enough of the war, and we were determined to end it by negotiation. We demanded that the forces that had invaded our country must withdraw, that was all.

 

SPIEGEL:

You have complained that South Vietnam’s collapse in 1975 was attributable mainly to the fact that North Vietnamese troops were allowed to remain in the South even after the Paris Peace Agreement had been signed. You claim that you tolerated their presence only while the agreement was being negotiated and that they ought to have withdrawn once the negotiations were concluded.

But Kissinger claims in his book that you were well aware that the North Vietnamese would remain in the South and that you raised no objections to the American proposals on the subject until October 1972.

 

THIEU:

It is a most unmannerly lie on Kissinger’s part to say that I agreed to North Vietnamese troops remaining in the South. If I had agreed from the beginning, as Kissinger claims, I would not have objected so strongly when he showed me the draft agreement, which included nothing about the withdrawal of North Vietnamese troops.

That was the most important point that I was fighting for, throughout the peace negotiations. Right to the very end, I asked Kissinger to demand that Hanoi withdraw its troops and made it clear to him that there would be no agreement unless it did so.

After days of heated discussion, Kissinger finally confessed to me: ‘Mr President, it cannot be done. If it could be done, I would have done it. The question was raised three years ago, but Russia would not have it.’ I then realised that the American Administration had yielded to Russian demands, and that was my greatest disappointment.

 

SPIEGEL:

Perhaps the Russians had no alternative, since the North Vietnamese refused to regard South Vietnam as a foreign country and, for a time, even denied that it had any regular troops in the country.

 

THIEU:

We were at war for more than 20 years, and we learned never to believe what Russia and North Vietnam said. North Vietnam had troops in Laos and Cambodia and South Vietnam, and I thought that even a blind man could have seen that. To end the war, we had to look at the facts and not listen to what the enemy was saying.

 

SPIEGEL:

Did you put these points to Kissinger?

 

THIEU:

Certainly, and also to General Haig. I asked him: ‘General Haig, you are a general and I am a general. Do you know of any peace treaty in history that allowed enemy forces to remain in the country that they had invaded?’ I asked him: ‘Would you let Russian troops remain in the United States and say you had reached a peace settlement with Russia?’

 

SPIEGEL:

What did he say?

 

THIEU:

He didn’t say anything. How could he — it was so absurd. What could he say?

 

SPIEGEL:

Kissinger gives an answer in his book. He says that the North Vietnamese could not very well be made to withdraw their troops, as Hanoi would not yield at the conference table what it had not been forced to give up on the battlefield. But he adds that the Paris Agreement included a clause prohibiting further infiltration and concludes that: ‘this would cause the North Vietnamese forces in the South to atrophy owing to natural attrition.’

 

THIEU:

When it comes to negotiating with Communists, it seems to me that the US Administration, and

Dr Kissinger in particular, have learned absolutely nothing from France’s unhappy experiences with the

Communists in 1954 or from the Korean War. They have learned nothing from the negotiations on Laos and Cambodia. They do not know how to deal with Communists or how to interpret their strategy and tactics.

So we come back to the problem of how Dr Kissinger, who represented a great nation and boasted that he was its best negotiator, could think that North Vietnamese troops would not infiltrate South Vietnam. How could he think that?

Could he keep a watch on every inch of the frontiers between Cambodia and Laos and South Vietnam? Even if we had had a million international monitors, we could never have proved that there was no infiltration. How could he believe what the North Vietnamese said. He might believe the Communists but we couldn’t. That was why I persisted in demanding that the North Vietnamese withdraw. If they really wanted peace, why did they want to stay?

 

SPIEGEL:

What did Kissinger say to that?

 

THIEU:

What could he say? What he and the American Administration actually wanted was to withdraw as quickly as possible and secure the release of the American prisoners. They told us they wanted an honourable solution, but they really wanted to be shot of the whole thing and to get out as fast as they could without being blamed by the Vietnamese and all the rest of the world for leaving us in the lurch. That was their problem.

 

SPIEGEL:

In his book, Kissinger writes that, immediately after the North Vietnamese Spring Offensive in 1972, the roles seemed to be reversed. The North Vietnamese suddenly wanted to resume negotiations, while South Vietnam wanted to fight on until victory was won.

 

THIEU:

Absolute nonsense! What does Dr Kissinger understand by victory? North Vietnam had made war on South Vietnam. We wanted it to withdraw. Is that victory? I never demanded that the North Vietnamese be regarded as prisoners of war in South Vietnam. I never demanded that North Vietnam pay reparations for war damage. I never demanded that North Vietnam make territorial concessions. I never demanded seats in the government in Hanoi. So what does Kissinger understand by victory and total victory?

 

SPIEGEL:

On the issue of North Vietnamese withdrawal, 31 May 1971 is an important date. According to Kissinger, it was at that point in their secret talks that the Americans gave up the demand for mutual withdrawal. Dr Kissinger states at least three times in his book not only that you had been informed of this in advance but also that you had agreed.

 

THIEU:

I never agreed to unilateral withdrawal. After the Midway meeting, I always demanded gradual and mutual withdrawal. The US changed its position and employed its usual tactics in an attempt to force us to acquiesce — holding the Sword of Damocles over my head, citing public opinion in the US with remarks such as: ‘You have a very bad image in the US now!’ Or: ‘Congress will cut off aid.’ And so on. They used the same old tactics, leaking stories to the press and presenting me with a fait accompli.

If I refused, public opinion would turn against me: ‘He is demanding too much, he will never let the US withdraw, he will never let the American prisoners return home.’ So I always had to give in. Not willingly, but unwillingly. How could I resist, when they constantly said: ‘Your aid will be cut if you don’t play ball.’

 

SPIEGEL:

Kissinger says that you were always consulted in advance about every American decision, of whatever kind.

THIEU:

Yes, they consulted me, but they certainly didn’t want to hear me say ‘no’ when the decisions in question served American interests. In most cases, however, pressure got them almost everything they wanted.

 

SPIEGEL:

Kissinger is now bitterly critical of the 1971 Laos offensive. He says you thought a dry-season offensive was imperative. So whose idea was it, originally?

 

THIEU:

Theirs. We had wanted to mount such an offensive once, long before, but we could not do it alone. Now that the Americans proposed it, we gladly agreed in order to end the war more quickly. It was a joint

Vietnamese-American operation, with very clearly defined roles: South Vietnamese troops were to conduct the operation in Laos, and US troops were to get supplies out of Vietnam and from the border to the theatre of operations.

 

SPIEGEL:

Why? Because the US Congress had expressly forbidden American troops to enter Laotian territory.

 

THIEU:

So I believe. But also because we had not the means to get supplies to our troops and, most important, to fly out our wounded. That could only be done by helicopter, and the Americans were the only ones with enough helicopters. Without them, we would never have agreed to conduct the operation in Laos.

 

SPIEGEL:

Kissinger says that your troops had problems in presenting requests for air support because Vietnamese units had practically no trained ground controllers who could speak English.

 

THIEU:

There were absolutely no problems with air support. It did not worry us if we occasionally had no air support; we had our artillery. The problem was that the Americans lost a great many helicopter pilots in the first three days of the operation. They were consequently reluctant to continue taking off on schedule and in the necessary numbers. That became a great problem for the South Vietnamese troops.

 

SPIEGEL:

Did morale break down?

 

THIEU:

We could not fly our dead and wounded out. That affected not only morale but also the conduct of the operation.

 

SPIEGEL:

Kissinger suggests a different reason why the operation failed. He says that you had ordered your

commanders to be careful in moving west and to stop the operation altogether as soon as they had suffered 3 000 casualties. Kissinger claims that the Americans would never have approved the plan had such a restriction been communicated to them.

 

THIEU:

To a military man, the idea of setting a limit on casualties in advance is absurd. Dr Kissinger is being very imaginative when he says that. We could only move west as far as the evacuation helicopters could fly. Kissinger claims that we withdrew our troops without informing the Americans. How could we have withdrawn more than 10 000 men without the Americans noticing?

 

SPIEGEL:

So you did inform them?

 

THIEU:

Oh yes. And let me tell you a story. A picture of a South Vietnamese soldier clinging to the landing gear of a helicopter was published in Time or Newsweek at the time, with the caption ‘rabbit’. I just smiled. I found it appalling. One isolated soldier cannot be prevented from doing something like that. But the press was branding South Vietnamese troops as rabbits and, at the same time, completely suppressing the truth about the American helicopter pilots’ lack of fighting spirit in this operation.

 

SPIEGEL:

One serious bone of contention between the Americans and the South Vietnamese was the cease-fire. According to Kissinger, the US Administration had decided as early as summer 1970 to propose a cease-fire on the existing front lines. Kissinger claims that you not only agreed but approved it.

 

THIEU:

That is true. I also took the view that a cease-fire was an essential first step towards fulfilling the obligations of a peace agreement. But, on the question of an immediate — and I repeat: immediate — cease-fire, I never agreed with Kissinger. I said that we must consider it very carefully. A cease-fire could not be declared until there had been some careful thought about who was to monitor it, what was to happen in the event of a violation, where the troops were to be stationed, and so on.

 

SPIEGEL:

Kissinger writes: ‘We still thought we were operating in tandem with Thieu.’ The Americans did not grasp that you were applying to them the ‘elusive tactics Vietnamese reserve for foreigners’.

 

THIEU:

It never occurred to us that a small country like ours — which owed almost everything to a great ally and which was still asking for long-term aid — could play any tricks.

 

SPIEGEL:

But you must have thought the war was finally lost when the Americans withdrew and the North Vietnamese were allowed to keep their troops in South Vietnam?

 

THIEU:

Not necessarily, if we had only continued to receive enough aid from the United States, as the US

Administration had promised when we signed the agreement. Even as we signed the agreement, I thought it was a drôle de paix — a phoney peace.

But we still believed that we could resist any North Vietnamese aggression, should they violate the terms of the peace settlement. We had two grounds for this belief: first, we had a written assurance from President Nixon that the USA would respond with full force should the settlement be violated.

 

SPIEGEL:

Although he never said how.

 

THIEU:

Second, we were to receive adequate military and economic aid for as long as we needed it to resist North Vietnamese aggression. Had the US Administration kept that promise, the war might still be going on, but the North Vietnamese would not have overrun South Vietnam.

 

SPIEGEL:

You and Kissinger are more or less agreed on this point. He writes that the whole strategy might have succeeded if the Americans had been in a position to act on every violation of the peace settlement by the North Vietnamese and to continue to provide South Vietnam with enough aid. What went wrong? Kissinger blames Watergate and the erosion of executive authority. Do you think that Watergate was really responsible for the debacle?

 

THIEU:

I am sorry, but I am not an American. It is not my business to clean up their front yard. But, if they had kept their promise, that would have been the best deterrent against further aggression on the part of the North Vietnamese and might have ended the war.

 

SPIEGEL:

If the USA had kept its promise, do you think that the agreement might have led to a successful outcome overall?

 

THIEU:

I believe it could.

 

SPIEGEL:

So, on the whole, the Paris Agreement was not so bad?

 

THIEU:

It was certainly not a good agreement for us. It was phoney. But it was a last resort. You must understand

that we only signed because — as I have explained — we had an assurance from the American Administration and because the Agreement was guaranteed by twelve States and the United Nations.

 

SPIEGEL:

Dr Kissinger makes caustic comments in his book about a great many leading politicians. But he seems to have reserved his most withering scorn for you. Although he admires your ‘intelligence’, your ‘courage’ and your ‘cultural background’, he dwells at length on your ‘outrageous conduct’, your ‘insolence’, your ‘ruthless egotism’ and your ‘egregious, almost maniacal tactics’ in dealings with the Americans. These, he says, managed to generate in him ‘that impotent rage by which the Vietnamese have always tormented physically stronger opponents’. What do you say to all these labels in Kissinger’s memoirs?

 

THIEU:

I would rather not answer. I would rather not talk about him. He can think what he likes about me, good or ill. I would rather talk about what really happened between the United States and South Vietnam.

 

SPIEGEL:

Did you perhaps give him reason to write about you in this disparaging way?

 

THIEU:

Perhaps he was surprised at having to deal with people who were so intelligent and so capable. Perhaps it also has something to do with the superiority complex of a very vainglorious man. Perhaps he cannot believe that a Vietnamese interlocutor is equal to engaging with a man who thinks he is so important.

Let me tell you another story: I was amused on Midway because I could never have imagined that people like that would be so shabby. On that occasion, Mr Nixon, Mr Kissinger, my assistant and I met in the US naval commander’s house. There were three low chairs and one higher chair. Mr Nixon sat on the higher chair.

 

SPIEGEL:

Just like Chaplin’s film ‘The Great Dictator’? In that case, Hitler sat on a high chair so that he could look down on Mussolini sitting on a lower one.

 

THIEU:

But I fetched another, equally high, chair for myself from the dining recess, so as to be on a level with Nixon. After the Midway meeting, I heard from my American friends that Kissinger had never expected President Thieu to be the man he is.

 

SPIEGEL:

Kissinger complains in his book that you treated him badly in your personal dealings; that you missed appointments to go waterskiing. Nixon went even further. According to Kissinger, he called you a ‘son-of-abitch’ and said: ‘Brutality is nothing. You have never seen it if this … doesn’t go along’.

 

THIEU:

I am sorry, but I have nothing to say about that. I was well brought up, and I must decline to reply to such unseemly or vulgar remarks.

If I did not receive Dr Kissinger and Ambassador Bunker, it was simply because we had not yet reached a point where we could continue the talks with them. They had taken four years, so why should I be forced to give my answer in an hour. If the Americans can take their time, why shouldn’t I? It would have suited them if we had been yes-men. But I am not a yes-man, and the South Vietnamese are not a nation of yes-men; our Congress is not a Congress of yes-men. I have to consult them.

 

SPIEGEL:

Dr Kissinger writes that your attitude towards him was ultimately determined by ‘venomous hatred’.

 

THIEU:

No. I was just defending my country’s interests. There were certainly some heated discussions, but my attitude was always governed by patriotic motives.

 

SPIEGEL:

Kissinger writes that he had some understanding for the ‘near impossible position’ in which you found yourself. Did you detect any signs of that understanding?

 

THIEU:

No. All I detected was pressure from the US Administration.

 

SPIEGEL:

Kissinger writes that you never engaged in a conceptual discussion. He says that you ‘fought in the Vietnamese manner: indirectly, elliptically, by methods designed to exhaust rather than clarify, constantly needling but never addressing the real issue’.

 

THIEU:

Put yourself in my place. I agreed from the beginning that the US Administration should engage in secret talks with Hanoi. Kissinger says that I was always kept informed. Yes, I was informed — I was told what he chose to tell me. But I trusted my ally never to deceive me, make deals over my head and secretly sell my country out.

But, can you imagine, only four days before he left for North Vietnam in October 1972, he presented me with the draft agreement that was to be initialled in Paris, in English? We had to consider the draft in English, point by point.

And the draft had not been produced by the South Vietnamese and the US but by the North Vietnamese and the US. Can you imagine that? The logical course would have been for the South Vietnamese and the Americans to agree on the conditions for a peace settlement first and for Kissinger then to come back to us if the North Vietnamese put forward any counter-proposals. He did not do that.

Instead, he drafted the terms of the agreement jointly with the North Vietnamese and presented them to me in English. This was the peace agreement that would decide our fate. Can you imagine how I felt when we could not even see the text in our own language?

 

SPIEGEL:

But you eventually received a Vietnamese version?

 

THIEU:

We insisted and insisted and insisted, and then, at the last minute, he agreed, though certainly unwillingly.

And then we found numerous pitfalls. I asked Ambassador Bunker and Dr Kissinger: ‘Who produced the

Vietnamese text?’ They replied: ‘A very capable American from the International Linguistics College in the

United States, in collaboration with the North Vietnamese.’ But no American can understand and write

Vietnamese better than a Vietnamese. And no American can deal with the Vietnamese Communists in the Vietnamese language better than we can. Was that honourable and upright conduct on the part of an ally?

 

SPIEGEL:

Senior government officials in the USA are said to have thought at one time that all Kissinger sought was a decent interval between American withdrawal and a final collapse of Saigon. Kissinger says in his book that that is not correct. What do you think?

 

THIEU:

Whatever the Americans say, I am convinced that the US Administration’s final aim was a coalition government in South Vietnam.

 

SPIEGEL:

Kissinger produces a great deal of evidence to show that that was not the case.

 

THIEU:

The American Administration tried to force us to agree to it. If we had, they could have prided themselves on getting shot of the whole thing with an ‘honourable agreement’. They could have told their people at home: ‘We are withdrawing our troops, and we are securing the release of our prisoners’. And they could have told the rest of the world: ‘We have brought peace to South Vietnam. Now it is up to the South Vietnamese. If a coalition government turns out to be Communist-dominated, that is their problem. We have reached an honourable solution.’

 

SPIEGEL:

Kissinger writes: ‘We had one principle in the negotiations: America does not betray its friends.’

 

THIEU:

Well, look at the position today in South Vietnam, in Cambodia, all over Indo-China. When we discussed the peace agreement with representatives of the American Administration, we often had the impression that they were not only playing the devil’s advocate, they really were the devil’s advocate in action.

 

SPIEGEL:

Did you ever feel any kind of gratitude for what the Americans did to help your country? Kissinger says in his book: ‘Appreciation for services rendered is not a Vietnamese trait.’

 

THIEU (laughing):

With regard to what Kissinger writes in his book, I think that only a man with a twisted spirit could imagine such a thing — only a man with an awkward temper. He implies in his book that he was afraid that the Vietnamese might take revenge on Americans who stayed behind after Washington had abandoned us. We would never do such a thing — not now, not ever.

 

SPIEGEL:

Did you personally feel any kind of gratitude?

 

THIEU:

I can honestly say that, if the American Administration had not betrayed us and stabbed us in the back, the

Vietnamese people would have been eternally grateful. Once, after we had had a heated discussion with Kissinger about the wording of the peace settlement, some members of my government said it would have been a lucky day for us if Kissinger had done as much for South Vietnam as he had for North Vietnam. I told them that if he could negotiate a genuine peace with the North Vietnamese, he could have his own monument in South Vietnam just like the statue of MacArthur in Korea. Unfortunately it did not turn out that way.

In view of the consequences of the peace, I think that it is best that the Americans themselves judge what Mr Nixon and Mr Kissinger have done to South Vietnam: concentration camps, famine, torture, thousands of boat people lost in the Pacific Ocean and a genocide that is far more terrible, more planned and systematic than the genocide in Cambodia. Kissinger has no reason to be proud of the peace that he has brought. It is the peace of the grave.

 

SPIEGEL:

Thank you, Mr Thieu, for talking to us.

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính