Xấp thư

 

 

 

Phạm Sơn Liêm

 

 

Chuẩn bị dọn nhà, người con gái mở chiếc rương gỗ cũ của mẹ.

 

Dưới mấy tấm áo dài đã ngả màu thời gian là một xấp thư được cột bằng sợi dây dù xanh đã sờn. Giấy vàng úa. Góc thư mủn như lá khô.

 

Trên phong bì chỉ có mấy hàng chữ:

 

Người nhận: Nguyễn thị hòa

Không tên trại.

Không địa danh.

 

Chỉ vài con số và dấu kiểm duyệt đỏ chót. Người mẹ vuốt nhẹ từng lá thư như sợ chúng vỡ ra.

 

Bà nói:

- Ba con viết từ trong tù cải tạo.

Người con cầm lên. Mực tím đã nhòe vì nước mắt hay vì mưa, không ai biết.

…

 

Lá thư đầu tiên chỉ có mấy dòng.

“Em và các con đừng lo.

Anh vẫn khỏe.

Ở đây lao động tốt.

Nhớ giữ gìn sức khỏe.”

 

Chỉ vậy. Không một lời than.

Không một chữ nói mình đói.

Không một chữ nói mình bệnh.

 

Người con hỏi:

- Ba không kể gì hết sao?

 

Bà cười buồn.

- Không phải ba con không muốn kể… mà không được kể.

…

 

Lá thư thứ hai còn hằn dấu gấp. Có một bông hoa dại ép bên trong. Đã khô thành màu nâu.

 

Bà kể:

- Hồi đó má nhận được thư, đọc xong là cất ngay. Ban ngày sợ người ta xét. Ban đêm mới dám lấy ra đọc lại.

 

Đọc đến thuộc lòng.

…

 

Ông ở tận một trại rừng.

Bà ở căn nhà nhỏ ngoài phố.

Hai người cách nhau hơn ngàn cây số.

Không điện thoại.

Không tin tức. Chỉ có những lá thư đi hàng tháng.

Có lá ba tháng mới tới.

Có lá không bao giờ tới.

Có lá đến nơi thì người viết đã chuyển trại.

…

 

Trong chiếc túi áo tù bạc màu, ông giữ duy nhất một tấm hình.

Ảnh cưới.

 

Người vợ mặc áo dài trắng.

Mái tóc còn dài. Nụ cười còn rất trẻ. Mỗi lần lao động giữa rừng, nghỉ trưa, ông lại lấy tấm hình ra. Lau bằng góc áo.

Rồi cất lại. Tấm hình mòn theo năm tháng. Gấp làm tư.

Mé giấy rách. Nhưng khuôn mặt người vợ vẫn còn nguyên.

Đó là “ngôi nhà” duy nhất ông mang theo.

…

 

Ở nhà… Bà giữ từng lá thư.

Có lá còn dính mùi khói bếp.

Có lá thơm mùi dầu gió.

Có lá ướt nước mắt.

 

Đêm nào nhớ quá, bà mở thư ra đọc. Đọc đến câu cuối.

Rồi gấp lại. Đặt dưới gối. Như thể chồng đang nằm bên cạnh.

…

 

Nhiều năm sau… Ông trở về.

Áo rộng. Vai gầy. Tóc bạc trước tuổi.

 

Có hôm, Ông hỏi:

 

- Em… còn giữ thư của anh không?

 

Bà không trả lời. Lặng lẽ vào buồng. Mang ra nguyên xấp thư. Vẫn sợi dây dù cũ. Vẫn nguyên thứ tự.

 

Ông run run cầm lấy. Nước mắt chảy xuống đúng những dòng chữ mình đã viết hơn mười năm trước. Ông cười mà nghẹn:

Anh tưởng… mất hết rồi.

 

Bà cũng cười:

- Còn anh… có giữ tấm hình của em không?

 

Ông mở chiếc túi áo cũ đã sờn chỉ. Từ lớp vải lót bên trong, ông lấy ra tấm ảnh đã bạc màu, gấp làm tư.

 

Hai người nhìn nhau. Không ai nói gì. Bởi cả hai đều biết…

Suốt những năm tháng ấy, bà đã giữ những dòng chữ của ông.

 

Còn ông đã giữ khuôn mặt của bà.

Những lá thư đi hai chiều không chỉ chở tin tức.

 

Chúng chở niềm hy vọng.

Chở lòng thủy chung.

Chở một cuộc hôn nhân chưa từng bị bẻ gãy bởi hàng rào kẽm gai.

Đến hôm nay, mực đã nhòe.

Giấy đã úa.

Địa chỉ trên phong bì gần như không còn đọc được.

Nhưng có một điều vẫn còn nguyên vẹn. Đó là tình yêu của một người vợ cất cả tuổi xuân trong xấp thư cũ…

 

Và của một người chồng đi hết những năm tháng tù đày chỉ với một tấm hình nhỏ trong túi áo của ông.

 

 

Phạm Sơn Liêm

 

 

 

Tin Tức - Bình Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính