V́ sao Cộng Sản thù ghét TT. Ngô Đ́nh Diệm?

 

- Phần 3 -

 

Phạm Quang Tŕnh

 

 

 

Con đường nào đă dẫn ông Hồ đến với chủ nghĩa Lênin?

 

 Qua bài viết kư tên Hồ chí Minh cho tạp chí Các Vấn đề phương Đông (Liên Sô) nhân dịp kỷ niệm lần thứ 90 ngày sinh V.I. Lênin đăng lại trên báo Nhân Dân số 2226 ngày 22.04.1960 (tập 10), ông cho biết như sau:

“Lúc bấy giờ, tôi ủng hộ Cách Mạng Tháng Mười chỉ là theo cảm tính tự nhiên. Tôi chưa hiểu biết tầm quan trọng lịch sử của nó. Tôi kính yêu Lênin v́ Lênin là một người yêu nước vĩ đại đă giải phóng đồng bào ḿnh; trước đó, tôi chưa hề đọc một quyển sách nào của Lênin viết ra”.

 

“Tôi tham gia Đảng Xă Hội Pháp chẳng qua là v́ các “ông bà” ấy, (hồi đó tôi gọi các đồng chí của tôi như thế) - đă tỏ đồng t́nh với tôi, với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức. C̣n như Đảng là ǵ, công đoàn là ǵ, chủ nghĩa xă hội và chủ nghĩa cộng sản là ǵ, th́ tôi chưa hiểu.”

 

“Điều mà tôi muốn hơn cả - và cũng chính là điều mà người ta không thảo luận trong các cuộc họp là: vậy th́ cái quốc tế nào bênh vực nhân dân các thuộc địa?”

 

“Trong một cuộc họp, tôi đă nêu câu hỏi ấy lên, câu hỏi quan trọng nhất đối với tôi. Có mấy đồng chí đă trả lời: Đó là Quốc Tế thứ ba, chứ không phải quốc tế thứ hai. Và một đồng chí đă đưa cho tôi đọc Luận Cương Lênin Về Các Vấn Đề Dân Tộc và Thuộc Địa đăng trên báo Nhân Đạo. Trong Luận Cương ấy có những chữ chính trị khó hiểu. Nhưng cứ đọc đi đọc lại nhiều lần, cuối cùng tôi cũng hiểu được phần chính. Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một ḿnh trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!” “Từ đó, tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc Tế thứ ba.”

 

“Ở nước ta và Trung Quốc cũng vậy, có câu chuyện đời xưa về cái “cẩm nang” đầy phép lạ thần t́nh. Khi người ta gặp những khó khăn lớn, người ta mở cẩm nang ra, th́ thấy ngay cách giải quyết. Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà c̣n là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xă hội và chủ nghĩa cộng sản.” (trang 126, 127, 128 HCMTT/tập 10)

 

Ông Nguyễn Minh Cần (nguyên Ủy Viên Thường Vụ Thành ủy Hà Nội, đă ly khai Đảng CSVN trong vụ án chống Đảng xin tị nạn và đinh cư tại Nga) trong cuốn Đảng Cộng sản Việt Nam Qua Những Biến Động Trong Phong Trào Cộng Sản Quốc Tế (xuất bản năm 2000) đă tóm lược quan niệm của Lênin về một Đảng Cách Mạng, đó chỉ là “một hội kín của những kẻ âm mưu” và Lênin đặc biệt chú ư lập ra “những nhóm khủng bố vũ trang”. Chỉ huy những nhóm khủng bố này là bộ ba (troika) rất bí mật trong đó có Lênin. “Đảng Cộng sản thực chất là hội kín của những kẻ âm mưu, chứ không phải là một chính đảng với tính cách là tổ chức xă hội của giai cấp vô sản. Bản thân Lênin, cũng không giấu giếm điều đó khi ông nói: “Thật là vô cùng ngây thơ khi sợ bị buộc tội chúng ta, là những người xă hội dân chủ, lại muốn thành lập tổ chức âm mưu.” Lênin c̣n đưa ra luận điểm về sự độc quyền lănh đạo của giai cấp vô sản tức là của Đảng Cộng sản. Ông Nguyễn Minh Cần nhận xét: “Cái vế giai cấp vô sản” chỉ là cách nói đẹp đẽ để dụ hoặc người lao động, c̣n nghĩa thực của nó là của hoặc một vài lănh tụ tức là một nhúm nhỏ “những người cách mạng chuyên nghiệp”, nói cách khác là một tập đoàn thống trị Cộng sản. “Thầy nào, tṛ đó. Lênin lập đảng tức là lập “hội kín của những kẻ âm mưu” thời Hồ Chí Minh và đồng chí của ông lập Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng chỉ là hội kín của những kẻ âm mưu, tức là chuyên dùng thủ đoạn khủng bố giết chóc để nắm chính quyền.

 

Cần phải nói thêm về cái gọi là chủ nghĩa Lênin và Đảng Cộng sản, đó là việc sử dụng bạo lực. Ông Hồ cũng như quan thầy Lênin của ông chủ trương: “Trong cuộc đấu tranh gian khổ chống kẻ thù của giai cấp và dân tộc, cần dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền” (lời giới thiệu tập 1 trg 15). Độc tài toàn trị và chuyên chính vô sản nằm ở chỗ đó.

 

Hồ Chí Minh nhận ḿnh là học tṛ của Lenin

 

Hồ Chí Minh Toàn Tập/ Tập 8: từ 1955-1957, dày 662 trang. Vẫn mê say những ǵ quan thầy Lênin dạy, ông Hồ tiếp tục thực hiện Cải Cách Ruộng Đất tiến lên chủ nghĩa xă hội. Ông viết cảm tưởng ghi trong sổ vàng tại điện Kremli:

“Lênin, người thầy zạy vĩ đại của cách mệnh vô sản. Cũng là một vị đạo đức rất cao, zạy chúng ta phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính.

 Tinh thần Lênin muôn đời bất ziệt.

 Ngày 13 tháng 7 năm 1955”

 (Hồ Chí Minh TT/T8, trang 22)

 

Nhận thức của ông Hồ

 

Trong tập 9 HCM/TT này, bài viết về Đạo Đức Cách Mạng của ông Hồ trang 282 và kế tiếp chắc chắn sẽ làm người đọc phải sửng sốt về nhận thức của ông. Sau khi bài xích chủ nghĩa cá nhân và nhấn mạnh đến đạo đức cách mạng của người Cộng sản và Đảng Cộng sản, đảng của giai cấp công nhân mà cơ bản là “ra sức học tập chủ nghĩa mác Lênin”, ông viết:

“Mỗi người cách mạng phải hiểu thật sâu sắc rằng: Đảng ta là một đội ngũ tiên tiến nhất và tổ chức chặt chẽ nhất của giai cấp công nhân, là người lănh đạo của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Hiện nay, giai cấp công nhân ta tuy chưa đông lắm, nhưng nó càng ngày càng phát triển. Mai sau, hợp tác xă nông nghiệp sẽ được tổ chức khắp nơi, nông thôn sẽ dùng nhiều máy móc, nông dân sẽ biến thành công nhân. Người trí thức dần dần lao động chân tay và sự phân biệt giữa trí thức và công nhân cũng sẽ xóa bỏ dần. Công nghiệp của nước ta ngày càng phát triển. V́ vậy, số công nhân ngày thêm đông, sức công nhân ngày thêm mạnh, tiền đồ của giai cấp công nhân rất rộng răi và vẻ vang. Nó vừa cải tạo thế giới vừa cải tạo bản thân ḿnh” (trang 285).

 

 Những hàng chữ trên, nhất là câu “Người trí thức dần dần lao động chân tay” của ông Hồ đă cho thấy ông Hồ quan niệm rất hẹp ḥi và ấu trĩ về hai chữ “lao động”. Rơ ràng là ông coi thường trí thức, khinh miệt trí thức cũng như Mao Trạch Đông đă coi “Trí thức không bằng cục phân. Bởi v́ phân c̣n để bón lúa chứ trí thức không làm được ǵ cả.” Quan niệm hẹp ḥi này đă một lần bị chỉ trích ngay trong nội bộ khối Cộng sản để rồi họ cố gượng ép đưa thêm mấy từ “lao động trí óc” bổ túc cho học thuyết Mác-Lê. Ông lại cũng coi thường nông dân, đề cao công nhân hơn nông dân với lư luận hẹp ḥi “Nông thôn sẽ dùng nhiều máy móc, nông dân sẽ biến thành công nhân”. Thế nghĩa là ǵ? Chỉ có công nhân mới có giá trị. Chỉ có lao động chân tay như công nhân mới có giá trị. Trí thức và nông dân là đồ bỏ sao?

 

Trong Báo Cáo về Dự Thảo Hiến Pháp sửa đổi tại kỳ họp thứ 11 Quốc Hội Khóa 1 ngày 18.12.1959 (trang 586), ông Hồ khẳng định: “Nhà nước của ta là nhà nước dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân lănh đạo... Để xây dựng chủ nghĩa xă hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, chúng ta cần phải tăng cường không ngừng sự lănh đạo của giai cấp công nhân đối với nhà nước dân chủ nhân dân.” Rơ ràng nông dân chiếm đa số mà không có quyền lănh đạo mà vai tṛ lănh đạo thuộc về công nhân. Nhưng trong Đảng Cộng sản và nhất là Bộ Chính Trị Đảng Cộng sản VN th́ có bao nhiêu người đă từng làm công nhân? Chẳng có ai! Tất cả chỉ là một nhúm người trong cái gọi là “hội kín của những kẻ âm mưu chuyên dùng thủ đoạn khủng bố và bạo lực để nắm chính quyền”. Đây đúng là bọn công nhân giả hiệu, vô sản giả hiệu, lưu manh!

 

Cái ǵ đă hạ thấp tên tuổi ông nếu không phải là chính ông rước chủ nghĩa Mác Lê vào tôn thờ thay v́ đấu tranh và xây dựng đất nước trên nền tảng Văn Hóa Dân Tộc. Chiến tranh, đói khổ, chết chóc... do đâu nếu không phải do Cộng sản và Hồ Chí Minh.

 

Trước sự sụp đổ thê thảm của chủ nghĩa Cộng sản trên khắp thế giới khiến Cộng sản Việt Nam phải ăn mày “đế quốc Mỹ” đồng thời cố gắng tô vẽ cho ông h́nh ảnh một người lănh tụ có công giải phóng đất nước khỏi ách thực dân Pháp và chụp mũ những người khác chính kiến là tay sai đế quốc thực dân. Điều đó thật vô liêm sỉ. Thực tế th́ ông đuổi Pháp lại rước Nga Hoa vào có khác chi đuổi chồn ra, rước cọp vào nhà! Chống thực dân đế quốc là nỗ lực của toàn dân, của mọi đoàn thể quốc gia chứ chẳng ǵ riêng ông và Cộng sản. Có điều kẻ bán chủ quyền đất nước và nịnh bợ quan thầy th́ không ai hơn Cộng sản và Hồ Chí Minh.

 

Nói đến tư tưởng là nói đến chất liệu nền tảng để chỉ đạo, để hướng dẫn cuộc sống trong đấu tranh và xây dựng. Mỗi khi người ta nhắc đến Tôn Tử là biết đây là bậc thầy của Chiến pháp; nhắc đến Lênin là biết ông này là tổ sư về tổ chức Đảng của nhóm người âm mưu; nhắc đến Mao Trạch Đông là nghĩ ngay đến Chiến Pháp Chiến Tranh Cách Mạng, nhắc đến Tôn Văn là nghĩ ngay đến Tam Dân Chủ Nghĩa, nhắc đến Lư Thường Kiệt là nghĩ ngay đến Chủ Quyền Quốc Gia Dân Tộc với bài thơ bất hủ “Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế Cư” vân vân... C̣n ông Hồ Chí Minh có ǵ không? Chính ông từng tuyên bố: “Bác chẳng có tư tưởng ǵ cả. Cụ Mao, Cụ Mác đă nghĩ cả rồi”.  (Nguyễn Văn Trấn: nói với mẹ và Quốc Hội trang 150-151)

 

Vậy mà Hà Nội cứ xưng tụng Tư Tưởng Hồ Chí Minh th́ ông có cái ǵ đây? Cộng sản ư? Chủ nghĩa Cộng sản mà ông tin theo thời đă sụp đổ rồi! Độc lập tự do ư? Tây phương và người dân Việt Nam họ c̣n biết hơn thế nữa. Ông chỉ có tài làm tay sai cho Cộng sản quốc tế, có tài cầm nhầm, biến của người khác thành của ḿnh, biến cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp của toàn dân thành cho Đảng Cộng sản Việt Nam bằng cách nói cho được khi thế lực Cộng sản c̣n ngự trị. Nhưng thời gian và lịch sử sẽ cho thấy đâu là chính nghĩa, ai là tác giả đích thực.

 

Tư tưởng đấu tranh xây dựng đất nước của ông Ngô Đ́nh Diệm

 

Thân phụ ông Ngô Đ́nh Diệm là cụ Ngô Đ́nh Khả.

 

Lúc thiếu thời, ông Diệm được theo học dưới sự dạy dỗ rèn cặp của một vị cha tinh thần, cũng nổi tiếng về kiến thức quảng bác, đức độ và ḷng yêu nước. Đó là Quận Công Nguyễn Hữu Bài, quan Thượng Thư dưới triều vua Duy Tân. Ngài là vị đại thần duy nhất chống lại việc người Pháp tham lam muốn đào ngôi mộ vua Tự Đức để lấy vàng bạc châu báu. V́ thế dân chúng miền Trung thời đó vô cùng cảm kích, ngưỡng mộ nên đă có câu truyền khẩu:

 

“Đày vua không Khả. Đào mả không Bài”.

 

Ngoài sự hấp thụ những đức tính cao đẹp và ḷng yêu nước nồng nàn của thân phụ và nghĩa phụ, ông Diệm c̣n chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền giáo dục Nho Giáo và Thiên Chúa Giáo.

 

Thực vậy, nếu Nho Giáo đă hun đúc ông Diệm thành một con người thanh liêm, tiết tháo và cương trực, th́ nền giáo dục Thiên Chúa Giáo, đă đào tạo ông Diệm thành một con người đầy ḷng bác ái, vị tha và công chính.

 

Về đường học vấn, lúc nhỏ ông theo học tại trường Pellerin Huế.

 

Đấu tranh xây dựng đất nước theo chủ nghĩa Nhân Vị Duy Linh

 

Ngoài sự hấp thụ những đức tính cao đẹp và ḷng yêu nước nồng nàn của thân phụ và nghĩa phụ, ông Diệm c̣n chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền giáo dục Nho Giáo và Thiên Chúa Giáo.

 

Khi về nước chấp chính 7-7-1954, nh́n lại thực trạng Miền Nam vừa thu hồi Độc Lập, c̣n rơi rớt nhiều di hại do các thế lực Thực Dân, Phong Kiến và Cộng Sản để lại như cuộc sống nhân dân c̣n cách biệt giữa giàu, nghèo; giáo dục chưa được mở mang; hạ tầng cơ sở c̣n non kém; nạn khủng bố ám sát do Cộng Sản và tay sai gây ra, vân vân. Cho nên chính phủ quốc gia do ông lănh đạo  phải đưa ra chủ trương đường lối nào hay, đẹp, đáp ứng được t́nh h́nh và nguyện vọng nhân dân. Đó là Chủ nghĩa Nhân vị nhằm đấu tranh và bảo vệ phẩm giá và quyền tự do của người dân qua chủ trương Nhân vị Cộng Đồng - Đồng Tiến Xă Hội. Là nền móng cho chế độ Cộng Hoà, Chủ Nghĩa Nhân Vị đối đầu với chủ nghĩa Cộng Sản Mác Lê. Lời Mở Đầu của bản Hiến Pháp 26-10-1956 đă ghi rơ như sau:

 

      Tin tưởng ở tương lai huy hoàng bất diệt của Quốc gia và Dân Tộc Việt Nam mà lịch sử tranh đấu oai hùng của Tổ Tiên và ư chí quật cường của toàn dân đảm bảo;

   Tin tưởng ở sự trường tồn của nền văn minh Việt Nam, căn cứ trên nền tảng duy linh mà toàn dân đều có nhiệm vụ phát huy;

   Tin tưởng ở giá trị siêu việt của con người mà sự phát triển tự do, điều ḥa và đầy đủ trong cương vị cá nhân cũng như trong đời sống tập thể phải là mục đích của mọi hoạt động Quốc Gia;

Chúng tôi, Dân biểu Quốc Hội Lập Hiến:

   Ư thức rằng Hiến Pháp phải thể hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mau đến Ải Nam Quan.

Nguyện vọng ấy là:

-         Củng cố Độc lập chống mọi h́nh thức xâm lăng thống trị;

-         Bảo vệ Tự do cho mỗi người và cho Dân Tộc;

-         Xây dựng Dân Chủ về chánh trị, kinh tế, xă hội, văn hóa cho toàn dân trong sự tôn trọng nhân vị;

   Ư thức rằng quyền hưởng tự do chỉ được bảo toàn khi năng lực phục tùng lư trí và đạo đức, khi nền an ninh tập thể được bảo vệ và những quyền chính đáng của con người được tôn trọng;

   Ư thức rằng nước ta trên con đường giao thông và di chuyển Quốc Tế, dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu tư tưởng tiến bộ để hoàn thành sứ mạng trước Đấng Tạo Hóa và trước Nhân loại là xây dựng một nền văn minh nhân bản, bảo vệ và phát triển con người toàn diện.

 

 Sau khi thảo luận, chấp thuận bản Hiến Pháp sau đây”

 

Chủ Nghĩa Nhân Vị Duy Linh đă được đưa vào Hiến Pháp. Trong các Thông Điệp của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm cũng như các tài liệu của chế độ đă thường xuyên nói đến Chủ Nghĩa Nhân Vị. Thực tế, từ lư thuyết đến hành động bao giờ cũng có khoảng thời gian chuẩn bị để áp dụng, mức độ nhanh hay chậm là do lănh đạo và cán bộ thi hành.

 

Lời Mở Đầu trong bản Hiến Pháp cho thấy Chủ Nghĩa Nhân Vị đă được tŕnh bày khái quát làm nền tảng của chế độ, bởi đó, người ta hay dùng cụm từ chế độ Cộng Ḥa Nhân Vị là v́ vậy. Như đă nói trên Chủ nghĩa Nhân Vị nhằm bảo vệ quyền tự do và phẩm giá con người, phát triển con người toàn diện, chống lại chủ nghĩa Cộng sản duy vật - thứ chủ nghĩa coi con người là sản phẩm của lao động, là công cụ của tập thể, của Đảng Cộng sản, chủ trương đấu tranh giai cấp, hủy diệt tôn giáo và niềm tin vào thực tại thiêng liêng. Nhân vị là con người, là vị trí con người, đầu đội trời, chân đạp đất, là mục tiêu phục vụ, dùng sức cần lao để phục vụ và phát triển con người toàn diện. Trong khi đó Cá nhân trong chủ nghĩa Mác coi con người là công cụ, là phương tiện của tập thể. Khi so sánh Chủ nghĩa Nhân Vị và chủ nghĩa Mác, ta thấy hai bên đối nghịch nhau rơ rệt. Một đàng là duy linh, một đàng là duy vật. Một đàng là Cộng Đồng, một đàng là Tập Thể. Một đàng coi con người là mục tiêu phục vụ, một đàng coi con người là công cụ.

 

Trong lời Chúc Tết và hiệu triệu Quốc dân nhân dịp Tết Ất Mùi (1955), Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm nói: “Độc lập ngày nay đă thành một sự thực hiển nhiên. Nhưng đồng thời với cố gắng tranh đấu 1à để giải phóng đất nước, chúng ta phải thực hiện công cuộc giải phóng con người trong Xă Hội Việt Nam, nếu không, độc lập sẽ mất hết ư nghĩa.

 

Trong thế giới ngày nay, chủ nghĩa duy vật đang hoành hành, phá hoại di sản tinh thần của các quốc gia, đe dọa nền văn minh tự do của nhân loại.

 

Trái lại, với chế độ Cộng sản phủ nhận giá trị con người – coi con người chỉ là một phương tiện trong guồng máy sinh hoạt của đoàn thể, trong khi chính con người phải là cứu cánh, chúng ta quyết tâm xây dựng Quốc Gia Việt Nam trên những nền tảng mới, lấy nhân bản làm cương vị, lấy tự do dân chủ làm phương châm, lấy công lư làm xă hội làm tiêu chuẩn.

 

Một chế độ dân chủ thực sự phải được thực hiện hoàn toàn trong phẩm giá và quyền tự do chính đáng của mỗi người và của mọi người, triệt để đả phá mọi h́nh thức cưỡng bách, áp bức mọi chính sách chỉ huy và nô lệ hóa nhân dân.

 

Một dự án thành lập Quốc Hội lâm thời hiện đă được nghiên cứu kỹ càng để mọi tầng lớp nhân dân tham gia việc nước. Đó là bước đầu để tiến tới công cuộc dân chủ hóa các guồng máy quốc gia.

 

Đồng thời, một chương tŕnh kinh tế, xă hội sâu rộng phải được áp dụng với một quan niệm mới về quyền tư hữu để xác nhận địa vị ưu tiên của sức cần lao, thực hiện cuộc tiến bộ nhịp nhàng và toàn diện của quốc dân trên mọi địa hạt, vật chất cũng như tinh thần. Nguyên tắc nói trên phải được triệt để thi hành trong mọi ngành hoạt động…”

 

 Chủ trương này đă được TT Ngô Đ́nh Diệm nhắc lại qua Thông Điệp Ngày Song Thất 1961:

 

       Đồng bào thân mến

      Trên con đường cách mạng quốc gia để thực hiện nguyện vọng chung của chúng ta, tôi muốn nhắc nhở đồng bào lư tưởng và chánh nghĩa của cuộc chiến đấu ấy.

      Chủ nghĩa Nhân Vị, linh hồn của chế độ Cộng Ḥa, là con đường chính xác để giải phóng con người. Nó là một cố gắng để tiến, tiến từ nội tâm tới lănh vực vô biến và toàn thiện, tiến hóa từ cá nhân đến mọi người bằng sự thể hiện một xă hội công bằng và bác ái, nghĩa là một cộng đồng mà mọi người được phát triển và nẩy nở bởi sự hy sinh lẫn cho nhau. Sự nỗ lực để giải phóng toàn diện ấy giúp cho mọi người thoát khỏi t́nh trạng kém mở mang.

     Đối với con người Việt Nam, đường lối nhân vị chẳng những là một phương thức để tự thoát khỏi thực tại kém mở mang, mà c̣n là một đường lối duy tŕ những truyền thống tốt đẹp, phát huy những giá trị chính xác vĩnh viễn. Đường lối đó cởi mở, hoàn thiện mà không hủy hoại, canh tân và bổ túc cho được thêm phong phú. Chủ nghĩa Nhân Vị là đường tiến hóa và liên tục.

     Tất cả những điều đó bắt nguồn từ quan niệm tự do của chúng ta. Chúng ta là một dân tộc đă bao phen chiến đấu cho phẩm giá con người và nay vẫn c̣n tiếp tục chiến đấu. Tự do của chúng ta không phải là sự t́m kiếm quá trớn những phóng túng, hoặc mạo danh giải phóng, kỳ thực là điên rồ phá hoại của bọn Mác Xít: tự do phải là một nỗ lực để hợp lư hóa, nội tâm hóa, nhân đạo hóa, tiến hóa theo sự đ̣i hỏi của Chân và Thiện. Tự do của chúng ta không phải là cá nhân chủ nghĩa.

     Đương đầu với lối tự do Tư bản chia cách người với người và khiến người trở thành tù đày cho ḷng vị kỷ.

     Đương đầu với đường lối Mác Xít, hạ giá con người xuống mức dụng cụ sản xuất.

     Chủ nghĩa Nhân Vị bảo vệ tự do cá nhân lẫn lợi ích công cộng.

     Đồng bào hăy nh́n những thực hiện và thành quả của những cố gắng của chúng ta trong bẩy năm vừa qua: một quốc gia vững chăi và tiến bộ do một cuộc cải tiến đại quy mô nâng cao mức sống ở khắp nơi: trường học, bệnh viện, đường xá, kinh rạch, phát triển cộng đồng, cải cách điền địa, nông tín cuộc, dinh điền, khu trù mật, thủ công, kỹ nghệ... tất cả đă chứng minh sự hữu hiệu của chủ nghĩa Nhân Vị.

                            ------------------------------------------------

    Vận mạng của tổ quốc ở trong tay các bạn. Chỉ bằng t́nh đoàn kết trong một chí hướng cao siêu, nhận mọi cố gắng và hy sinh, chúng ta mới có thể vượt mọi trở ngại. Chúng ta hăy diệt Cộng, để bảo vệ giống ṇi và cùng nhau tiếp tục xây dựng một xă hội trên công bằng và bác ái để trai gái già trẻ được sống trong sự nẩy nở, hoan hỷ, tự do và mến thương.

       Đồng bào thân mến,

Tôi tin chắc với đức tính cổ truyền của dân tộc ta, với ḷng yêu nước mănh liệt của đồng bào, với ư thức bổn phận và trách nhiệm của mỗi người, chúng ta sẽ hoàn toàn thành công trong cuộc Các mạng giải phóng con người Việt Nam.

      Xin ơn Trên phù hộ chúng ta

    (Trích bản Thông Điệp của Tổng Thống  Việt Nam Cộng Ḥa, ngày Song Thất 1961) 

 

 

ĐẠO ĐỨC CỦA ÔNG HỒ: cần kiệm liêm chính, chí công vô tư!

 

Qua các bài nói chuyện, Ông Hồ luôn nhắc đến “Cần Kiệm Liêm Chính - Chi Công Vô Tư”. Rồi trong Cải sửa Lề Lối Làm việc, ông dạy cán bộ phải làm thế nào. Vậy mà khi đến thăm Đền Kiếp Bạc nơi thờ Đức Trần Hưng Đạo, ông đề bài thơ “nổi tiếng” như sau:

 

  Bài thơ có tên là đề miếu Trần Hưng Đạo

 

Cũng tai, cũng mắt, cũng anh hùng,

Tôi, bác cùng nhau bạn kiếm cung.

Bác diệt quân Nguyên thanh kiếm bạc,

Tôi trừ giặc Pháp ngọn cờ hồng.

Bác đưa một nước qua nô lệ,

Tôi dẫn năm châu tới đại đồng.

Bác có linh thiêng cười một tiếng

Mừng tôi độc lập đă thành công.

 

          Hồ Chí Minh

 

Bài thơ làm đúng niêm luật, chữ dùng rất hay, rơ ràng khẩu khí Hồ Chí Minh, nhưng nội dung kiêu ngạo quá. Ông Hồ tự nhận ḿnh ngang hàng với Đức Trần Hưng Đạo (Tôi, bác) và chiến công c̣n oanh liệt hơn cả Đức Thánh Trần khiến dư luận đàm tiếu khinh chê ông Hồ ra mặt. Ông dạy cán bộ cách mạng phải luôn khiêm tốn mà ông th́ kiêu ngạo đến tột bực! Trước dư luận bất lợi đó, Đảng Cộng Sản và ông đánh trống lảng. Nhưng thực chất tác giả là ai? Đọc những bài vè kháng chiến mà ông Hồ sáng tác, giới chuyên môn về thơ khẳng định rằng ông Hồ không có khả năng làm thơ Thất Ngôn Bát Cú. Bài thơ này đích thị do một tên bồi bút làm sẵn cho ông Hồ để khi ông viếng miếu Đức Trần Hưng Đạo th́ làm như có hứng xuất thần đề ra. Nhưng không ngờ, qua bài thơ đó dư luận nhận ra bản chất kiêu ngạo của ông nên ông và Đảng đành giở khóc giở cười!

 

Đàn em ông tiếp tục noi gương ông tha hồ ca tụng những tên đồ tể trong thế giới Cộng Sản:

 

 Người quốc gia dù bị ông chê là tay sai Đế Quốc Thực Dân cũng chưa bao giờ có những lời nịnh bợ xưng tụng đồng minh đến thế. Cứ đọc mọi văn bản của hai phía Quốc Cộng, chỉ Cộng sản Việt Nam mới có những lời nịnh bợ quan thày Nga - Hoa một cách vô liêm sỉ. Hăy nghe Tố Hữu khóc Xít Ta Lin:

 

Ông Xít Ta Lin ơi! Ông Xít Ta lin ơi!

Hỡi ơi ông mất đất trời có không?

Thương cha, thương mẹ, thương chồng,

Thương ḿnh thương một, thương ông thương mười!

 

và hô hào:

Giết, giết nữa bàn tay không phút nghỉ

Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong

Cho Đảng bền lâu cùng rập bước chung ḷng

Thờ Mao Chủ Tịch, thờ Xít Ta Lin bất diệt.

 

Đấy, Tố Hữu là Ủy viên Trung Ương Đảng, đặc trách công tác văn hóa tư tưởng, là tiếng nói chính thức của Đảng đă hô hào đồng chí ra tay giết hại nhân dân qua cuộc Cải Cách Ruộng Đất và thờ Xít Ta Lin, thờ Mao Trạch Đông th́ thử hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức cách mạng độc lập hay là thứ lệ thuộc chuyên bợ đỡ ngoại bang? Rơ ràng là Đảng Cộng sản Việt Nam của ông Hồ không thờ kính Ông Bà Tổ Tiên mà đi thờ hai tên đồ tể khét tiếng ở thế kỷ 20! Suốt chiều dài lịch sử dân tộc, đây là lần duy nhất, chỉ có Cộng sản Việt Nam và ông Hồ mới có hành động và thái độ như vậy. Thế c̣n ở Miền Nam, nơi mà ông Hồ và Đảng Cộng sản tuyên truyền xuyên tạc nói là bị Mỹ- Ngụy ḱm kẹp vậy mà có nhạc sĩ làm tục ca, chửi thẳng “Đ.M. Tổng Thống Mỹ! Đ.M. Chủ Tịch Nga!” thời có sao đâu? (Ngàn Lời Ca của Phạm Duy). So sánh như thế để biết ở đâu có độc lập tự do thật sự. Chính cái chế độ độc tài toàn trị đă làm cho những kẻ theo Đảng tự hạ ḿnh một cách hèn hạ như thế.

 

          Ông Hồ sống độc thân được Đảng Cộng Sản tôn lên bậc thần thánh.

Có lẽ chưa một nhân vật nào trong lịch sử Việt Nam lại được đàn em xưng tụng như ông Hồ. Cái ǵ ông cũng nhất: tài ba, đức độ, thành tích lẫy lừng.

 

Hăy nghe Nhà văn hóa Phan Ngọc qua cuốn “Một Cách Tiếp Cận Văn Hóa” do Nhà xuất Bản Thanh Niên -2000 ca tụng Hồ Chí Minh qua bài viết “Qua cách sống của Bác:

1.- “ Hồ Chí Minh cũng là con người như chúng ta. Ông là đứa con sinh ra từ một gia đ́nh Nho học trong một dân tộc bị nô dịch... Nhưng sở dĩ ông ta thành vĩ nhân lớn nhất của đất nước và vĩ nhân của thế giới chỉ vị một nguyên nhân hết sức hiển nhiên. Ông ta có một ham muốn tột bực và bắt mọi ham muốn khác đều phải phục tùng cái ham muốn tột bực ấy. Do đó mọi ham muốn đều bị khúc sạ qua cái ham muốn tột bực này mà thay đổi để biến thành phong cách Hồ Chí Minh” (trang 274-275).

 

2.- Hồ Chí Minh một nhà cách mạng lớn bậc nhất thế kỷ, nhưng một nhà cách mạng kiểu khác... (trang 280).

 

8.- Tôi sẽ bắt đầu bằng cách sống của Bác khi đă làm Chủ Tịch Nước, và phong cách ấy sẽ duy tŕ cho đến hết cuộc đời ḿnh.... Tôi nhớ câu nói của cha tôi sau khi gặp Bác: “Làm Bác Hồ khó hơn làm ông thánh” (trang 287).

 

    Chính khách nào ra cầm quyền đều ra sắc lệnh b́nh đẳng cho phụ nữ. Nhưng khi sắc lệnh kư xong th́ ban đêm họ đi nhà thổ, họ phát triển kỹ nghệ đàn bà. Thậm chí một tổng thống có 3-4 t́nh nhân. Thành ra người ta nói một đàng làm một nẻo. Duy có Nguyễn Tất Thành ghi điều đó khi ḿnh c̣n lầm than. Khi ḿnh làm Chủ tịch nước và khi Người qua đời trên giường Người vẫn vắng hơi ấm đàn bà.” (trang 295).

 

Quư độc giả nghĩ ǵ về những lời “tâng bốc” của nhà văn hóa Phan Ngọc? Nghe sao mà tởm lợm!

 

Chẳng riêng ǵ Phan Ngọc mà hầu hết bọn văn nô, thi nô sống dưới chế độ Cộng Sản khi nói đến Hồ Chí Minh đều phải uốn ḿnh nặn và viết ra những lời xưng tụng như vậy. Đúng là thứ “văn hóa nô dịch”.

 

Làm Bác Hồ khó hơn ông Thánh! Ghê chưa! Có lẽ nhà văn hóa Phan Ngọc “chơi đểu” Bác? Bác “lớn hơn ông thánh” v́ Bác giết người không gớm tay. Phát động Phong trào Cải Cách Ruộng Đất và đấu tố địa chủ giết hại 300 ngàn người dân vô tội, ông Thánh nào dám làm? Phát động cuộc chiến xâm lăng Miền Nam khiến hơn chục triệu mạng người ngă xuống! À, c̣n giường Bác... “Khi ḿnh làm Chủ tịch nước và khi Người qua đời trên giường Người vẫn vắng hơi ấm đàn bà.”th́ đúng quá rồi. Bác đâu thèm hơi đàn bà! Hơi gái trinh thơm ngon hơn chớ!  Mà có thiếu ǵ gái trinh dâng cho Bác!  Này: Tăng Tuyết Minh, Nguyễn Thị Minh Khai, Nông Thị Ngát, Đỗ Thị Lạc, Nông Thị Xuân, Nông Thị Vàng, Nguyệt em gái Nông Thị Xuân, Marie Bière, Vera Vasiliéva, Nguyễn Thị Phương Mai... là những ai đây?  Phan Ngọc và cả Bộ Chính Trị trả lời được không?

 

Bọn bồi bút th́ xưng tụng Bác để kiếm ăn. C̣n dân t́nh thứ thiệt th́ khác. Bác chả là cái chó ǵ cả! Hăy nghe Nguyễn Chí Thiện:

 

Hôm nay 19 Tháng 5

Tôi nằm

Toan làm thơ chửi Bác

Vần thơ mới vừa phang phác

Th́ tôi thôi

Tôi nghĩ Bác

Chính trị gia Sọt Rác

Không đáng để tôi

Đổ mồ hôi

Làm thơ

Dù là thơ chửi Bác.

Đến thằng Mác

Tổ sư Bác

Cũng chưa được tôi nguệch ngoạc vài câu!

Thôi hơi đâu

Mặc thây bọn văn sĩ cô đầu

Vuốt râu, soa đầu mơn trớn Bác.

Thế rồi tôi đi làm việc khác.

Kệ cha Bác!

 

Kể ra Bác chơi chạy rất tài, rất giỏi. Đă có Trần Quốc Hoàn Bộ Trưởng Công An lo cho Bác để “trí óc được thông minh sáng suốt mà phục vụ nhân dân”

 

 

(Xin mời đọc phần 4)

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính