Chuyện kể về trung đoàn 56/ SĐ 3 Bộ Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà và trung tá Phạm Văn Đính.

 

Phạm Thắng Vũ

 

 

Khi sự việc này xẩy ra th́ quân đội Hoa Kỳ vẫn c̣n có mặt tại miền Nam Việt Nam Cộng Ḥa.

 

Trung Đoàn 56 Bộ Binh (TĐ56BB) là 1 trong 3 trung đoàn của sư đoàn 3 Bộ Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa (QLVNCH), 2 trung đoàn kia là trung đoàn 2 và 57. Trung đoàn nầy đóng quân tại căn cứ Carroll (Cộng Sản Bắc Việt gọi là căn cứ Tân Lâm), một căn cứ quân sự lớn nhất trong tỉnh Quảng Trị do quân đội Hoa Kỳ bàn giao lại cho QLVNCH và do trung tá Phạm Văn Đính (PVĐ) chỉ huy. Carroll là tên của 1 đại úy Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ tử trận trong cuộc hành quân Prarie ở khu vực nầy vào năm 1966 (do đó đă được người Mỹ lấy tên để gọi cho căn cứ). Địa h́nh của căn cứ rất lư tưởng cho việc pḥng thủ v́ ṿng đai pḥng thủ xây theo h́nh ngũ giác trên một ngọn đồi trống, quân trú pḥng có thể quan sát bốn hướng từ xa. Tháng 3 năm 1972, trong căn cứ có khoảng 2000 quân nhân của TĐ56BB với 22 súng đại bác bao gồm 105 ly, 155 ly và 175 ly cùng vài chiến xa Duster hạng nhẹ (trang bị đại bác 40 ly). Nh́n từ góc độ pḥng ngự, TĐ56BB trong căn cứ Carroll có thể cầm chân cả một sư đoàn địch (tức Cộng Sản Bắc Việt) dễ dàng.

 

Vậy mà TĐ56BB lại đầu hàng Cộng Sản Bắc Việt trong ngày 3 tháng 4 năm 1972, điều mà không ai (kể cả tướng Vũ Văn Giai khi đó là tư lệnh sư đoàn 3 Bộ Binh) có thể tin nó xẩy ra được. Trước khi đầu hàng th́ trong căn cứ có sự tăng phái của một pháo đội 105 ly của Thủy Quân Lục Chiến QLVNCH (pháo đội B1-tiểu đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến) và đơn vị nầy cùng các quân nhân khác trong TĐ56BB đă không chấp nhận ư định đầu hàng của trung tá PVĐ nên họ đă rút bỏ khỏi căn cứ (theo hướng Đông) và về được các pḥng tuyến của QLVNCH. Họ, kể lại việc đầu hàng như sau: Khi liên lạc với tướng Vũ Văn Giai xin được yếm trợ (tăng viện và yểm trợ pháo binh cùng không quân cho căn cứ) trước t́nh trạng bị quân Cộng Sản Bắc Việt bao vây mà không nhận được sự đáp ứng đầy đủ. Trung tá PVĐ đă cho họp các sĩ quan trong đơn vị để lấy quyết định sau cùng (tử thủ hoặc ra hàng). Sau khi có quyết định đầu hàng, trung tá PVĐ đă t́m cách liên lạc (bắt tần số vô tuyến truyền tin) với đại diện của quân Cộng Sản Bắc Việt trong vùng. Ông đă được hướng dẫn mang cờ trắng cùng số quân nhân đồng ư đầu hàng (trên 600 người) ra khỏi trại và đến điểm hẹn với phía Cộng Sản Bắc Việt (do đại úy Bùi Văn Khuyên thuộc Trung đoàn 38 Bông Lau chờ sẵn). Trước lúc đó th́ trung tá William Camper, cố vấn Mỹ của TĐ56BB đă gọi về Trung tâm Hành quân của Sư đoàn 3 BB cho biết nhiệm vụ của ông ta ở căn cứ Carroll chấm dứt và xin được di tản bằng trực thăng.

 

Cá nhân trung tá PVĐ không phải là một sĩ quan thường. Ông có nhiều chiến công trong các trận đụng độ với Cộng Sản Bắc Việt tại chiến trường Quảng Trị-Thừa Thiên từ năm 1964 đến 1971, qua các chức vụ trung đội trưởng, đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng, rồi trung đoàn trưởng TĐ56 BB (khi mới 30 tuổi). Đặc biệt là ông là người thượng kỳ lá cờ Việt Nam Cộng Ḥa trên kỳ đài Thành Nội Huế trong trận Mậu Thân-1968 (chỉ huy đại đội Hắc Báo-Sư đoàn 1 Bộ Binh).

 

Nhận định về trường hợp của trung tá PVĐ, cựu trung tướng Ngô Quang Trưởng đă viết trong hồi kư như sau: “Sư đoàn 3 BB đă không yểm trợ cho trung tá PVĐ đầy đủ và quân đoàn 3 cũng đă quên ông, ông muốn được triệt thoái khỏi căn cứ bị bao vây nhưng Tướng Giai lại không chấp thuận (gần như buộc phải tử thủ). Nhận thấy không c̣n hy vọng và muốn bảo vệ tính mạng của binh sĩ của ḿnh càng nhiều càng tốt nên trung tá PVĐ (cùng số đông các sĩ quan khác) đă chọn con đường đầu hàng”.

 

Thiếu tá Tôn Thất Măn, tiểu đoàn trưởng TĐ 1/56 kể lại th́ các sĩ quan dự cuộc họp quyết định trong ngày 2 tháng 4 năm 1972 đó gồm:

– Trung tá Phạm văn Đính – Trung đoàn trưởng

– Trung tá Vĩnh Phong – Trung đoàn phó

– Thiếu tá Thuế – Pháo Binh, phụ tá hỏa lực

– Thiếu tá Tôn Thất Măn – Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1/56

– Đại úy Hoàng Quốc Thoại – Trưởng ban 3

– Đại úy Nhơn – Trưởng ban 2

– Đại úy Hoàng Trọng Bôi – Pháo đội trưởng 175

– Đại úy Nguyễn Văn Tâm – Pháo đội trưởng TĐ1/PB/TQLC.

– Trung úy Lê Văn Kiểu – Pháo đội 105

– Thiếu úy Thái Thanh B́nh – Chi đội trưởng Thiết Giáp

– … một số sĩ quan khác không rơ tên.

 

Trung tá PVĐ nói về t́nh h́nh nguy ngập của căn cứ Carroll sau 3 ngày bị phía Cộng Sản Bắc Việt pháo kích dữ dội, mặc dầu chưa có bộ binh địch tấn công, nhưng khả năng của đơn vị trú pḥng không thể cầm cự lâu dài v́ không có viện binh, không có không quân yểm trợ… Trung tá PVĐ đă tŕnh với tướng Vũ Văn Giai và được trả lời toàn quyền quyết định, tiếp đó ông đưa ra 3 hướng giải quyết để các sĩ quan có mặt trong buổi họp lựa chọn:

1.     Tử thủ, chiến đấu đến giây phút cuối cùng

2.     Mở đường máu để rời khỏi căn cứ

3.     Đầu hàng

 

Thiếu tá Tôn Thất Măn đă chọn 1 trong 2 điều trên (tử thủ hoặc mở đường máu để rút khỏi căn cứ) và kết quả là ông đă bị phiá Cộng Sản Bắc Việt bỏ tù 12 năm (sau khi đă phải buộc đầu hàng). Ông kể tiếp: “Sáng ngày 2 tháng 4 năm 1972, sau khi trung tá Đính thông báo lệnh đầu hàng, ngoài ông th́ c̣n 2 sĩ quan khác chống lại (sau khi trở về đơn vị của ḿnh), đó là đại úy Nguyễn Văn Tâm  và thiếu úy Thái Thanh B́nh. Ngay giờ phút ấy, hai cố vấn Mỹ trong trung đoàn liên lạc được với trực thăng đang tiếp tế cho căn cứ Mai Lộc gần đó đă đáp xuống để bốc các vị này đi, một số quân nhân VNCH lên theo, trong đó có thiếu úy B́nh. Lúc này trung tá PVĐ ra lệnh đại úy Nhơn, trưởng ban 2, cởi chiếc áo lót màu trắng ra treo trước cổng để làm tín hiệu chấp nhận đầu hàng”. Chuyện cờ trắng như vừa tŕnh bày là do Thiếu tá Tôn Thất Măn kể, nhưng theo thiếu tá Hà Thúc Mẫn được đại úy Hoàng Quốc Thoại, trưởng Ban 3 thuật lại lúc cùng nhau ở trong trại tù Cộng Sản Bắc Việt th́ trung tá PVĐ lệnh cho trung sĩ Sừng xé tấm drap trải giường làm đôi. Trong một bài tùy bút của Nguyễn Thắng, phóng viên chiến trường của Cộng Sản Bắc Việt cũng viết: Sau khi sai lính lấy tấm vải trắng trải giường nằm, kéo lên cột cờ, anh Đính đă gọi cho chúng tôi “Alô, Bông Lau đâu, đă trông thấy cờ trắng chưa?”. Làm đúng theo điều kiện của cấp chỉ huy Trung đoàn 38, Pháo Bông Lau (kéo cờ trắng, bắt 2 cố vấn Mỹ cùng ra hàng, để nguyên vũ khí cùng phương tiện chiến đấu tại chỗ và chỉ huy cùng binh sĩ đi thành hàng đôi theo con đường duy nhất đi đến căn cứ Đầu Mầu sẽ có cán bộ ra đón), các quân nhân của TĐ56BB trong căn cứ Carroll ra hướng quốc lộ 9 theo thứ tự cấp bậc Tá, Úy, Hạ Sĩ Quan, binh sĩ. Cộng Sản Bắc Việt tách riêng bốn sĩ quan cấp Tá khỏi số tập thể quân nhân TĐ56BB. Sáng ngày hôm sau (3 tháng 4), tất cả quân nhân bị áp tải ra Bắc, chiều tối, lúc đến Bến Than, Bến Tắt chuẩn bị vượt sông Bến Hải th́ thiếu tá Tôn Thất Măn cùng một số khác đă t́m cách bỏ trốn, tuy nhiên lúc này địch quân đă được báo động để lùng sục, nên sau 5 ngày đào thoát, họ bị bắt lại. Riêng đại úy Nhơn, trưởng ban 2 trốn được, lần t́m về khu vực Ái Tử, và v́ ông này có hành động ǵ đó làm cho các chiến sĩ Thủy Quân Lục Chiến nghi ngờ, tạm giữ rồi chuyển giao cho an ninh quân đội (Đà Nẵng) điều tra. Có lẽ đại úy Nhơn là người cầm cờ trắng ra trước cổng căn cứ Carroll để làm tín hiệu chấp nhận đầu hàng?

 

 

 

Thiếu tá Tôn Thất Măn kể thêm: “Đoàn hàng binh đi bộ 10 ngày đến Quảng B́nh, tại đây có xe đưa ra Thanh Hóa và lên tàu hỏa đến trại giam Bất Bạt ở Sơn Tây. Thời gian này liên tục bị hỏi cung, viết bản tự khai, kiểm điểm. Đặc biệt là công an bắt tất cả những sĩ quan có đi du học bên Mỹ phải tường tŕnh đầy đủ những ǵ đă lănh hội được và giao cho ông Phạm Văn Đính tổng hợp tŕnh lên chúng. Trong khoảng thời gian này, lănh đạo trại giam mở đợt vận động tuyên truyền, kêu gọi tất cả sĩ quan đứng lên tự giác từ bỏ lư lịch căn cước quân nhân QLVNCH để trở về với cái gọi là Quân Đội Nhân Dân. Tôi phản đối chiêu bài này. Khi được trực tiếp đặt vấn đề, tôi nói với tên thiếu tá Cộng Sản Bắc Việt Nguyễn Phương: Ngay từ lúc c̣n ở căn cứ Carroll, tôi đă chống lại việc đầu hàng của trung đoàn trưởng, mặc dầu mọi người đều im lặng, nhưng lúc đó tôi không nghĩ đến sự an nguy của tính mạng ḿnh và đă chống đối đến cùng. Đời lính thắng bại là chuyện thường t́nh, bây giờ tôi sa cơ thất thế bị phía các ông bắt, hăy xem tôi như là một tù binh chiến tranh, tôi hoàn toàn chấp nhận vị trí ấy, tôi luôn luôn trung thành với lư tưởng mà tôi đă phụng thờ: TỔ QUỐC-DANH DỰ-TRÁCH NHIỆM, đồng thời tôi không phản bội những chiến hữu dưới quyền đă hy sinh”.

 

 

Những ngày tháng nằm trong xà lim Cộng Sản Bắc Việt, ông kể  thêm:  Không đau đớn cho thân xác bởi cực h́nh và thiếu đói, mà xót xa nhiều điều. Mười năm lính, lúc ở sư đoàn 25 Bộ Binh, t́nh h́nh tương đối yên tĩnh, chủ yếu là lo công tác an ninh, bảo vệ dân chúng an tâm làm ăn trong những vùng xa thường bị Việt Cộng về quấy rối… Nhưng khi được trở về chiến đấu trên quê hương Trị Thiên là thời kỳ gian khổ, ác liệt nhất. Có những thời khắc, mạng sống như ngh́n cân treo sợi tóc, phải chiến đấu để chiếm từng thước đất, ngọn đồi, từng bờ tường, con phố… tôi đă dẫn đơn vị đi qua và chiến thắng. Thế mà đến đầu tháng 4 năm1972, đó chưa phải là giờ thứ 25 của cuộc chiến, tại một căn cứ hỏa lực hùng hậu (Carroll), có ưu thế pḥng thủ với trên 1000 tay súng và một bộ chỉ huy dày dạn chiến trường. Tất cả chưa bắn một phát súng nào, chưa có đơn vị bộ binh nào của địch xuất hiện, cũng không có lời kêu gọi áp đảo tinh thần, mà chỉ mới là những quả đạn pháo binh của địch bắn vào căn cứ liên tục, đồng ư là địch có ưu thế hỏa lực, áp dụng chiến thuật phong lôi (cả một trung đoàn pháo cùng lúc bắn vào mục tiêu) nhưng như thế chưa phải là hoàn toàn bế tắc, để không thể tổ chức chiến đấu, thế mà chúng tôi đă phải buộc ḷng quy giáp đầu hàng .  Đầu hàng! Tại sao lại như thế? Động cơ nào? Đó là câu hỏi nhức nhối dày xéo tâm can. Tôi cũng đă thẳng thắn nói ra những ư nghĩ ấy cho đối phương là Nguyễn Quư Hải (tác giả của hồi kư Mùa Hè Cháy), nguyên tiểu đoàn trưởng pháo binh thuộc Trung đoàn 38 Bông Lau, đơn vị trực tiếp gây áp lực buộc Trung đoàn 56 Bộ Binh đầu hàng (trong quyển sách này, tác giả Nguyễn Quư Hải kể lại cảm nghĩ của thiếu tá Tôn Thất Măn về sự thất bại của Trung đoàn 56 Bộ Binh trước sức tấn công như vũ băo của Trung đoàn 38 Pháo Bông Lau. Thiếu tá Tôn Thất Măn đă trả lời: “mạnh nhất Quân Đoàn đă được quyết định chỉ trong ṿng năm phút”. Hôm nay anh vẫn xác nhận như thế và tŕnh bày thêm: “Sau khi tuyên bố 3 hướng giải quyết, ông Đính đă không có sự thảo luận với tất cả sĩ quan có mặt và sau lời phản đối của anh Măn, ông Đính liền ra lệnh đại úy Nhơn cởi áo lót làm tín hiệu…”).

 

Trung tá PVĐ (cùng số quân nhân) khi về hàng th́ phía Cộng Sản Bắc Việt đă cho làm riêng một bộ phim về việc nầy (họ gọi là quân nhân Ngụy làm binh biến chống lại chính phủ Sài G̣n) nhưng trong phim th́ không nói lư do ra hàng là v́ bị bức bách (thiếu thốn vũ khí, bị địch quân đông hơn bao vây và bị cấp trên buộc phải tử thủ) mà là do một ư định chống lại cuộc chiến nên TĐ56BB đă chọn: Quay về với chính nghĩa, với nhân dân. Trung tá PVĐ sau đó được Cộng Sản Bắc Việt thăng thêm 1 cấp (thành thượng tá) và dùng ông trong việc nghiên cứu (về QLVNCH cùng quân đội Hoa Kỳ) cũng như lung lạc ư chí các sĩ quan thuộc QLVNCH khác đang bị cầm giữ làm tù binh tại miền Bắc. Cựu đại tá Nguyễn Văn Thọ, nguyên tư lệnh lữ đoàn 3 Dù QLVNCH, ông bị bắt sống ngày 25 tháng 2 năm 1971 tại căn cứ 31 (địa điểm 456) trên đất Hạ Lào (trong trận Lam Sơn 719 trước đó) cho biết, ông đă từng gặp mặt trung tá PVĐ (trong quân phục sĩ quan quân đội Cộng Sản Bắc Việt tại một trại tù). Cuộc gặp mặt đó, trung tá PVĐ thuyết phục ông ra cộng tác với phía quân đội Cộng Sản Bắc Việt.

 

Về binh sĩ của Trung Đoàn 56 BB không chịu tử thủ, sống mái chết bỏ với Việt Cộng th́ ta biết là không phải từ khởi đầu các sĩ quan trong đơn vị đă mang tinh thần chủ bại (bằng chứng là các sĩ quan đă phải ngồi lại, họp bàn để chọn quyết định sau cùng). Ở đây ta đặt câu hỏi là tại sao Trung đoàn 56 BB có các sĩ quan chỉ huy xuất sắc như vậy (như bản thân trung tá PVĐ) mà lại chọn quyết định đầu hàng. Có người nói là khi đó do Trung đoàn 56 BB (là 1 trong 3 trung đoàn của sư đoàn 3 Bộ Binh gồm TĐ 2, TĐ 56 và TĐ 57) v́ phần lớn binh sĩ đă được bổ sung bằng các thành phần địa phương quân-nghĩa quân, lao công đào binh… nên họ rất yếu kém tinh thần, về huấn luyện cũng như thiếu kinh nghiệm chiến đấu. Chính cố chuẩn tướng Vũ Văn Giai (cựu tư lệnh sư đoàn 3 Bộ Binh) kể lại lai lịch của sư đoàn như sau: Do nhu cầu chiến trường, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH (BTTMQLVNCH) quyết định thành lập một sư đoàn mới để trấn giữ vùng giới tuyến phía Bắc v́ sư đoàn 1 Bộ Binh không đủ lực lượng. Tuy nhiên, có thể v́ dự tính rút quân theo kế hoạch Việt Nam Hóa Chiến Tranh nên phía Hoa Kỳ không chịu yểm trợ cho việc thành lập sư đoàn mới nầy (nếu đồng ư th́ phía đồng minh Hoa Kỳ phải cung cấp thêm vũ khí, quân trang-quân dụng… để trang bị cho một sư đoàn mới). Hoa Kỳ đề nghị đưa một sư đoàn cơ hữu từ trong Nam (VNCH) ra vùng địa đầu giới tuyến (Quân khu 1 của VNCH), hoặc điều động lực lượng Biệt Động Quân.

 

Ngay từ đầu thập niên 1970, khi quân đội Hoa Kỳ đang rút dần khỏi chiến trường Việt Nam, các đơn vị chủ lực hiện có của QLVNCH đều bị dàn mỏng lực lượng để giữ đất, để trám vào chỗ trống của quân đội Hoa Kỳ khi họ rút về nước (như trường hợp TĐ 56 BB đóng trong căn cứ Carroll của quân đội Hoa Kỳ). Sau khi bàn bạc, BTTMQLVNCH quyết định lấy trung đoàn 2 của sư đoàn 1 Bô Binh làm ṇng cốt và tăng cường thêm địa phương quân-nghĩa quân và lao công đào binh từ trong miền Nam ra. Thông thường, một sư đoàn có 3 trung đoàn. Riêng sư đoàn 1 Bộ Binh khi đó lại có 4 trung đoàn. V́ vậy, cắt bớt trung đoàn 2 của sư đoàn 1 BB, th́ sư đoàn 1 BB vẫn c̣n 3 trung đoàn. Đặc biệt nữa, trung đoàn 2 của sư đoàn 1 BB lại có 5 tiểu đoàn, mà mỗi tiểu đoàn có 4 đại đội, nên trung đoàn 2 của sư đoàn 1 BB có 20 đại đội. Nếu theo cách thức cũ, mỗi sư đoàn có 3 trung đoàn, mỗi trung đoàn có 3 tiểu đoàn, mỗi tiểu đoàn có 3 đại đội, th́ sư đoàn tân lập cần có số đại đội là: 3 X 3 X 3 = 27 đại đội. Trong khi đó trung đoàn 2 của sư đoàn 1 BB có 20 đại đội, nên chỉ cần bổ sung thêm 7 đại đội để thành lập sư đoàn mới. Và sư đoàn mới nầy là sư đoàn 3 Bộ Binh (thành lập ngày 01 tháng 10 năm 1971). Là sư đoàn mới nhưng sư đoàn 3 Bộ Binh lấy tiếp liệu sẵn có chứ Hoa Kỳ không cung cấp tiếp liệu mới nữa (Chỉ có trung đoàn 2 là được trang bị vũ khí cá nhân như M16, trung liên M60, phóng lựu M79 và tên lửa chống tăng vác vai M72. Và 2 trung đoàn c̣n lại được trang bị hỗn độn (các báo cáo cho biết có đại đội chỉ được vài khẩu M16, M79, M72 hoặc sử dụng súng trường M14 và thậm chí cả trung liên BAR, Cabin M1, M2 (các vũ khí dành cho lực lượng Nhân Dân Tự Vệ tại hậu phương). Quân trang, quân dụng khác của sư đoàn th́ phần lớn phải đi vay mượn từ những đơn vị bạn hoặc từ  nguồn bổ sung c̣n ít ỏi trong Tổng kho Long B́nh-Biên Ḥa. Đó là vũ khí và các trang bị, c̣n quân nhân th́ sư đoàn 3 Bộ Binh không được tập trung huấn luyện mà chỉ tiếp nhận những đơn vị sẵn có và bổ sung thêm quân số (địa phương quân-nghĩa quân và lao công đào binh từ trong miền Nam ra). Bộ tư lệnh sư đoàn 3 Bộ Binh và hậu cứ chính đóng ở căn cứ Ái Tử, Quảng Trị (do quân đội Hoa Kỳ rút về nước để lại). Đó là thực trạng sư đoàn 3 Bộ Binh trước khi đụng trận vào năm 1972.

 

Trong cuộc tấn công Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972, lực lượng bên phía Cộng Sản Bắc Việt gồm có: 2 sư đoàn Bộ Binh 304 và 308, 5 trung đoàn Bộ Binh biệt lập mang phiên hiệu số 27, 31, 126, 220 và 246, 01 sư đoàn pháo binh, 2 trung đoàn Tăng 203, 204 và 1 trung đoàn thiết giáp PT 76. Lực lượng của QLVNCH gồm có: Giai đoạn đầu sư đoàn 3 Bộ Binh, lữ đoàn 147 TQLC, thiết đoàn 18 Kỵ binh, lực lượng diện địa tỉnh Quảng Trị gồm địa phương quân-nghĩa quân. Giai đoạn sau tăng phái thêm lữ đoàn 258 TQLC, 2 liên đoàn Biệt động quân, lữ đoàn 1 thiết giáp.

 

Ta thấy là tương quan lực lượng giữa hai bên th́ rơ ràng lực lượng bên phía Cộng Sản Bắc Việt vượt trội hơn nhiều. Thiết giáp Cộng Sản Bắc Việt trang bị T54 tối tân của Liên Xô, cán binh gần 4 sư đoàn và phía Cộng Sản Bắc Việt chủ động tấn công (khai mở các trận chiến) trong khi bên phía QLVNCH quân số ít hơn, lại bị thụ động chống trả (như trường hợp của căn cứ Carroll, Cộng Sản Bắc Việt tập trung hỏa lực pháo binh (130 ly, hỏa tiễn 122 ly) nă liên tục hàng trăm quả pháo vào căn cứ này (một vị trí cố định) và đây cũng là yếu tố làm cho binh sĩ trong TĐ56BB giao động). Từ sau trận Lam Sơn 719 (khởi sự từ tháng 1-1971) th́ phía Hoa Kỳ đă giảm thiểu các phi vụ không kích (quan trọng nhất là các phi vụ B52) yểm trợ cho QLVNCH) cũng như từ chối lời đề nghị của Đại tướng Cao Văn Viên (với Bộ Tư lệnh Viện Trợ Quân Sự Mỹ tại VN-MACV) là: Thay thế tất cả chiến xa M41 bằng chiến xa M48, thay các đại bác không giật bằng hỏa tiễn chống chiến xa, thêm các tiểu đoàn pháo binh với đại bác tự hành 175… nhưng không được phía Hoa Kỳ đồng ư. Nguyên nhân khiến phía Hoa Kỳ từ chối (các đề nghị tăng cường vũ khí) là v́ họ lo ngại QLVNCH, một khi được trang bị các vũ khí tối tân th́ sẽ… mở rộng chiến tranh vượt khỏi tầm kiểm soát của họ (Hoa Kỳ).

 

Trở lại chuyện trung đoàn 56 Bộ Binh đầu hàng Cộng Sản Bắc Việt th́ ta thấy theo lời kể của thiếu tá Tôn Thất Măn chính là v́ sự chủ bại của viên sĩ quan chỉ huy đơn vị, trung tá PVĐ. Đành rằng quân nhân trong trung đoàn có những người lấy từ số lính nghĩa quân-địa phương quân và lao công đào binh bổ sung vào mà thành. Số sĩ quan và quân nhân trong trung đoàn có người đă chống lại ư định đầu hàng của trung tá PVĐ (Như trường hợp của thiếu tá  Tôn Thất Măn, đại úy Nguyễn Văn Tâm và thiếu úy Thái Thanh B́nh cùng 2 cố vấn Mỹ kể trên đây). Khi đầu hàng Cộng Sản Bắc Việt rồi, vào trại giam th́ chúng mới lựa lọc lại. Có người được chúng tin tưởng, thăng cấp ngay (như trung tá PVĐ và trung tá Vĩnh Phong) hoặc bị chúng bỏ tù dù kể cả khi có Hiệp Định Ba Lê 1973 buộc phải trao trả tù binh đă bắt giữ (chương III, điều 8) tại các mặt trận, chúng cũng lờ đi. Thiếu tá Tôn Thất Măn có những bộc bạch về cá nhân của trung tá PVĐ: “… trong bao năm cận kề chiến đấu, vào sinh ra tử bên nhau với trung đoàn trưởng, tôi đă có sự liên hệ thân t́nh, kính mến. Phút cuối ở Carroll, có thể có những lư do thầm kín nào đó để ông Đính đưa đến quyết định tai hại ấy! Ḷng tôi có đôi chút thông cảm, tuy nhiên, qua những việc ông cư xử với anh em trong trại tù, cũng như sự hăng say hợp tác với đối phương sau này làm tôi thất vọng, bao nhiêu niềm tin và sự kính phục đă không c̣n nữa”.

 

Cuộc chiến giữa hai miền Nam-Bắc tại Việt Nam (từ 1954-1975) có nhiều người ngộ nhận phía miền Bắc (Cộng Sản Bắc Việt) và Việt Cộng miền Nam có chính nghĩa và phía miền Nam (Việt Nam Cộng Ḥa) là tay sai của chính quyền Hoa Kỳ. Cảnh nhà cháy, cầu sập, dân lành thương vong do bom rơi-đạn nổ của bất cứ nơi nào đó ở 2 miền Nam-Bắc th́ có người đổ cho do bọn Mỹ xâm lược mà ra cả. Họ không chịu truy t́m nguồn gốc của các nguyên do, tại sao có cuộc chiến tranh?. Nh́n vào cảnh tang thương của đất nước trong cảnh chiến tranh khi đó, tại miền Nam VNCH có người chủ ḥa cho là phải có ḷng thương với những người phía bên kia (Cộng Sản Bắc Việt-Việt Cộng miền Nam) v́ chúng ta cùng ḍng máu người Việt, là anh em với nhau, con một nhà. Có người chủ bại cho rằng nếu c̣n tiếp tục chiến tranh th́ c̣n thêm người chết, quê hương sẽ thêm cảnh hoang tàn. Những người này kêu gọi ḥa b́nh, buông súng đừng bắn nhau nữa (chỉ kêu gọi một chiều với phía miền Nam VNCH thôi c̣n phía Cộng Sản Bắc Việt-Việt Cộng miền Nam th́ cứ tiếp tục) rồi ḥa b́nh sẽ tới. Phải biết thương đến đời sống của người dân lành.

 

Trung tá PVĐ là một trong số những người này khi chúng ta biết về một hồi kư của ông được trích đăng trên tờ báo Đối Diện (số 45 ra tháng 4 năm 1973). Trong quyển hồi kư này (có tựa là Trong Niềm Ḥa Hợp), tác giả PVĐ kể lại việc khi mang lon đại úy với chức vụ quận trưởng Quảng Điền vào năm 1967, ông đă tích cực giúp đỡ cho một cán bộ Việt Cộng (tên là Kỳ) khi y ta bị bắt giam. Tác giả đă dựa vào chức vụ quận trưởng để che dấu lư lịch thật của gă cán bộ Việt Cộng đó cũng như viết thư riêng cho trưởng ty cảnh sát địa phương để không tra tấn, hành hạ thân xác và phải đối xử tử tế với gă cán bộ Việt Cộng. Trung tá PVĐ cũng giống như những người sống trong xă hội miền Nam VNCH, dù có các thành đạt trong xă hội miền Nam VNCH nhưng trong đầu óc họ: Luôn thấy h́nh ảnh cán bộ Cộng Sản Bắc Việt-Việt Cộng miền Nam tương tự như những anh hùng chống Pháp, chống Tàu trong sử Việt ngày trước. Gă cán bộ Việt Cộng đó nhờ các giúp đỡ của trung tá PVĐ mà sau đó đă thoát được trại giam Thừa Phủ và cả hai gặp lại nhau sau này.

 

 

 

 

Chỉ đến khi cả miền Nam VNCH sa vào tay bọn Cộng Sản Bắc Việt-Việt Cộng miền Nam hoàn toàn (sau ngày 30-4-1975) th́ nhiều người có đầu óc chủ ḥa, chủ bại mới sáng mắt. Mới thấy rơ phía bên nào (Cộng Sản Bắc Việt-Việt Cộng miền Nam hay Việt Nam Cộng Ḥa) có chính nghĩa. Phía bên nào là kẻ xâm lăng-gây ra cuộc chiến tranh trước tiên. Phía bên nào tự vệ và phía bên nào mới thực sự là người biết thương dân lành.

 

 

Phạm Thắng Vũ

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính