Câu chuyện Văn Học:

 

Văn Chương B́nh Dân Phản Kháng

 

Phạm Quang Tŕnh

 

 

Trong cuốn Việt Nam Văn Học Sử Yếu, giáo sư Dương Quảng Hàm đă phân ra hai loại văn chương, đó là văn chương bác học và văn chương b́nh dân. Giáo sư viết: “Ở nước ta cũng như các nước khác, trước khi các nhà học thức viết những bài văn theo khuôn phép hẳn hoi, th́ người b́nh dân trong nước đă biết đem tư tưởng tính t́nh mà diễn thành những câu tục ngữ, những bài ca dao theo giọng điệu tự nhiên. Văn chương b́nh dân ấy tuy không theo phép tắc nhất định như văn chương bác học nhưng cũng có nhiều áng hay, đời đời do sự truyền khẩu mà lưu lại đến ngày nay, rất phong phú; lại biểu lộ tính t́nh phong tục của dân ta một cách chất phác, chân thực; thật là một cái kho tài liệu quư hóa cho ta.”

 

Văn chương b́nh dân theo giáo sư Dương Quảng Hàm cũng là văn chương truyền khẩu gồm có Ca Dao và Tục Ngữ. Thật ra ngoài Ca Dao và Tục Ngữ, cần phải nói đến nhiều h́nh thức khác như Giai Thoại, Truyện Vui, Truyện Tiếu Lâm xuất hiện dưới các chế độ, nó vừa mang tính b́nh dân vừa mang tính chiến đấu quyết liệt và sâu sắc, có thể gây một tác dụng lớn lao không thể lường được trong tâm lư quần chúng. Ở đây, người viết xin nhấn mạnh về tính chiến đấu.

 

Nh́n lại một số phong tục của người Việt Nam trước đây như tục nhuộm răng đen, mặc áo cài khuy bên phải, tục xăm ḿnh vân vân, ta thấy nó có ư nghĩa đáng kể trong việc đấu tranh bảo vệ ṇi giống hầu tránh sự đồng hóa của giặc phương Bắc. Bởi v́ dân tộc Việt Nam cũng như các dân tộc khác ở vùng Đông Á đều có một nền văn hóa riêng, cá biệt với nhiều sắc thái. Dân tộc Việt Nam cũng có một nền tư tưởng triết lư để làm chủ đạo cho cuộc sống và đấu tranh sinh tồn. Dân tộc Việt Nam cũng là một dân tộc thông minh có nhiều chất sáng tạo, lại sẵn sàng tiếp thu văn hóa của người để làm phong phú cho nền văn hóa của ḿnh; nhưng lại cũng sẵn sàng đấu tranh quyết liệt để loại trừ các sản phẩm phi nhân, phản động và phản tiến hóa. Nh́n lại gia sản tinh thần ấy, từ những cổ vật đơn sơ như trống đồng Đông Sơn thuộc nền Văn hóa Ḥa B́nh đến cái Đ́nh được dựng lên ở mỗi làng, ta nhận thấy biểu hiện bàng bạc tinh thần văn hóa ấy. Tinh thần văn hóa dân tộc trải qua bao thế kỷ đă bồi đắp dựng nên căn nhà Việt Nam trường tồn bất diệt. Triết lư sinh động của dân tộc từ ngàn xưa đă thấm nhiễm vào cuộc sống và trở thành chủ đạo, thế nên khi bị một sức phản động nào quấy phá th́ sức đấu tranh của dân tộc bắt đầu xuất hiện. Đành rằng, đấu tranh th́ có lúc hên lúc xui, lúc thắng lúc thua. Nhưng cuối cùng, cuộc đấu tranh nào cũng đem đến sự chiến thắng vinh quang của tinh thần dân tộc.

 

Ca dao VN có câu:

          Trăm năm bia đá th́ ṃn

          Ngàn năm bia miệng hăy c̣n trơ trơ.

 

Bia miệng chính là một h́nh thức công kích, phản kháng hay chiến đấu. Cái hay cái dở sẽ được muôn đời nhắc đến qua nền văn chương cá biệt của dân tộc. Kẻ thù bên trong cũng như giặc xâm lược từ bên ngoài đều bị tấn công ác liệt qua loại văn chương truyền khẩu này. Loại văn chương ấy được thể hiện qua nhiều h́nh thức như Vè, Ca Dao, Truyện Cười có tính hài hước chế nhạo. Trước một kẻ thù tàn bạo, người dân ở thế cô, bị áp chế, trong tay không một tấc sắt, họ có thể đặt ra những câu vè để chỉ trích, chế nhạo, hoặc dựng nên một nhân vật tưởng tượng trong câu chuyện để châm biếm, phản kháng mà dù dưới h́nh thức nào, nó cũng hàm chứa những ư nghĩa công kích thật sâu sắc.

 

I. Đối tượng đấu tranh của Văn Chương phản kháng qua lịch sử dân tộc

 

 Ba đối tượng nổi bật nhất là: giặc ngoại xâm phương Bắc, Vua Lê Chúa Trịnh và Cộng Sản Việt Nam.

 

 1. Giặc ngoại xâm phương Bắc

 Cuộc đấu tranh cam go nhất trong lịch sử mấy ngàn năm vẫn là cuộc tranh đấu với giặc Bắc phương. Các vua chúa Trung Hoa thời phong kiến luôn luôn có tham vọng xâm chiếm các lân bang, trong đó có Việt Nam. Đó là mối thù truyền kiếp của dân tộc. Nếu giặc phương Bắc đề cao dân tộc tính của ḿnh th́ dân tộc Việt Nam cũng luôn tự hào về tinh thần bất khuất của họ. Các quan trạng Việt Nam được cử đi sứ sang Trung Hoa là một trong những thí dụ điển h́nh nhất.

 

Các Quan Trạng ngày trước cũng như các vị Bộ Trưởng Ngoại Giao bây giờ, có một sứ mạng rất quan trọng. Họ đóng vai sứ giả, đại diện cho Vua, cho Nước, thành ra cung cách của họ, từ cách đi đứng đến cách ăn nói phải làm sao cho thật khôn khéo để một mặt giữ thể diện cho ḿnh, một mặt làm cho đối phương phải kiêng nể. Các dân tộc Đông Á, cách riêng dân tộc Việt Nam và Trung Hoa đă một thời rất chuộng văn chương chữ nghĩa, đến nỗi văn chương xâm nhập cả vào lănh vực chính trị ngoại giao. Văn hay, chữ tốt, đối đáp giỏi th́ thắng lợi. Văn dốt, vũ nhát th́ chắc chắn phải thua, đó là định luật. Bởi đó khi cử người đi sứ, vua Việt Nam phải chọn người có tài văn chương, ứng đối cho hay, cho giỏi.

 

Văn học Việt Nam hay nhắc đến câu đối của trạng Mạc Đĩnh Chi khi ông đi sứ, đến cửa Ải Nam Quan bị quân Tàu chặn lại ra câu đối:

 Quá quan tŕ, quan quan bế, thỉnh quá khách quá quan.

 

Mạc Đĩnh Chi đă đối lại:

 Xuất đối dị, đối đối nan, nguyện tiên sinh tiên đối.

 

Ư nghĩa câu đối là: qua cửa quan trễ, cửa quan đóng, xin mời ông qua. Câu đối này xem ra thật khó v́ có tới 4 chữ “quan”, 3 chữ “quá”. Vậy mà quan trạng Việt Nam đă đối lại một cách sâu sắc để trả lời với ư nghĩa rằng : ra câu đối th́ dễ, đối lại th́ khó, vậy xin ông đối trước. Thế là quân Tàu buộc ḷng phải mở cửa cho quan trạng Việt Nam qua.

 

Trong văn chương b́nh dân Việt Nam cũng xuất hiện hai nhân vật tưởng tượng là Trạng Lợn và Trạng Ếch để nói lên tài ứng đối của của người Việt Nam đối với người Tàu. Tuy nhiên phải đến Trạng Quỳnh mới là nhân vật độc đáo để văn chương chiến đấu xuất hiện một cách sâu sắc đối với cả quân Tàu lẫn bọn vua chúa phong kiến sa hoa ngày trước.

 

Giai thoại kể lại rằng, trên chiếc thuyền chở sứ Tàu vào kinh đô nước Nam, sứ Tàu lỡ đánh rắm “ủm” một cái khiến cả thuyền cười rồ. Sứ Tàu thẹn đỏ mặt, vội chữa thẹn bằng cách đọc lên câu đối “Sấm động Nam Bang” ư nói rằng rắm của sứ Tàu to như tiếng sấm làm rung động cả nước Nam! Trạng Quỳnh giả làm tên lái đ̣ bực quá v́ thấy sứ Tàu ăn nói xỏ xiên, liền vạch ngay “Bác Hồ” ra đái vọt qua đầu sứ Tàu ướt rượt vừa đọc “Vũ qua Bắc Hải” tức là mưa qua biển Bắc. Kết quả, dĩ nhiên sứ Tàu lănh đủ v́ hơi rắm thúi chỉ thoáng qua, nhưng “nước mưa” từ người Trạng Quỳnh phát ra th́ sứ Tàu lưu giữ măi!!!

 

 Rồi đến khi gặp bà Đoàn Thị Điểm, sứ Tàu lại có ư xấu mở miệng phun ra câu “An Nam nhất thốn thổ, bất tri kỷ nhân canh”, nước Nam chỉ có mỗi miếng đất nhỏ, mà ai cũng “cày”... để bà Đoàn Thị Điểm mắng đối lại “Bất khuất đại trượng phu, giai do thử đồ xuất” có nghĩa là: Đại trượng phu các ông cũng từ chỗ ấy mà chui ra cả” khiến sứ Tàu phải bẽ mặt! Nhưng đó chỉ là màn mào đầu.

 

 Khi sứ Tàu vào gần tới triều đ́nh vua Việt Nam th́ ông ta không chịu đi qua cổng chào v́ có ba chữ “An Nam Quốc” được viết trang trọng ở trên. Sứ Tàu kiêu kỳ bắt vua phải ra lệnh hạ cái bảng chữ ấy đi, ngụ ư rằng, sứ Trung Hoa đi qua tức là chịu lép vế với nước An Nam. Nhưng vua Việt Nam không nghe thành ra đôi bên cầm cự nhau măi về cái chuyện ngoại giao. Lúc đó, Trạng Quỳnh giả vờ làm anh lính hầu quạt đứng phía trong cầm cây quạt có cán dài đập vào đầu sứ Tàu, rồi bỏ chạy. Sứ Tàu tức quá đuổi theo chui qua cổng tức th́ Trạng Quỳnh la lên rằng “Sứ Tàu đă chui qua cổng rồi”. Lúc ấy sứ Tàu mới biết rằng ḿnh bị mắc mưu, không c̣n nói vào đâu được nữa.

 

 2. Thời vua Lê chúa Trịnh:

 

Trong nước ta, thời vua Lê chúa Trịnh, vua chúa ăn xài xa hoa làm dân t́nh khốn khổ. Dân chúng chưa nổi lên đánh đổ được bằng quân sự hay chính trị thời liền xuất hiện loại văn chương chiến đấu. Nhân vật Trạng Quỳnh lại được đóng vai tṛ xung kích qua nhiều câu chuyện như sau:

 

 *Truyện Hộp Đồ Quư

 

Vua quan lúc ấy ăn xài xa hoa mà không chịu làm việc thương dân giúp nước. Trạng Quỳnh muốn chơi cho Vua và các quan một vố thời Trạng làm một cái hộp trông rất đẹp, bên ngoài sơn son thiếp vàng, và bên trong đựng toàn phân lỏng với cào cào châu chấu. Đi đâu, Trạng Quỳnh cũng mang theo nhưng tuyệt nhiên không mở. V́ là nhân vật quan trọng -Quan Trạng của nước cơ mà- vai tṛ và chức vụ cũng như Cố Vấn An Ninh Quốc Gia của Tổng Thống Hoa Kỳ bây giờ, có khi c̣n hơn nữa, nên Trạng rất được nhà vua và các quan kính nể. Nhà vua và các quan thấy Trạng đi đâu cũng mang theo cái hộp đẹp ấy th́ ṭ ṃ hỏi:

 - Quan Trạng mang cái hộp đẹp, đựng ǵ trong đấy?

 

Trạng Quỳnh trả lời tỉnh bơ:

 - Hộp này thần đựng phân ấy mà!

 

Vua và các quan lại càng không tin, cứ ṭ ṃ hỏi măi. Trạng Quỳnh giả vờ tức giận:

 - Phân chứ có ǵ đâu!

 

Nghe Trạng trả lời như thế, vua và các quan lại càng không tin. Mà ai tin được Quan Trạng đi đâu cũng mang hộp đựng phân kia chứ! Vua và các quan cố đ̣i coi cho bằng được. Bất đắc dĩ Trạng Quỳnh phải mở cho nhà vua và các quan coi nhưng không quên dặn rằng:

 - Thần đă bảo là phân mà hoàng thượng và các quan không ai tin. Vậy thần mạn phép mở ra, nếu có ǵ bất trắc, Hoàng Thượng và các quan chớ có kêu ca nhé!

 

Nói xong, Trạng Quỳnh trao cho nhà vua cái hộp rồi đứng xa xa. Lúc ấy vua quan xúm nhau mở ra coi, th́ ôi thôi, bầy cào cào châu chấu nằm trong cái hộp phân lỏng bít kín đă lâu lúc này được tự do bay ra loạn xạ, làm bắn đầy phân vào mặt vua quan với đủ mùi hôi thối! V́ đă lỡ hứa, vua và các quan tuyệt nhiên không ai dám kêu la Trạng Quỳnh, chỉ c̣n nước chạy ồ ra ngoài, đoạn nhẩy cả xuống ao mà tắm gội.

 

 * Truyện Nấu Canh Cải

 

Một ngày kia, vua và Trạng Quỳnh tranh luận với nhau về cái bẩn của nước tiểu và phân. Vua bảo phân bẩn, c̣n Trạng Quỳnh cho là nước tiểu bẩn hơn. Tranh luận nhau kịch liệt không phân thắng bại rồi ra về. Trạng cho người nhà sang đái tứ tung vào đền vua. Vua liền sai lính sang nhà Trạng Quỳnh để phóng uế. Trạng Quỳnh liền la lên rằng:

 - Ỉa th́ được. Chứ đứa nào mà đái th́ ông cắt dái!

 

Bởi đó, đám lính nhà vua sai qua nhà Trạng phóng uế không đứa nào dám ỉa cả, v́ hễ ỉa th́ phải đái. May mà c̣n một tên lính vừa đi tiểu ở nhà nên lúc qua nhà Trạng cố rặn măi được một cục phân. Trạng Quỳnh liền lấy cục phân ấy đem bón cây cải. Cây cải lớn lên xanh tốt, Trạng cắt về nấu nồi canh dâng lên vua. Vua ăn thấy ngon, liền khen rối rít:

 - Canh cải Trạng nấu canh sao mà ngọt thế!

 

Trạng Quỳnh trả lời tỉnh bơ:

 - Có ǵ đâu. Chính là nhờ cái cục phân của tên lính mà Hoàng Thượng sai sang ỉa bên nhà thần đem đi bón cây cải ấy mà.

 

 * Ngoài nhân vật Trạng Quỳnh, dân chúng c̣n tạo ra những nhân vật tưởng tượng để công kích thói ăn xài xa hoa của vua quan phong kiến như truyện:

 

          “Cây Quế Thơm

 

 Thời đó dân t́nh đói khổ, không biết làm ǵ để mà sống, trong khi vua quan bóc lột ác ôn, ăn xài xa hoa. Có một anh chàng kia, cha mẹ chết đi để lại căn nhà trơ trọi chỉ có một cây quế. Đói quá, không có ǵ ăn, anh liền bóc vỏ quế ăn. Không ngờ đêm nằm ngủ, mùi rắm anh ta phun ra xông lên thơm ngào ngạt. Từ đó, anh liền nghĩ ra một kế sinh nhai là bán cái mùi rắm thơm đó để lấy tiền mua gạo mà sống. Anh liền đi dạo khắp nơi, ngang qua cả đền vua, vừa đi vừa rao rằng:

 - Rắm thơm rắm hoa, ba đồng một nắm, ai mua th́ mua!

 

Nhà vua nghe có người bán rắm thơm th́ liền cho lính hầu gọi anh ta vào mà mua. Vua truyền mang tất cả quần áo và mọi đồ dùng ra trưng bày, đoạn gọi cả triều đ́nh và các quan cùng ngồi trong pḥng để anh chàng bán rắm chổng đít đánh cho mùi thơm bay tỏa khắp đền vua. Vua quan thưởng thức cái mùi rắm của anh phun ra lấy làm sung sướng lắm. Phần anh chàng bán rắm, làm xong nhiệm vụ, anh được vua ban thưởng trọng hậu, có tiền mua sắm đủ thứ, trở thành giàu có sang trọng.

 

 Lúc đó lại cũng có một anh chàng đói rách khác thấy anh này làm ăn khấm khá, liền hỏi:

 - Lâu nay anh làm ăn lên quá. Vậy có cách ǵ làm ơn chỉ cho tôi biết với.

 

Anh chàng bán rắm thơm liền bảo:

 - Có ǵ đâu. Cách này dễ lắm. V́ nhà vua và các quan ăn mặc xa hoa, nên thích mùi thơm. Nếu anh muốn có nhiều tiền th́ cứ theo cách tôi chỉ cho sau đây. Nhớ nghe cho rơ: Anh cứ lấy gạo sống mà ăn, rồi uống nhiều nước lạnh. Ban đêm, lúc trời lạnh, anh ra ngoài sân nằm ngủ để phanh bụng ra... cho tới khi nào anh thấy đau bụng đau thật nhiều th́ chạy sang đền vua mà rao to lên rằng: “Rắm thơm rắm hoa ba đồng một nắm, ai mua th́ mua!”

 

 Được bửu bối, anh chàng đói rách liền về thực hiện y chang lời anh chàng bán rắm chỉ không sai một ly. Nhà vua lâu nay không thấy anh chàng bán rắm thơm mùi quế th́ đâm ra nhớ, bỗng nghe thấy tiếng rao inh ỏi liền cho lính hầu gọi gấp anh ta vào. Lúc ấy vua quan và các đồ dùng đă được sắp sẵn. Anh chàng ăn gạo sống uống nước lă bị đau bụng quá trời, yên trí rằng có thể “khai hỏa” liền chổng đít vào mặt vua quan mà hành sự. Nào ngờ, “phẹt” một cái, bao nhiêu phân lỏng hôi hám bắn tứ tung vào mặt vua quan!

 

 Những câu chuyện xem ra “tục tĩu b́nh dân” này thực sự đă được truyền tụng khắp trong dân gian. Có phải dân chúng tục tĩu không? Thưa rằng không! Chính bọn vua quan phong kiến sống trên đầu trên cổ nhân dân mới là những kẻ tồi tệ vô liêm sỉ đến độ dân chúng muốn “ỉa vào mặt” mà cũng không biết lấy làm nhục. Dân chúng cô thân cô thế, bị đàn áp bóc lột, trong tay không có một tấc sắt để làm vũ khí tự vệ th́ họ phải dùng đến văn chương b́nh dân chiến đấu, truyền khẩu, như một vũ khí chiến tranh tâm lư, vậy mà những câu chuyện đó lại tác dụng vô kể.

 

 3. Thời đại Hồ Chí Minh và tập đoàn Cộng Sản

 

Thời đại Hồ Chí Minh và tập đoàn Cộng Sản cũng chẳng khác ǵ thời vua quan phong kiến ngày xưa, và c̣n tệ hại hơn thế nữa. V́ sống trong chế độ Cộng sản, người dân bị bóc lột đủ đường, từ của cải đến tự do và phẩm giá con người. So sánh chế độ Cộng Sản với các chế độ thực dân phong kiến trước đây, ta thấy chế độ Cộng Sản quả thật c̣n tệ hại gấp trăm lần! Dưới chế độ thực dân phong kiến, người dân cũng bị đàn áp bóc lột, nhưng trong các chế độ ấy, c̣n khá nhiều kẽ hở để người dân có thể thở và sống. Tâm tư, t́nh cảm của con người chưa bị xâm phạm một cách trầm trọng. Ngược lại trong chế độ Cộng Sản, người dân bị bóc lột hoàn toàn để biến thành những con vật cho nhà nước mặc t́nh sai bảo. Từ cái ăn, cái ngủ, cái đi, cái đứng đến cách suy tư ăn nói... nhất nhất đều bị nhà nước Cộng Sản kiểm soát ngặt nghèo gắt gao, chưa từng thấy trong một chế độ tệ hại nào trước đây. Khi chưa nắm được chính quyền th́ Cộng sản dùng đủ mọi lời đường mật để tuyên truyền dụ dỗ. Nhưng khi đất nước đă hoàn toàn nằm trong bàn tay của chúng thời chúng áp dụng chính sách cai trị một cách tàn bạo, để từ đó người dân mới nh́n thấy thực chất bỉ ổi của chúng.

 

 Trên đường phố Sài G̣n sau ngày 30-4-1975 bỗng nhiên xuất hiện một câu thật có ư nghĩa: “Đă Thấy Chưa?” Chỉ có ba chữ mà nói lên thực chất của cả một chế độ cùng tâm tư bất măn của mọi người dân trong nước. Cũng chỉ có ba chữ thôi mà bọn cán bộ Việt Cộng nh́n thấy th́ “nóng mặt” thật khó chịu, c̣n dân chúng th́ “cười ra nước mắt!” Dân chúng miền Nam chỉ có mấy bữa là thấm thía, nhưng dân chúng miền Bắc suốt trên 20 năm chắc chắn là đă sống trong sự cùng cực, từ chỗ hy vọng miền Nam ra giải phóng họ đến chỗ tuyệt vọng v́ miền Nam lại bị rơi nốt vào tay Cộng Sản. Nhưng chính trong cảnh cùng cực đó, họ càng thấy rơ thực chất của chế độ đồng thời có những phản ứng quyết liệt hơn qua văn chương b́nh dân chiến đấu đối với Hồ Chí Minh và tập đoàn Cộng Sản. Thực vậy, chưa nếm th́ chưa cảm thấy ǵ, nhất là những người ngoài cuộc như những kư giả ngoại quốc dễ tin và ngây thơ đă viết bài, viết sách ca tụng Hồ Chí Minh một cách sống sượng và trơ trẽn. Dân chúng miền Bắc th́ không như thế, Hồ Chí Minh trước mắt họ cũng chỉ là loại “thằng” đểu giả ác ôn! Mỗi năm, vào dịp Tết đến, họ Hồ có thói quen làm một bài thơ chúc Tết. Bài nào cũng nhai đi nhai lại luận điệu đấu tranh cũ rích là đánh bại địch để xây dựng đất nước, trong khi thực chất dân chúng chỉ thấy đói rách, khổ đau. Năm 1945, một người đi kháng chiến Việt Minh (dư luận cho là của cụ Phan Khôi) đă làm một bài thơ kiểu nói lái như sau:

 

Chú phỉnh tôi rồi chính phủ ơi

 Chiến khu để của chú khiêng rồi

 Thi đua sản xuất thua đi măi

 Kháng chiến trường kỳ khiến chán thôi

 

Thực trạng quê hương chiến tranh đói khổ như thế mà họ Hồ cùng tập đoàn cứ gân cổ lư luận thắng lợi, kể cả trong thơ của họ Hồ. Bởi vậy, mỗi lần họ Hồ làm thơ th́ từ trong dân chúng đă có câu thơ phản ứng lại được truyền tụng như sau:

 Nghe thơ là biết thằng nào làm thơ!

 

Với tập Hồi Kư Trong Tù, họ Hồ cũng làm thơ trong đó có bài:

 

           Trằn trọc

 Một canh, hai canh, lại ba canh

 Trằn trọc thâu đêm giấc chẳng thành

 Canh bốn, canh năm vừa chợp mắt

 Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh.

 

Nội dung bài này nói đến tinh thần đấu tranh của họ Hồ, nhưng cán bộ Việt Minh cho rằng Bác Hồ nói phét, liền nhại lại thành bài thơ “Bác Hồ bắn máy bay” (nghĩa là đêm Bác mơ thấy các nàng thiếu nữ nhẩy chung quanh, hứng quá liền xuất tinh ra đầy quần):

 

 Một canh, hai canh, lại ba canh

 Trằn trọc thâu đêm giấc chẳng thành

 Canh bốn, canh năm vừa chợp mắt

 Các nàng thiếu nữ nhẩy ṿng quanh

  Pằng! pằng! pằng!

 Bác sướng quá các đồng chí ơi

 

 Con người Hồ Chí Minh như thế, mà sau khi y chết rồi, Đảng Cộng sản vẫn ngoan cố ca tụng y qua các biểu ngữ được viết treo khắp đó đây trong nước: “Hồ Chủ Tịch sống măi trong quần chúng”. Văn chương chiến đấu của dân chúng Việt Nam chỉ cần thêm một chữ là ư nghĩa khác hẳn “Hồ Chủ Tịch sống măi trong quần chúng... ta”. Trẻ chăn trâu miền Bắc hay nói chọc nhau: “Ê thằng này, ngồi để tḥ cả Cụ Hồ ra?”

 

 Sự khinh miệt Hồ Chí Minh thực ra đă có từ thời kháng chiến, dân chúng Việt Nam coi ông ta chỉ là thứ người bẩn thỉu xấu xa qua hành vi và tư cách cần phải che đi chẳng khác ǵ bộ phận sinh dục của đàn ông. Cụ Phan Khôi trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm năm 1956, đă viết tập truyện ngắn “Nắng Chiều”, trong đó cụ kể lại câu chuyện Hồ Chí Minh về thăm dân chúng miền thượng du. Cũng từ ngày đó, xuất hiện một thứ cỏ dại, mùi hôi khó chịu mà dân chúng ở các miền đồng bằng gọi là cây bù xít hay là cây cứt lợn. Trái lại, dân Mường ở đây lại gọi là “cỏ cụ Hồ” v́ từ ngày có cụ Hồ về đây th́ cái thứ cỏ này bắt đầu mọc lên. Tập truyện ngắn của cụ Phan Khôi bị Đảng ém nhẹm và kết tội tác giả là có đầu óc xỏ xiên phản động. Nhưng cây viết Đoàn Giỏi lại lôi tập truyện ấy ra để tŕnh diện cho quần chúng coi bằng cách viết bài đả kích cụ Phan Khôi mà thực chất là cho quần chúng thấy ng̣i bút rất sâu sắc của tác giả qua tập truyện Nắng Chiều này. Đảng Cộng Sản VN nhận ra điều đó liền kết tội Đoàn Giỏi là giả vờ đả kích Phan Khôi để đả kích Đảng.

 

 Hồ Chí Minh đă bị quần chúng Việt Nam liệt vào hạng đồ dơ bẩn xấu xa. Nhưng Lê Duẩn, Tổng Bí Thư Đảng lại bị dân chúng liệt vào hạng người nói láo qua câu:

 Thứ nhất anh Ba

 Thứ nh́ Nha Khí Tượng

 

Bí danh của Lê Duẩn là Anh Ba. Nha Khí Tượng của miền Bắc xă hội chủ nghĩa chuyên đoán thời tiết sai lầm, dân chúng cho là cơ quan nói láo, nói sai, dân không biết đâu mà ṃ, mà tin. Tuy nhiên Anh Ba Lê Duẩn c̣n nói láo hơn một mức nữa nghĩa là anh nói láo vào hạng số một!

 

Vơ Nguyên Giáp làm Cai Xưởng Đẻ

 

Vơ Nguyên Giáp là Bộ Trưởng Quốc Pḥng, là Tổng Tư Lệnh Quân Đội Nhân Dân, nhưng bị nhóm Lê Duẩn, Lê Đức Thọ ghen ghét. Sau ngày 30-04-1975, có lần Vơ nguyên Giáp bị phe Lê Duẩn - Lê Đức Thọ hạ nhục cử làm Chủ Tịch Ủy Ban Điều Ḥa Sinh Sản nôm na gọi là Cai Xưởng Đẻ. Thân danh là Đại Tướng, vậy mà Vơ Nguyên Giáp cúi đầu cam chịu nhận cái chức “Cai Xưởng Đẻ” dù biết rằng bị hạ nhục mà không có can đảm để từ chối. Bởi đó, dân chúng làm ngay mấy câu thơ “khen tặng” Giáp như sau:

 

Ngày xưa ông giỏi cầm quân

Bây giờ ông giỏi túm quần chị em

 

hay:

Ngày xưa ông giỏi cầm côn

Bây giờ ông giỏi bịt l... chị em

 

Và một bài thơ nhái Kiều:

 

Trăm năm trong cơi người ta

Người ta ai cũng thụt ra thụt vào.

Phong kiến như thể nước Tầu

Người ta ai cũng thụt vào thụt ra.

Văn minh như thể nước Nga,

Người ta ai cũng thụt ra thụt vào.

Lạc hậu như thế nước Lào,

Người ta ai cũng thụt vào thụt ra.

Anh hùng như thể nước ta,

Mà sao lại cầm thụt ra thụt vào?

 

 Tập đoàn cán bộ đảng viên cộng sản cũng theo cái đà “cha nào con nấy”, lại ra sức bóc lột quần chúng mà điển h́nh nhất là bọn công an, cán bộ thuế vụ và thủy lâm. Ba thứ công cụ tay sai này chấp hành lệnh Đảng để kiểm soát và bóc lột quần chúng, nhưng đồng thời cũng là những tên tham nhũng táng tận lương tâm. Dân chúng oán hận muốn tiêu diệt bọn ác ôn này:

 Công an, thuế vụ, thủy lâm

 Cả ba thứ ấy nên đâm thứ nào

 Suy đi nghĩ lại gắt gao

 Cả ba thứ ấy thứ nào cũng đâm!

 

Trước cảnh áp bức, nhiều khi dân chúng không cần đặt ra thơ ca để chỉ trích mà họ lấy ngay chính những câu của tập đoàn ác ôn đó ra đập theo câu nói “lấy gậy ông đập lưng ông”. Chẳng hạn Việt Cộng rất ca tụng câu nói của Hồ Chí Minh “Không có ǵ quư hơn độc lập tự do”. Dân miền Nam xầm x́ nghe câu đó thấy chí lư lắm. Họ thấy rơ từ ngày Việt Cộng tấn chiếm miền Nam th́ tuy nghèo khó, nhưng vàng bạc kim cương c̣n có thể kiếm ra được bằng cách buôn chui, buôn lủi, nhưng tự do th́ không c̣n v́ giặc Hồ đă cướp.

 

 Có một tù nhân đi cải tạo, Việt Cộng lôi ra cho làm vườn cuốc đất. Anh tù nhân bắt được một con chim và nuôi trong một cái lồng. Nh́n cảnh chim lồng cá chậu, anh buồn thấm thía cho cuộc đời ḿnh, nên viết câu “Không có ǵ quư hơn độc lập tự do” lên tờ giấy rồi gắn vào lồng chim. Cán bộ trại cải tạo đi ngang qua thấy h́nh ảnh đó liền bắt nhốt anh vào xà lim 8 tháng!

 

 Những câu hát của Việt Cộng c̣n được “nhại” một cách rất sâu sắc. Ở miền Bắc sau cách mạng tháng 8, Việt Minh phổ biến bài hát “Ai yêu bác Hồ Chí Minh hơn các em nhi đồng”, bọn cán bộ thêm vô “Ai yêu bác Hồ Chí Minh hơn các em chưa chồng”! Ở miền Nam, sau ngày 30 tháng 4, trẻ em được Việt Cộng dạy hát rất nhiều cốt ư để nhồi sọ. Nhưng cũng trong bối cảnh đó, những câu hát nhại lại được dân chúng và nhất là các em nhi đồng phổ biến mạnh mẽ hơn. Chỗ nào tụ tập đông là các em hát, các em hát mà lại không biết sợ. Việt Cộng có bắt các em th́ cũng vô ích v́ chúng không phải là tác giả những câu hát đó. Ở miền Nam, các câu hát đó đă được phổ biến rộng răi, chỗ nào cũng nghe thấy, chẳng hạn như:

 Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng

 

th́ các em đổi lại:

 Như có bác Hồ vô nhà thương Chợ Quán

 Vừa bước ra bị xe cán u đầu!

 

Câu này ngụ ư Hồ Chí Minh là một thằng điên phải vào nằm nhà thương Chợ Quán. Đă vậy, dân chúng nhiều khi c̣n dùng chữ theo nghệ thuật nói lái : “Đem bác Hồ ra lộng kiếng”. Chữ “lộng kiếng” đọc ngược lại là “liệng cống”. Bài chào cờ của bọn Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam cũng được nhại lại như sau:

 Miền Bắc hút thuốc lào

 Miền Trung hút thuốc rê

 Miền Nam hút thuốc Captain con mèo

 

Câu hát này ngụ ư rằng cuộc sống của ba miền trong thời gian vừa qua th́ miền Nam tự do sung sướng hơn cả (hút thuốc Captain con mèo). Chỉ có miền Bắc là khổ v́ tiếp tục hút thuốc lào đă bao nhiêu năm trong chế độ Cộng Sản.

 

 Việt Cộng thay đổi cái ǵ là dân chúng lại có phản ứng ngay. Thí dụ đường Tự Do ở Sài G̣n đổi tên là đường Đồng Khởi; đường Công lư đổi lại là Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Sự thay đổi tên đường cũng như sự thay đổi chế độ làm mất tự do, công lư và phẩm giá con người. Thế nên xuất hiện hai câu thơ phản ảnh thực trạng đó:

 

 Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công lư

 Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do

 

Văn chương b́nh dân chiến đấu có lẽ c̣n sâu sắc hơn khi bước sang lănh vực giai thoại. Đó là những câu chuyện tiếu lâm, chuyện cười, có thể có thực, hoặc có thể được dân chúng sáng tác phỏng theo các sự kiện thực tế để nói lên tâm trạng chán nản, bất măn, chống lại chế độ Cộng Sản ác ôn hay chế giễu những cái hủ lậu ngu dốt của chúng. Những câu chuyện tiếu lâm này rất dồi dào và tràn lan trong dân chúng, chỗ nào cũng nghe thấy. Chỉ có điều là mỗi chỗ, mỗi nơi lại thêm mắm thêm muối vô cho câu chuyện thêm mùi vị có màu sắc địa phương hơn, c̣n cốt truyện vẫn y nguyên, vẫn có chủ đích là công kích, đả phá hoặc chế giễu Cộng Sản. Sau đây, xin ghi lại mấy câu chuyện tiêu biểu.

 

 * Nhà Vệ Sinh Xă Hội Chủ Nghĩa

 

Một phái đoàn quốc tế đến thăm Việt Nam Xă Hội Chủ Nghĩa. Phái đoàn vào trụ sở của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong một ṭa nhà lầu đồ sộ tại Hà Nội. Lúc ấy, phái đoàn sau khi ăn uống no say, muốn đi vệ sinh nhưng không biết nhà vệ sinh ở chỗ nào, liền hỏi nhân viên hướng dân ở lầu một. Nhân viên này cho biết:

 - Tầng lầu này do các đảng viên cấp nhỏ làm việc. V́ cuộc sống vật chất quá thiếu thốn, cái ăn cái mặc không đủ, họ không có ǵ ăn nên cũng không cần đi vệ sinh và do đó ở lầu này cũng không có nhà vệ sinh.

 

 Phái đoàn lên lầu hai hỏi tiếp th́ nhân viên hướng dẫn ở lầu này cũng cho hay:

 - Đây là chỗ làm việc của các nhân viên cán bộ trung cấp. V́ cuộc sống đắt đỏ nên các nhân viên này chạy ra ngoài dân chúng để kiếm ăn bằng cách bóc lột và tham nhũng. Họ ăn ở đâu th́ đi vệ sinh ở đấy, nên lầu này cũng không có nhà cầu.

 

 Phái đoàn lại phải leo lên lầu ba là chỗ Bộ Chính Trị và Trung Ương Đảng làm việc, và cũng hỏi cán bộ hướng dẫn. Cán bộ hướng dẫn này nói một cách mạnh dạn:

 - Đây là chỗ các chỗ các đồng chí lănh đạo Trung Ương, họ ăn to nói lớn và ỉa trên đầu trên cổ nhân dân rồi đâu cần chi đến nhà vệ sinh nữa!!!

 

 * Chuyện Con Voi

 

 Nhà nước xă hội chủ nghĩa Việt Nam mời các phái đoàn quốc tế, trong đó có cả phái đoàn Mỹ, Nga và trung Quốc. Trên đường đi xe lửa ra miền Trung tham quan, có một con voi khổng lồ ra chặn đường khiến xe lửa không tài nào qua được. Phái đoàn Nga xuống nạt nộ:

 - Bớ voi kia, có chạy đi chỗ khác chơi không. Tao bắn hỏa tiễn vào mặt bây giờ!

 

Con voi đứng yên không nhúc nhích. Phái đoàn Mỹ cũng xuống la lớn:

 - Này chú voi, chú có sợ xe ủi và máy bay B52 của Mỹ không chớ? Muốn yên thân th́ đi chỗ khác, không th́ ủi chú xuống sông bây giờ!

 

 Voi vẫn đứng yên không chịu đi. Phái đoàn Trung Cộng hô hoán lớn hơn:

 - Này chú voi, bạn của nhân dân Trung Quốc, liệu mà bước đi. Mao Chủ Tật cắt ṿi chú bây giờ.

 

 Chú voi vẫn không nhúc nhích. Lúc ấy đại diện phái đoàn Việt Cộng là Phạm Văn Đồng bước xuống ghé vào tai voi th́ thầm ǵ đó, không ai nghe được, tức th́ vội ba chân bốn cẳng chạy tọt vào rừng. Nhờ đó, chuyến xe lửa chở các phái đoàn quốc tế tiếp tục cuộc hành tŕnh một cách thoải mái. Trên đường đi, phái đoàn Mỹ mới hỏi lại Phạm Văn Đồng:

 - Này ông Thủ Tướng. Các phái đoàn quốc tế nói la đủ kiểu mà con voi không chịu đi nửa bước. Vậy mà sao ngài chỉ cần nói nhỏ một chút là nó đi ngay. Xin ngài cho biết lư do.

 

Phạm Văn Đồng ưỡn ngực thở phào một cái rồi trịnh trọng nói:

 - Có ǵ đâu chớ. Tôi ghé vào tai nó mà bảo: “Này voi, có cút đi chỗ khác không? Tao cho đi học tập cải tạo bây giờ!” Thế là nó sợ hết hồn liền chạy đi luôn.

 

 * Thi Tranh Luận

 

Xẩy ra có cuộc thi tranh luận quốc tế xem nước nào tiến bộ nhất về khoa học.

 

 Phái đoàn Liên Sô nói trước:

 - Nhờ nỗ lực phi thường của nhân dân, Cộng Ḥa Liên Bang Sô Viết của chúng tôi hiện nay chế được loại tàu ngầm có thể chạy sát đáy biển!

 

 Phái đoàn Mỹ cho là Liên Sô nói dóc liền phản ứng:

 - Thôi đi cha nội. Tàu của các anh chạy sát đáy biển th́ có nước đụng vào đá ngầm chết bỏ thây!

 

 Liên Sô liền chữa thẹn:

 - Nói thế, chứ cách đáy biển sâu nhất cỡ chừng 8 cây số.

 

 Phái đoàn Mỹ lên tiếng:

 - Nhờ công tŕnh nghiên cứu về không gian, sau khi đưa người lên mặt trăng, Mỹ tính đưa người lên mặt trời.

 

 Phái đoàn Nga nghe Mỹ nói nóng mặt, liền phản pháo:

 - Cha nội nói dóc tổ mẹ! Lên mặt trời có nước mà tự thiêu chứ chơi à?

 

 Phái đoàn Mỹ chữa thẹn:

 - Ừ th́ cách mặt trời khoảng một triệu cây số.

 

 Đến phái đoàn Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam do đại tướng Vơ Nguyên Giáp lănh đạo xuất hiện. Từ ngày bị cho rời binh nghiệp, đại tướng Vơ Nguyên Giáp được Bộ Chính Trị cho đặc trách Chương Tŕnh Sinh Đẻ có Kế Hoạch của nhà nước. Nhờ công tŕnh nghiên cứu “Ba khoan” này, Đại Tướng phát biểu dơng dạc:

 - Quư vị nói toàn những chuyện đâu đâu, trên trời dưới nước không thực tiễn chút nào cả. Nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam của chúng tôi tiến bộ lạ thường. Ngày nay đàn bà Việt Nam đều đẻ con ở rún. Vơ Nguyên Giáp chưa dứt câu th́ các phái đoàn nhất tề cười la om tỏi:

 - Nói dóc quá cha nội ơi! Đàn bà các ông đẻ ở rún th́ các ông lấy dao phay mổ bụng ra à?

 

   Vơ Nguyên Giáp nói tỉnh bơ:

    - Dạ, cách rún có một gang!

 

 * Bạn Học Cũ

 

Có một người dân bị Công an Việt Cộng bắt điều tra. Anh ta lạy lục và khai rằng hồi nhỏ anh là bạn học cùng lớp với đồng chí Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Lê Duẩn. Nghe vậy, bọn công an sợ liền tŕnh lên đồng chí Tổng Bí Thư. Bọn này khúm núm thưa:

 - Thưa đồng chí Tổng Bí Thư, có một người bị lực lượng công an bắt. Tên này khai là bạn học với đồng chí Tổng Bí Thư từ thuở nhỏ và xin gặp đồng chí.

 

Lê Duẩn ngồi ngẫm nghĩ một lúc lâu, bỗng quắc mắt la lớn:

 - Đồ nói láo! Hồi nhỏ tao đi chăn ḅ, chứ có học hành ǵ đâu mà nó dám xưng là bạn học với tao?

 

 * Anh Bộ Đội Trường Sơn

 

Việt Nam dưới chế độ xă hội chủ nghĩa với đỉnh cao trí tuệ loài người trong công cuộc hiện đại hóa khoa học lại khoái tṛ phô trương. Nhà nước xă hội chủ nghĩa Việt Nam mời các phái đoàn ngoại quốc đến tham quan chuồng heo hiện đại và nẩy ra ư kiến là phái đoàn nào trong 3 nước Nga, Mỹ và Việt Cộng vô tham quan được lâu nhất sẽ được coi là giỏi nhất (v́ lúc đó chuồng heo phát ra mùi hôi thúi nồng nặc). Đại diện phái đoàn Mỹ nhẩy vô đầu tiên, nhưng chưa được 5 phút đă vội vă nhẩy ra ngoài ói mửa tùm lum và la lên:

 - Thúi quá, chịu không nổi!

 

Đại diện phái đoàn Nga hí hửng bước vào, nhưng cố gắng hết cỡ cũng chỉ được 10 phút là vội vàng bịt mũi nhảy ra. Như vậy là cả Nga lẫn Mỹ đều thua!

 

Đến lượt phái đoàn xă hội chủ nghĩa Việt Nam, cử ngay “đồng chí Văn Tiến Dũng” mang danh anh bộ đội Trường Sơn bệ vệ bước vào. Anh bộ đội vừa bước vào ngồi bệt ngay xuống tức th́ đàn heo đua nhau nhảy ra ngoài ráo trọi.

 

Lư do: chế độ Việt Cộng c̣n thúi hơn cả chuồng heo!

 

 * Con Rùa ở Hồ Hoàn Kiếm

 

Sau khi tấn chiếm được miền Nam thống nhất lại đất nước, chế độ Cộng Sản đă đưa Việt Nam đến độ kiệt quệ, dân t́nh quá đói khổ. Phạm Văn Đồng, Thủ tướng Việt Cộng buồn phiền lo lắng, mất ăn mất ngủ, liền đi dạo quanh bờ Hồ Hoàn Kiếm suy tư nghĩ kế. Giữa lúc ấy, có con rùa từ thời vua Lê Lợi nổi lên. Đồng liền khấn vái xin rùa thiêng ban cho một lời chỉ giáo, như trước kia rùa từng dâng kiếm cho vua Lê Lợi. Rùa liền lặn xuống rồi ngoi lên, miệng nhả ra một quẻ có hai chữ nho đề rằng : “Quy Mă!” Phạm Văn Đồng đọc măi không hiểu ǵ, liền vội vàng đi máy bay vào Sài G̣n đến lăng tả quân Lê Văn Duyệt ở chợ Bà Chiểu (tức Lăng Ông) mà khấn vái. Khấn vái xong, Đồng lại bốc quẻ lại thấy đề hai chữ “Quy Mă”, rồi đem đến ông thầy bói giải quẻ. Ông thầy bói không biết Đồng là ai, cứ tưởng rằng ông này có số vượt biên nên giải thích rằng:

 

 - Quy Mă đọc ngược lại là Qua Mỹ, tức là ông có số vượt biên đấy, liệu thu xếp mà đi, không sợ công an biên pḥng của Việt Cộng nó bắt đâu!

 

 Đồng gật gật cái đầu, nghĩ trong bụng rằng ḿnh đánh đuổi Mỹ chạy dài, bây giờ mà sang ăn mày Mỹ th́ nhục quá, liền cám ơn ông thầy rồi đi chỗ khác khấn vái. Khấn vái xong, Đồng lại xin xăm bốc quẻ. Lần này quẻ ghi ngược lại hai chữ “Mă Quy”, Đồng liền đem đến ông thầy khác nhờ giải đoán. Ông thầy thấy Phạm Văn Đồng già cả tưởng rằng lăo ăn mày nhà quê lên tỉnh, nên nói nửa đùa nửa thật:

 - Vận mệnh đất nước lúc này khó khăn, chắc phải “Mă Quy” mới giải quyết xong.

 

 Đồng thắc mắc hỏi:

 - Xin thầy giải thích “Mă Quy” nghĩa là ǵ?

 

 - Mă Quy là Mỹ Qua chứ c̣n cái ǵ nữa. Mỹ có qua giúp viện trợ th́ mới sống nổi. Chứ c̣n mấy ông nội Việt Cộng này, chỉ được cái tài nói láo, miệng th́ hô hào sản xuất mà chỉ sản xuất được toàn là nghị quyết thôi!

 

 Phạm Văn Đồng ra về ḷng buồn rười rượi, miệng lẩm bẩm:

 - Thôi đành vậy. Giá biết trước th́ thà lạy nó c̣n có miếng mà ăn.

 

II. Tính Chất của Văn Chương B́nh Dân Chiến Đấu

 

 Lược thuật lại một số h́nh thức của văn chương b́nh dân chiến đấu, điển h́nh như những mẩu chuyện vừa trưng dẫn, chúng ta thấy nó có những đặc tính như sau:

 

 - Tính chiến đấu hay phản kháng tức là công kích nhắm vào chế độ đương quyền. Chế độ cai trị tàn ác tức th́ từ trong dân gian có phản ứng ngay tức khắc bằng loại văn chương b́nh dân này. Nói cách khác, đối tượng thường là chế độ cai trị. Quân Tàu, Vua Lê Chúa Trịnh, Việt Cộng Hồ Chí Minh... là ba đối tượng, ba thứ chế độ ác ôn, dân chúng oán ghét! Và trong ba chế độ đó thời chế độ Việt Cộng là thứ ác ôn bị đả kích mạnh mẽ nhất.

 

 - Thứ hai là tính hài hước: câu chuyện nào, giai thoại nào, câu vè câu hát nào cũng có tính cách chế nhạo pha tṛ cười. Nhờ đó, loại văn chương b́nh dân này rất dễ lan truyền, và loan truyền một cách nhanh chóng trong dân gian.

 

 - Tính bền bỉ: nhờ tính hài hước, nên khi vũ khí tâm lư chiến này một khi được “tác giả” tung ra là nó lan đi măi, đi không ngừng, vượt qua cả không gian lẫn thời gian, qua bao nhiêu là thế hệ mà vẫn không bao giờ dứt, và h́nh như qua mỗi thời đại, lại được “tô điểm, thêm mắm muối hành tỏi” cho mùi mẫn!

 

 - Tính quyết liệt: rơ ràng là loại văn chương b́nh dân này có tính quyết liệt đấu tranh, đánh mạnh, đánh trực diện vào chế độ khiến đối tượng phải đau nhục muôn phần. Đối tượng biết rơ quần chúng phản ứng mà không làm ǵ được.

 

 Thay cho lời Kết Luận:

 

Nh́n lại lịch sử đấu tranh của dân tộc Việt Nam, phải nói rằng dân tộc Việt Nam đă biết sử dụng chiến tranh tâm lư từ lâu đời. Điển h́nh và nổi danh có lẽ phải kể đến những nhân vật như Lư Thường Kiệt, Nguyễn Trăi, Trần Hưng Đạo. Chỉ một bài thơ có bốn câu, khẳng định cái chân lư “Nam Quốc Sơn hà Nam Đế cư” đă làm nức ḷng quân sĩ để tất cả ra sức chiến đấu đánh bại quân nhà Tống trên sông Như Nguyệt.

 

 Cũng chỉ bằng một bài Hịch Tướng Sĩ của Trần Hưng Đạo mà quân dân ta cũng đánh bại 2 lần quân nhà Nguyên.

 

 Nguyễn Trăi qua công tác tuyên truyền “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trăi vi thần” lại càng làm cho quân dân ta tin tưởng vào vận nước “Dẫu cường nhược có lúc khác nhau, song hào kiệt thời nào cũng có” được tŕnh bày trong Bản B́nh Ngô Đại Cáo.

 

 Văn chương b́nh dân phản kháng hay chiến đấu này cũng là một lợi khí sắc bén, một thứ chiến tranh tâm lư lợi hại vô cùng, nhất là thời nay khi ngụy quyền Cộng Sản độc tài lên thống trị, đưa đất nước vào cảnh nghèo đói, khốn khổ. Chế độ càng tàn ác th́ sức phản kháng của dân chúng qua văn chương chiến đấu truyền khẩu lại càng mạnh và dồi dào. Với thực trạng ấy th́ cũng cần phải nhắc lại rằng chưa có thời kỳ khó khăn nào trong lịch sử dân tộc, loại văn chương b́nh dân chiến đấu lại xuất hiện dồi dào và loan truyền mạnh mẽ như thời Cộng Sản ngày nay. Nếu cần phải sưu tầm th́ chắc chắn phải ghi lại thành một pho sách vĩ đại (*). Số lượng lớn lao, nội dung sâu sắc, chứng tỏ sức phản kháng của nhân dân thật là quyết liệt.

 

 Tác dụng của văn chương b́nh dân chiến đấu rất lớn, như một vũ khí bền bỉ nhiều uy lực. Toàn dân bắn ra mà kẻ thù không làm ǵ được, như người ta thường nhận xét: “Một viên đạn bắn ra có thể giết được một tên địch là hết. Nhưng một câu thơ, một bài vè, một câu chuyện cười bắn ra th́ nó lại càng lan ra măi... cho đến khi kẻ thù gục ngă hoàn toàn.”

 

 

Phạm Quang Tŕnh

-------------------------------------------------------------------------------

 

(*) Người viết đă sưu tập và hoàn thành tập tài liệu “Văn Chương B́nh Dân Phản Kháng” dự trù sẽ xuất bản trong nay mai.

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính