Nói và viết tiếng Việt

(vài suy nghĩ vụn vặt)

 

Phạm Quang Tŕnh

 

 

Thời gian qua, (khoảng tháng 11/2017) có cuộc tranh luận trên diễn đàn về hai lối viết “Sử dụng và xử dụng” đă đưa đến cho bạn đọc nhiều thích thú.   

 

Qua các email trao đổi và tranh luận nhẹ nhàng đó, có vị nêu ra vấn đề Việt Nam ta cần phải có Hàn Lâm Viện. Nếu có th́ cũng tốt thôi. Nhưng thiển nghĩ ḿnh chưa có Hàn Lâm Viện th́ có ai cấm ḿnh tranh luận để t́m ra những cái hay cái mới đâu. Thời các Giáo sĩ Tây phương (Bồ Đào Nha, Pháp) sáng chế ra lối viết Chữ Quốc Ngữ bằng mẫu tự La tinh cũng đâu có Hàn Lâm Viện mà công tŕnh của họ thật vĩ đại chưa từng thấy. Rồi sau đó qua thời gian với những sửa đổi cho hoàn chỉnh th́ ngày nay ḿnh đă có lối viết chữ Quốc Ngữ tiến bộ nhiều so với mấy trăm năm về trước thời Linh mục Alexandre de Rhodes. Cho nên trong khi chờ có Hàn Lâm Viện, thiết tưởng ta cứ tiếp tục bản thảo, trao đổi miễn là trong tinh thần xây dựng. Chỉ xin đừng như cái ông Phó Giáo sư “Tiến Sĩ thổ tả của Đảng Ta” đưa ra lối viết mới rất đáp ứng nhu cầu “Hán hóa” của bọn Tầu Khựa và tay sai đă được cả nước lên tiếng chưởi cho vỡ mặt.  

 

Trở lại việc trao đổi trên mạng th́ xem ra có nhiều người vẫn lẫn lộn giữa hai lối viết “Sử dụng và Xử dụng”, trong đó có tôi. Tôi đă đọc và viết nhiều lần hai chữ này, vậy mà khi đọc lại các bài viết, đôi khi vẫn thấy bài này viết “sử dụng” và bài khác lại viết là “xử dụng”. Mỗi lần xẩy ra như thế, tôi lại mở tự điển ra coi xem viết như thế nào. Thật vậy, tôi có hơn chục cuốn tự điển tiếng Việt cũ mới đủ loại, vẫn thường mở ra coi mà đôi khi vẫn viết lầm, viết sai. Nay nhở những trao đổi và tranh luận trên diễn đàn, hy vọng là sẽ không vấp phải sai lầm này như trước.

 

Nhưng quả thật, cũng nhờ vụ tranh luận này mà tôi nhớ lại những suy nghĩ vụn vặt của ḿnh về cách phát âm và cách viết từ lâu rồi nên hôm nay muốn ghi lại để chia sẻ với bạn đọc. Xin nhấn mạnh đây chỉ là những suy nghĩ vụn vặt, chủ quan.

 

*  *  *

 

Trên diễn đàn vừa rồi, khi đề cấp đến việc viết “Xử hay Sử”, có bạn nhắc đến sự liên hệ giữa “Chữ và Nghĩa”. Ông viết: “Chữ phải đi liền với nghĩa. SỬ là ghi chép lại các sự kiện như: Tiền sử, Lịch sử, Trang sử, Tiểu sử, Sách sử vv...  th́ phải dùng chữ “S” (Sử) là danh từ”.

 

Tôi đồng ư sự liên hệ giữa chữ và nghĩa. Hiểu nghĩa mới diễn đạt được bằng lời. Lời tức là nói ra thành tiếng. V́ “Nói là dùng lời để tỏ ư tứ” (Việt Nam Tự Điển Lê Văn Đức). Ghi lại tiếng phải dùng chữ. Chữ ta dùng hiện nay là Chữ Quốc Ngữ do các Giáo sĩ Tây Phương đă sáng chế từ mấy thế kỷ trước bằng việc dùng các mẫu tự La Tinh.

 

Muốn viết ra chữ th́ phải biết vật đó thuộc loại tự ǵ, nghĩa làm sao để phát âm cho đúng. Phát âm là nói lên thành tiếng để nghe. Thường th́ người ta phát âm đúng và giống nhau, nhưng giọng nói của mỗi người lại có thể khác. Ngay trong một gia đ́nh, có nhiều đứa con, chúng phát âm thường giống nhau, nhưng giọng chúng có thể khác: trầm bổng, trong trẻo, khàn khàn, vân vân... Tôi dân Bắc Kỳ di cư 54 chính hiệu mà con cháu tôi có đứa giọng Bắc, có đứa giọng Nam, có đứa giọng pha Nam Bắc. Trong một nhà mà con cháu c̣n có giọng khác nhau, huống chi một làng, một xă, một quận, một tỉnh, khu hay miền trong một nước. Giọng nói của nhiều người cũng như giọng của các ca sĩ. Người này có giọng thanh thanh, trong trẻo, dễ nghe. Người kia có giọng ồm ồm, khàn khán, nặng nề, hay the thé như vịt đực. Cũng như ca sĩ này có giọng ca nhẹ nhàng, truyền cảm. Ca sĩ kia lại có giọng trầm buồn, yểu điệu, vân vân.

 

Nước Việt Nam ta chiều dài đo thẳng từ Nam Quan đến Mũi Cà Mâu khoảng 1640 cây số và bờ biển cong queo dài 2200 cây số theo số liệu sách giáo khoa ngày trước. Tôi nhớ như vậy, không biết nay đo lại có đúng như vậy không? Cư ngụ theo chiều dài đó, tất nhiên giọng nói của dân chúng ba miền chắc chắn có những khác biệt.

 

Thật ra, dân Việt nói chung từ Nam chí Bắc có phong tục, tập quán, ngôn ngữ tương đối thuần nhất, lại có cùng một chữ viết (Chữ Quốc Ngữ). Nhưng giọng nói ba Miền (Nam, Bắc, Trung) th́ nghe khác nhau rơ rệt, tuy nói ra vẫn hiểu nhau. Sự dị biệt đó cũng là chuyện b́nh thường. Mà không chi ba miền Nam Bắc Trung mà ngay trong một miển, một vùng nhỏ như một làng, một quận đôi khi cũng khác nhau nhiều lắm. Tôi nhớ lại ngay làng tôi hồi trươc 1954 ở Miền Bắc, không lớn lắm, dân số khoảng 2000, gồm hai thôn Lương, thôn Giáo mà giọng nói của hai thôn đôi khi cũng có nhiều khác biệt. Rồi ngay trong một huyện, những người ở trong đồng bằng lại có giọng nói khác người dân ở ven biển. Như mấy làng Cao Mộc, Ninh Cù, Xá Thị, Cao Dương, Thu Cúc... huyện Phụ Dực th́ dân làng tôi chuyên nghề làm ruộng ở phía trong có giọng nói khác với dân làng Hộ, làng Diêm Điền làm nghề đánh cá ngoài biển, có giọng hơi nặng gần với dân xứ Nghệ. Sự khác biệt đó phần nhiều là do dân chúng ít giao lưu đi lại nhất là thời chiến tranh từ trước 1954.

 

Thời gian trước 1954 ở vùng tôi tại Thái B́nh, làng nọ cách làng kia chỉ vài ba cây số mà ít đi lại với nhau. Thỉnh thoảng có lễ lạc, rước sách th́ một số người qua lại dự Lễ xong là về. Nói chung là rất ít giao thiệp, liên lạc v́ không có nhu cầu. Quanh năm ngày tháng chỉ có cái cầy với con trâu, ao cá, mảnh vườn. Sau 1954, gần một triệu người di cư Miền Bắc vào Nam th́ giọng nói dân miền Nam và dân di cư bắt đầu có pha trộn ít nhiều. Rồi sau 30-04-1975 khi Việt Nam thống nhất th́ dân ba miền Trung Nam Bắc lại có dịp giao thương đi lại qua nhiều phương tiện th́ giọng nói lại bắt đầu thay đổi thêm nữa ở cả trong nước lẫn hải ngoại.  

 

Vể giọng nói hay cách phát âm ở mỗi miền th́ đôi khi có tính cách đặc thù riêng của miền đó. Nói đến “con cá gô” (con cá rô) hiểu ngay là dân miền Rạch Giá. Nói đến “con tâu tắng” (con trâu trắng) là hiều ngay đó là dân miền đồng bằng Bắc Việt như Thái B́nh quê tôi. Nói “lước lon lặng một nời thề” (nước non nặng một lời thề) là hiều ngay một số dân quê vùng Hải Dương, Kiến An. Vân vân và vân vân.

 

Dân miền quê thuộc huyện Phụ Dực, tỉnh Thái B́nh chúng tôi, thời trước 1954 toàn nói “con tâu tắng”. Không nói được chữ TR như “Con trâu thành con tâu”, “năm trăm thành năm tăm”. C̣n dân vùng quê Kiến An, Hải Pḥng, tôi nghe họ nói L thành N và ngược lại. Nước non lại nói là lước lon. Học tṛ chúng tôi hay cười nói cho vui: “Ông năo no ne nè nưỡi niếm ṇng nợn nuộc!” (ông lăo lo le lè lưỡi liếm ḷng lợn luộc). Năm trăm (500) lại nói là lăm chăm. Chính tôi đây và anh chị em tôi hay cả một làng trước khi di cư vào miền Nam, lúc ở ngoài Bắc chuyên nói “con tâu tắng buộc bụi te túc, béo ṭn tùng tục như cái tống teo” (Con trâu trắng buộc bụi tre trúc, béo tṛn trùng trục như cái trống treo). Tôi nghe giọng nói của một số dân làng thuộc Bùi Chu th́ thấy họ hay phát âm lẫn lộn giữa chử S và Th. Làm sao th́ nói là “nàm thao”; thánh thần th́ nói là “sánh sần”, thế nào thành “xế lào”, vân vân.

 

Lớp người trẻ, hoặc các em được cha mẹ sanh ra sau khi vào Nam được tiếp xúc, trao đổi, học hành ở nhà trường th́ mới sửa giọng lại được. Nói chung, việc sửa giọng tương đối dễ dàng với đám trẻ học sinh. C̣n người lớn th́ rất là khó. Anh chị tôi, khi c̣n sống cách đây khoảng trên 20 năm (1990 trờ về trước) lúc đó đă trên 90 tuổi mà vẫn c̣n nói “Con tâu, bụi te, mấy tăm...” không làm sao sửa được. Nay đến lớp con cháu được sinh ra ở trong Nam thi nhờ giáo dục, giao lưu nên đă nói đúng hơn lớp trước. Đó là dân làng quê, c̣n ở t́nh thành th́ nhờ có sự giao lưu trao đổi, học hành nên phát âm khá đúng.

 

Người ta nói rằng giọng Hà Nội là giọng chuẩn và hay nhất. Tôi nghe rất nhiều người nói và cũng đă tiếp xúc, nói chuyện với nhiều người Hà Nội chính gốc, có học nên tôi nghĩ có thề là đúng. Giọng nói rất sang, rất thanh, rơ ràng, phân minh nhất là phát âm qua các dấu sắc huyển hỏi ngă nặng. Đó là giọng Hà Nội trước 1954. C̣n sau năm 1954 th́ một số lớn trí thức Hà Nội như bác sĩ, kỹ sư, giáo sư Đại Học và nhiều từng lớp đồng bào đă di cư vào Miền Nam. Rồi một số lớn bị chế độ Cộng Sản đuổi đi các nơi khác, hoặc lên mạn ngược hoặc chạy về đồng bằng để nhường chỗ cho các thành phần của chế độ mới và gia đ́nh của họ. Từ đấy Hà Nội biến thành một thủ đô tạp nhạp, hổ lốn, tứ chiếng. Đă vậy chế độ Cộng Sản trong chủ trương ngu dân và bần cùng hóa nhân dân đă đưa họ vào một xă hội tệ hại, xuống cấp. Và giọng nói của lớp người mới này sau năm 1954 đă làm cho ngôn ngữ Hà Nội biến thể! Cái tên Hà Nội được nhiều người nói thành Hà Lội để ám chỉ cái ngôn ngữ và cái lối sống mới đồng thời thoáng cho thấy thực trạng thê thảm đó. V́ xă hội thay đổi th́ ngôn từ cũng thay đôỉ theo. Tiếng nói dân Hà Nội ngày nay không c̣n như trước nữa. Giọng nói thanh tao, đúng âm điệu đă mất để nhường chỗ cho cái giọng lơ lớ, nghe nó thế nào ấy. Đă vậy, c̣n nói nhanh, nói lẹ với những ngôn từ mới nghe hơi chướng tai! Dĩ nhiên số người Hà Nội cũ c̣n lại th́ họ vẫn có lối phát âm và giọng nói thanh tao xa xưa. 

 

Có một cụ già hồi thập niên 60 từng đi đây đi đó. Hà Nội, Hải Pḥng, Nam Đinh... chỗ nào cũng có vết chân cụ. Cụ bảo: “Khi nghe dân ở Hà Nội gọi cha mẹ là “cậu mợ” th́ đó không phải là dân Hà Nội chính gốc mà đó là dân gốc Nam Định. Khi nghe có người nói “cái ư” thay v́ “cái ấy” th́ đó là dân Hà Đông”.  Cái này th́ tôi không rành, nghe cụ nói th́ nhớ và viết vậy.

 

Trở lại cách phát âm, phải nói người miền Bắc phân biệt dễ dàng sáu (6) âm qua các dấu: từ không dấu như (ma, na, ca, da, xa...) đến 5 dấu: (1) sắc, (2) huyền, (3) hỏi, (4) ngă, (5) nặng.  

 

Nhờ cách phân biệt đó nên khi nói là nói rất rơ ràng. Một Linh mục Ḍng Tên (cha Philippus Gomez, s.j.) khi học nói tiếng Việt đă chia sẻ: “Học tiếng Việt đầu tiên là tập phát âm theo dấu giọng: “Ma má mà mả mă mạ”. Hễ phân biệt được như vậy th́ kể như đă vượt qua được một giai đoạn khó khăn.” Ta có thể thực hành khi phát âm các chữ khác thay v́ “Ma má...” như “Đa đá đà đả đă đạ. Con cón c̣n cỏn cơn cọn. La lá là lả lă lạ. Bông bống bồng bổng bộng bộng.” Vân vân và vân vân.

 

Bây giờ nói về giọng nói ba miền Trung Nam Bắc và dĩ nhiên chỉ nói cách chung chung. Giọng nói dân Miền Bắc cứng cỏi, phân biệt rơ các dấu sắc huyền hỏi ngă nặng (ma má mà mả mă mạ). Dân Miền Trung nói giọng nặng rơ rệt (h́nh như dấu hỏi và dấu nặng hơi nhiều), người khác miền nghe người Miền Trung nói rất khó phân biệt. Dẩu hỏi và dấu ngă xem ra dễ lẫn lộn. Có nhà nghiên cứu (BS Nguyễn Hy Vọng) tác giả bộ Tử Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt cho rằng người Trung chỉ có 5 âm (ư nói không có dấu ngă) v́ bị ảnh hưởng của tiếng Lào, tiếng Thái. (Những Nẻo Đường Tiếng Việt, trang 22). Người Miền Nam th́ giọng nhẹ nhàng hơn giọng dân Miền Bắc, nghe dễ hiểu hơn nghe giọng dân xứ Quảng miền Trung?

 

Việt Nam được phân làm ba miền về địa lư Nam Bắc Trung. Các tỉnh từ biên giới Hoa Việt đến Ninh B́nh thuộc Miền Bắc. Từ Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh tiến về phía các tỉnh phía Nam như Phan Thiết, B́nh Tuy thuộc Miền Trung. Từ B́nh Tuy xuống đến Cà Mau là miền Nam. Dân chúng trong những tỉnh giáp ranh giữa hai miền thường có giọng nói pha trộn. Thí dụ như Thanh Hóa thuộc Miền Trung giáp Ninh B́nh thuộc miền Bắc thi giọng nói của dân chúng xem ra gần gũi và rất giống với giọng nói dân miền Bắc. Có lẽ v́ sự đi lại từ Thanh Hóa ra Hà Nội miền Bắc dễ dàng hơn là đi vào Huế. C̣n dân từ Nha Trang, Lâm Đồng, Đà Lạt xem ra lại gần gũi với dân miền Nam và khác rất nhiều so với dân xứ Quảng. Từ Quảng Nam, Quảng Ngải, Quảng Trị, Quảng B́nh, ra đến Hà Tĩnh, Nghệ An có giọng nặng như nhau.

 

Từ khi nghe giọng nói của người dân miền Nam...

 

Hồi mới di cư vào Nam, dân Bắc Kỳ di cư 54 chúng tôi nghe giọng người Miền Nam nói nghe ngồ ngộ, vui vui. Nhiều chữ mới nghe không hiểu. Cụ thể như: dà, d́a, con doi, ông dua, dô diên... Rồi c̣n chuyện hiểu nhầm v́ ngôn ngữ. Chả là có hai ông kể chuyện khi đi thăm mấy bạn Miền Nam ở dọc bờ sông. Nh́n thấy mấy ông miền Bắc đi tới, một bà miền Nam vồn vă:

- Xin mời mấy bác xuống ghe tui uống nước!

 

Mấy ông miền Bắc cứ ngớ ra, rồi hỏi nhau: “Sao lại mời ḿnh xuống ghe uống nước”. Rồi người nọ nh́n người kia...

 

Khi bước xuống ghe đậu bên bờ sông, uống nước nói chuyện với hai ông bà miền Nam, mấy ông mới biết dân miền Nam gọi cái “ghe” tức là cái “thuyền” của người Miền Bắc. Trong khi đó, người Miền Bắc nói cái “ghe” tức là chỉ cái âm hộ, bộ phận sinh dục của người đàn bà. Khi chưởi nhau, có bà vung tay xỉa xói đối phương: “Mày mà đụng tới bà th́ bà đánh cho giập ghe!” Khi về rồi mấy ông lâu lâu lại cười vui nhắc lại: “Xin mời các bác xuống ghe tui uống nước, ha ha ha...”

 

Cũng tương tự, người miền Nam gọi bịnh Cúm th́ người Miền Bắc mới đầu cho là tục tĩu. Cúm hay cơm bẹp người miền Bắc vẫn coi là hai danh từ chỉ bộ phận sinh dục của người đàn bà tức là âm hộ, như khi chưởi nhau: “Có mà ăn cúm bà!” Hoặc có ông già trong lúc ngà ngà say than thở với bạn nhậu: “Hôm nay đánh chén ngon quá. Chả bù với hôm qua ở nhà, mẹ nó đi chợ mua cho mấy miếng đỗ phụ để nhắm riệu. Đỗ phụ rán ǵ mà nhăn nhúm như cái cơm bẹp!”

 

Rồi chính v́ sự phát âm khác nhau của hai miền Nam Bắc mà xẩy ra chuyện “suưt nữa” đám học sinh Bắc Kỳ di cư bị đánh rớt kỳ thi Tiểu Học năm 1954 và 1955.

 

Như đă nói, người Miền Bắc hay nói rơ hơn là các học sinh Miền Bắc khi viết chính tả nghe thầy cô đọc thế nào th́ viết y như vậy. Nói “vua” th́ viết là “vua”. Nói “dua” th́ viết là “dua”. Nói “Ngọc Hoàng” th́ viết “Ngọc Hoàng”. Nói “Ngọc Goàng” th́ viết “Ngọc Goàng”.  Chuyện xẩy ra trong các kỳ thi Tiểu Học lúc đó, khi các thầy giáo người Miền Nam đọc chính tả. Các thầy cô đọc “Dua” th́ học sinh miền Nam viết là “Vua” c̣n học sinh miền Bắc lại viết là “Dua”. Thầy đọc “dề” th́ học sinh miền Nam viết “về” c̣n học sinh miền Bắc viết là “dề” y như thầy đọc! Vân vân và vân vân.

 

Sau khi chấm bài chính tả, các học sinh miền Bắc đều bị “đánh rớt” v́ viết sai chính tả những chữ vua, về ... Đánh rớt th́ người Bắc gọi là “trượt” cùng nghĩa. May mà Ban Giám Khảo nhận ra sự việc đó đă chấp thuận cho những học sinh miền Bắc viết sai mấy chữ vần V đó sự phát âm của các thầy cô Miền Nam được đậu, nếu các môn khác đủ điểm.

 

Lại một câu chuyện thật về bất đồng ngôn ngữ xẩy ra ở nhà tôi. Lúc đó, khoảng đầu năm 1955, cuộc sống ở của dân di cư ở Rạch Bắp, quận Bến Cát thuộc tỉnh Thủ Dầu Một (B́nh Dương) đă tạm ổn định. Các anh chị tôi, mọi người đều có công ăn việc làm theo khả năng và tự lựa chọn. Riêng thầy tôi, sau một thời gian làm thợ mộc cho Sở Cao Su, tuy lương cao, mỗi ngày 50 Đồng, nhưng ông cụ lại muốn làm nghề tự do ở nhà để được thong dong thoải mái. Thầy tôi mở xưởng mộc đóng bàn ghế, giường, tủ bán cho dân trong vùng. Khách hàng phần lớn là dân địa phương người Nam. V́ đông khách, thầy tôi mời ông chú và người con nuôi góp sức hợp tác. V́ nhà tôi gần ngay mặt đường, xe cộ đi lại thường xuyên nên dân địa phương hay ghé qua đặt hàng. Có lần một ông khách người miền Nam đến đặt thêm một món hàng nữa. Ông bào:

- Mấy bác làm cho tui như cái hổm.

 

Thầy tôi mà mấy ông hỏi lại khách hàng:

- Cải hổm là cái ǵ?

- Th́ làm như cái hổm!

 

Thầy tôi và mấy ông kia cứ ngẩn người ra. Các ông lẩm bẩm: “Cái hổm là cái ǵ? Quái lại, chưa bao giờ nghe biết cái hổm.” Rồi mấy ông vừa nói vừa cười với nhau: “Cài hổm là cái ǵ?”

 

May quá lúc ấy có ông Bắc Kỳ di cư khác ghé thăm, thấy cảnh tượng vui vui. Thầy tôi nhờ ông ta giải thích: “Cái hổm là cái ǵ?”

 

Lúc đó, ông ta hỏi khách. Khách mới nói rơ:

- Tháng trước, tui dô đây nhờ mấy bác đóng cho cái giường gỗ dầu. Nay tui muốn nhờ mấy ổng đóng thêm cho một cái khác giống như cái hổm.

 

Lúc đó ông ta cười và giải thích lại cho thầy tôi và mấy ông thợ nghe:

- Ông cụ xă đóng cho ông ta thêm một cái giường khác giống như cái hôm trước cụ làm ấy mà.

 

Bây giở th́ thầy tôi mới hiểu ra: “À th́ ra thế. Cái hổm là cái hôm đó.”

 

Chuyện đơn giản chỉ có thế mà mấy ông không hiểu, cứ ngẩn người ra. Lâu lâu nói chuyện lại nhắc đến “chuyện cái hổm” rồi cười ngặt nghẹo.

 

Sau này ở Miền Nam lâu rồi mới biết có nhiều chữ đọc ghép lại thành ra chữ mới, nghe hay hay v́ ngắn gọn và dễ hiểu. Như cái hổm (cái hôm ấy), thằng chả (thằng cha ấy), con mẻ (con mẹ ấy), ổng (ông ấy), bả (bà ấy), ơ trển (trên ấy), ở trỏng (trong ấy). Đúng là một sáng tạo ngôn ngữ độc đáo!

 

Những suy nghĩ vụn vặt...

 

Thời gian tôi sống ở miền Nam nhiều hơn ở Miền Bắc. Gặp gỡ khá nhiều người, nhiều thành phần ở nhiều địa phương khác nhau, ở cả ba miền Nam Bắc Trung nên tôi đă nghe và hiểu dễ dàng. Tôi là học sinh và may mắn có cơ lên Đại Học, đă học hỏi và sửa chữa cho giọng nói quê mùa của ḿnh trước kia. Nhờ vậy, nghiệm lại tôi thấy giọng nói của tôi đă thay đổi khá nhiều. Dĩ nhiên ngoài giọng Bắc, tôi có thể nói giọng miền Nam hay giọng miền Trung tuy không hoàn hảo như họ. Sau gần 30 năm sống ở Miền Nam cho tới khi vượt biên, tôi nghĩ là giọng Bắc Kỳ của tôi đă pha với giọng miền Nam. C̣n giọng miền Trung th́ chắc là không có ảnh hưởng ǵ v́ khi nghe thấy nặng và h́nh như thiên nhiều về dấu hỏi và dấu nặng. Tôi nghĩ vậy không biết đúng không? Tôi nghiệm ra giọng xứ Quảng từ Quang Nam đến Nghệ An, Hà Tĩnh khá giống nhau. Từ Thanh Hóa trở ra nghe gần giống giọng miền Bắc. Từ Nha Trang Phan Thiết trở vô Sài G̣n nghe gần với giọng Miền Nam. Tôi cũng nhận thấy nhiều người dân miền Trung và miền Nam nói viết hay lẫn lộn dấu hỏi (?) và dấu ngă (~). Có một người quen, viết th́ “Kính gửi” mà khi nói th́ cứ “Kính gữi” không sao nói “gửi” được.

 

Nói chung th́ người Việt suốt từ Nam chí Bắc khi nghe nói rồi viết th́ tương đối đúng. Nghe nói thế nào th́ viết đúng như vậy. Tuy nhiên có những trướng hợp dị biệt của địa phương. Thí dụ như người miền Nam khi nói hay nghe những chữ bắt đầu bằng phụ âm “V” như “và vào vui vẻ vô vung vít...” th́ tuy nói hay đọc là “dà dào dui dẻ dô dung dít” nhưng vẫn viết đúng chính tả “và vào vui vẻ vô vung vít...” Nhưng dân miền Bắc (học sinh viết chính tả) như đă nói trên mà nghe như vậy là cứ viết y boong như người nói. Đó là thời di cư 54 mới vào Nam. Chớ bây giờ th́ sống với nhau lâu rồi, nghe đă quen nên không thành vấn đề nữa. Nghe nói “dà” mà viết “và”. Nghe nói “dua” là viết “vua”.

 

Cái hay riêng của giọng nói mỗi Miền

 

Giọng nói của mỗi địa phương, mỗi miền có cái hay riêng của nó. Tuy là người miền Nam nói hay phát âm “dà dô d́a...” nhưng cái âm thanh và giọng nói miền Nam lại có cái hay đặc biệt trong một vài lănh vực mà tôi nghĩ là không thể thay thế được:

- Thứ nhất là Ca Vọng Cổ (nói theo kiểu Miền Nam là Ca giọng Cổ), bộ môn văn nghệ này xuất phát từ Miền Nam nên phải ca theo giọng Miền Nam. Nếu mà ca Vọng Cổ theo giọng Bắc Kỳ th́ nghe chướng tai vô cùng... Đúng không quư vị?

- Thứ hai là Hát Cải Lương hay Phim Bộ ((phim chưởng): diễn viên nói phải là người nói giọng Miền Nam mới đạt. Hát Cải Lương hay Phim Bộ mà nói giọng Bắc th́ nghe “hổng dô” chút nào. Lấy thí dụ câu “Ngọc Hoàng Giá Lâm! Vạn Vạn Tuế!” th́ phải nói là “Ngọc Goàng Giá Lâm! Dạng Dạng Tuế!!” Nghe cái giọng miền Nam mới hay. C̣n nói kiểu cứng đơ Bắc Kỳ “Vạn vạn tuế!!!” nghe nó ngang ngang thế nào ấy, phải không quư vị?

 

Mà thực vậy, khi một giọng miền Nam cất lên th́ v́ nghe quen rồi những tiếng vần V như Vua, Và, Về th́ cứ phải nói Dua, Dà, Dề th́ mới hay. C̣n đang nói giọng Nam mà những chữ Vua, Và, Về nói giọng Bắc th́ h́nh như nó lạc lơng thế nào ấy phải không quư vị. 

 

Bây giờ ở Miền Nam th́ cả người Bắc lẫn người miền Trung đều có những lúc phát âm giống nhau, đặc biệt là mấy chữ có vần V lại đọc là D như: Dô d́a, la de củ kiệu, dô đây chúc đă, đặc biệt khi uống bia thấy dui dui là tới màn “dô dô... nào dô dô...” thả giàn, cũng dui.

 

Nhưng giọng Bắc Kỳ th́ có cái riêng của nó, đặc biệt là trong lănh vực:

- Thứ nhất là Ca Tân Nhạc: phải là giọng miền Bắc hoặc pha Nam Bắc một chút mới hay.

- Thứ hai là Thoại Kịch: nói giọng Bắc nghe vẫn đạt hơn. Quư vị nghe Hoài Linh, Hồng Đào, Thúy Nga... nói giọng Bắc trong Thoại Kịch xem có hay không? Hay lắm chứ! Nhưng cái này th́ tương đối. Với kịch bản thuộc môi trường xă hội Miền Nam th́ có thể có giọng miền Nam cho thích hợp.

- Những bộ môn nghệ thuật phát xuất từ Miền Bắc hay Bắc Trung Bộ như Dân Ca Bắc, Ca Trù, Hát Xẩm, Quan họ Bắc Ninh... th́ dĩ nhiên phải là giọng Bắc mới đạt. Nói vậy chớ, tôi thấy nhiều thanh niên thiếu nữ Miền Nam hát Quan Họ Bắc Ninh cũng hay lắm, giọng điệu Bắc Kỳ đâu thua ǵ dân xứ Bắc.

 

Xin nói thêm:

Đúng sáu mươi năm trước trước (1958-2018) từ Sài G̣n đă xuất hiện Ban AVT chuyên ca hài hước. Đó là một bộ môn văn nghệ mới chế biến từ hát Chèo, Dân ca Bắc và Bắc Trung Bộ phù hợp với Tân nhạc. Quả thật, ban AVT đă cho ra những sáng tác tuyệt vời, nổi tiếng, và cho đến nay vẫn chưa có ban ca hài hước nào theo kịp.

 

Xin ghi lại đây lời giới thiệu của Hoàng Vũ Lư trên mạng “On Dec. 03, 2014”:

Ban AVT được thành lập năm 1958, gồm các ca nhạc sĩ Anh Linh, Vân Sơn và Tuấn Đăng. Họ là nhân viên dân chính và Hạ sĩ Quan thuộc Đại đội Văn Nghệ (Ban Ca) Tiểu đoàn Văn Nghệ - Nha Chiến tranh Tâm Lư. V́ lúc đó Thiết Quân Luật nên ban Tam Ca ban đêm phải trốn ra hát thường trực tại Pḥng Trà Anh Vũ đường Bùi Viện Sài G̣n, từ 9 giờ tối tới 2 giờ sáng. Khi Anh Linh tức Trung Sĩ Trần đ́nh Kế theo học Khóa 3 Sĩ quan đặc biệt vào tháng 6 năm 1962, nhạc sĩ Hoàng Hải phải đổi tên là Anh Hải để hát thế vào chữ A. 1966 th́ Lữ Liên vào thế cho Anh HảiNhạc hài của AVT (hầu hết do Lữ Liên và Duy Nhượng sáng tác) phát triển trên nền âm nhạc dân tộc (đặc biệt là chèo, dân ca Bắc Bộ và Trung Bộ) nên nghe rất gần gũi mà cũng rất vui nhộn. Ra sân khấu, AVT diện khăn đóng, áo gấm thụng ba màu khác nhau. Mỗi người sử dụng một nhạc cụ dân tộc: đàn sến (Tuấn Đăng), đàn c̣ (Lữ Liên) và trống (Vân Sơn). Khi có những câu thoại th́ mỗi người nói rặt giọng của mỗi miền Trung, Nam, Bắc.”

 

    Cái dấu mũ (^)

 

Tôi thấy trong cách phát âm của người Miền Nam và có thể là cả miền Trung, những chữ có dấu mũ (^) hay không có dấu mũ (^) thường phát âm có phần không rơ ràng. Đọc th́ từa tựa như nhau mà viết th́ lại khác v́ cái dấu mũ. Th́ dụ: đày đầy, này nầy, cày cầy, xảy xẩy, nhảy nhẩy, mày mầy. vân vân.

 

Giọng Bắc th́ khá rơ, nói hay phát âm thế nào là viết đúng như cách phát âm, nghĩa là chữ nào đọc hay nói ra có dấu mũ hay không có dấu mũ. Nói cách khác phân biệt hai chữ có dấu mũ và không có dấu mũ rất rơ ràng và dễ dàng. Thí dụ:

Vần ÂU: Âu có dấu mũ (^) rơ ràng là khác với Au. Khi ghép với một phụ âm th́ phát âm cũng khác như vậy. Người nói giọng miền Bắc phân biệt rất dễ dàng hai vần Âu và Au. Nói vậy, chớ khi mở Từ Điển từ Hà Nội ra th́ thấy cuốn này viết Tàu thay v́ Tầu, cuốn khác lại ghi cả hai chữ Tầu lần Tàu. Thực tế khi nghe người Bắc phát âm chữ TẦU th́ thấy rơ đúng là cái âm TẦU hơn là TÀU.

 

Người nói giọng miền Nam h́nh như phát âm hai vần Âu và Au từa tựa như nhau. Lấy một thí dụ: chữ Tầu người Bắc đọc và viết phải có dấu mũ (^). Chữ “Tầu” chỉ người Tầu, nước Tầu đọc giống theo các vần khác như: cầu, đầu, sầu, hầu, dầu, chầu, bầu, lầu, mầu.

 

Người miền Nam, mà rơ ràng nhất trong Việt Nam Tự Điển Lê Văn Đức- Lê Ngọc Trụ lại viết là Tàu không có dấu mũ (^). Tôi nghe nhiều người miền Nam phát âm hai chữ Tầu và Tàu từa tựa như nhau.

 

Người miền Bắc phát âm rất rơ chữ TÀU theo các vần của chữ khác như: càu nhàu, dau dúm, có nhau, mau mau, thuộc làu, vân vân.

 

Có câu đố qua thể thơ lục bát rất vần với nhau: đầu (chữ thứ 6 câu sáu) và tầu (chứ thứ 6 câu tám):

Bằng cái trống mà thủng hai đầu

Bên ta th́ có bên Tầu thi không.

      (Là cái váy)

 

Tôi cũng nghe nhiều người Miền Nam phát âm chữ “Tàu” có khi nghe như Tầu mà có khi như Tào.

 

Chữ “TÀO” âm dài: như cào cào, đào, hao, chăo, mao, măo. AO là âm dài.

 

Nếu phân biệt th́ theo thứ tự âm ngắn tới âm dài: TẦU - TÀU- TÀO. Chữ Tầu phát âm gọn miệng. Chữ Tàu, miệng phải kéo qua hai bên mép rồi khép lại. C̣n chữ Tào th́ há miệng và kéo âm ra dài.

 

Tôi hỏi nhiều người miền Nam vể cách phát âm và viết chữ “Tầu hay Tàu” th́ họ trả lời chữ nào cũng được.

 

    ẾT và ẾCH

 

Có một sinh vật 4 chân mà nói hay phát âm thi hầu như người Miền Nam và Miền Trung nói khác xa với giọng miền Bắc, đó là con ẾCH. Người Bắc đọc và viết rơ ràng là CON ẾCH. Người miền Nam hay một số người Miền Trung lại nói là con ẾT nhưng vẫn viết là CON ẾCH.

 

Chữ ẾCH theo lối phát âm miền Bắc theo như các chữ khác cùng vần như MẾCH, ĐẾCH, KẾCH, chênh CHẾCH, NHẾCH nhác... là âm ngắn.

 

Chữ ẾT phát âm theo các chữ khác cùng vần như CHẾT, HẾT, KẾT, MỆT, HỆT. LẾT, DỆT... là âm dài.

 

Tôi nói chuyện với nhiều người Miền Nam và Miền Trung họ đều kêu là con ẾT nhưng khi viết lại viết là con ẾCH y như người Bắc. Tôi bảo họ thử phát âm theo lối miền Bắc là con ẾCH (âm ngắn) xem được không th́ họ phát âm đúng giọng như người Bắc. Nên tôi nghĩ rằng sửa giọng hay chỉ cách phát âm theo kiểu miền Bắc không khó lắm. Chỉ cần sửa một chút, điều chỉnh môi, miệng, lưỡi một chút là xong. Nói ẾT th́ há miệng, và kéo dài âm. C̣n ẾCH th́ há miệng và đưa lưỡi lên đụng hàm trên là nghe ra âm ếch ngay (âm ngắn), thật dễ dàng. Tóm lại: Ếch (âm ngắn); Ết (âm dài).

 

 

KHÁT và KHÁC - ĐẮT và ĐẮC - MÁT và MÁC - ĐẠT và ĐẠC - CHÚT và CHÚC - LAN và LANG - MAN và MANG - CON và COONG - LON và LOONG...

 

Có một số chữ trên đây hầu như người miền Nam và miền Trung phát âm nghe giống nhau, nhưng lại viết đúng chính tả chỉ v́ quen miệng phát âm dài thành âm ngắn. Những chữ mà chữ cuối cùng là phụ âm T th́ lại phát âm như C như: khát với khác, đắt với đắc, mát với mác, đạt với đạc; hoặc chữ cuối là phụ âm N lại kéo dài thêm nhu G như lan thành lang, man thành mang...   Nếu phát âm theo tiếng Hà Nội (trước 1954) tạm gọi là chuẩn th́ chỉ cẩn chú ư đến âm ngắn hay dài là có thể sửa giọng rất dễ dàng. Thật ra phân biệt âm ngắn hay âm dài không có ǵ khó khăn. Thí dụ: Người miền Bắc nói chử THỊT là âm dài, người miền Nam và miền Trung hầu như nói chữ THỊT với âm ngắn. Nói vậy cho đúng chính ta chớ thật ra, dân Bắc Kỳ chính cống như tôi nói vài chữ cũng lại khoái cái giọng miền Nam. Thí dụ: Chờ chút nghe lại nói quen thành “Chờ chúc nghe. Chúc chúc thôi mà...”. Uống Beer hay Bièrre quen miệng cứ nói “La de”...

 

Trước đây, tôi nghe mấy ông bạn gọi tên Đại Tá Trần Vĩnh Đắt gần như là Trần Vĩnh Đắc. Và tên ông Nguyễn Đạt Thành lại nghe như là Nguyện Đạc Thành.

 

Đây là tôi nói người Việt Nam với nhau. Chớ c̣n mấy ông bà Ba Tầu th́ “vô phương cứu chữa”. Mấy ông bà Tầu không sao phát âm được chữ Đ và chữ R. Chữ Đ và chữ R th́ họ nói thành chữ L. Cà rem nói là Cà Lem. Đồng bạc th́ nói là Lồng bạc. Đảng Cộng Sản th́ nói là Lảng Cộng Sản. Mao Trạch Đông th́ nói là Mao Chặt Lông... Ông bạn nhà thơ Tú Kếu Trần Đức Uyển có lần kể cho tôi nghe chuyện gặp một ông Tầu nọ ở Ấp Tân Lợi cũng gọi là ấp Bon Sa thuộc xă Giục Tượng, quận Kiên Tân, tỉnh Kiên Giang. Nhà ông Tầu ở gần ngay đồn lính Địa Phương Quân. Sau một hồi nói chuyện, Tú Kếu hỏi ông ta:

- Bác có hay vô đồn chơi không?

 

Ổng chỉ cười và nói một chữ “Không” mà không dám nói cái chữ Đồn v́ sợ nói tục. Tú Kếu nhắc lại một lần nữa. Ông chỉ trả lời một chữ “Không”. Thật th́ ổng biết cả đấy, v́ vợ ông là người Việt mà!

 

Kinh nghiệm bản thân th́ khi ở tù Chí Ḥa chung với một ông Tầu là kư giả báo Viễn Đông tên thật là Lâm Tái Tấn có bút hiệu là Lâm Trường Khoát ở Chợ Lớn. Dù ông là nhà báo nhưng ông cũng không thể nào phát âm Đ đưọc mà cứ nói ra L. Có mấy chú tù trẻ tinh nghịch thỉnh thoảng lại sán đến gần ông hỏi chuyện. Cứ đến chữ nào có phụ âm Đ là ông nói ra L khiến cả pḥng cười ngặt nghẹo!

 

Uốn lưỡi và không uốn lưỡi

 

Tiếng Việt cũng như nhiều tiếng nước khác, có chữ phải uốn lưỡi, có chữ không phải uốn lưỡi. Thí dụ Pháp th́ chó chữ CH (uốn lưỡi) như chemin, chemise, chinois); S (không uốn lưỡi như sentiment, santé, sauter). Anh th́ có SH (uốn lưỡi) như she, shipping và S (không uốn lưỡi như see, sincere, son). Việt Nam có mấy chữ khi nói cần uốn lưỡi: S (sạch sẽ, vệ sinh), G (giành giật, giăng mắc), TR (trong trắng, trinh sạch).

 

Mấy trường hợp đặc biệt: S và X, TR và CH, R và D

 

Xin nhắc lại nói uốn lưỡi để nghe và viết cho đúng:

- Chữ S (uốn lưỡi) như sạch sẽ, học sinh, sử dụng...

Chử X (không uốn lưỡi) như: xinh xắn, xanh xanh, xuân, xào xạc...

 

Phân biệt S và X qua việc uốn lưỡi là chính xác. Nhưng thực tế, nhiều người khi nói hay phát âm những từ bắt đầu bằng phụ âm này S hay X đều nghe như nhau, không rơ ràng hay chỉ khác nhau chút ít.

- Chữ TR và CH: có người đọc TR rất rơ như năm trăm, bầy trăm... Nhưng có người vùng khác lại đọc toàn là CH như năm chăm, bẩy chăm, chín chăm... Có người đọc 500 (thay v́ năm trăm) lại đọc là LĂM CHĂM.

- Chữ bắt đầu bằng phụ âm R như có người khi nói hay đọc lại phát âm theo phụ âm D. Thật ra phần lớn đều nói RAU rất dễ dàng. Có nơi lại nói là DAU. Ăn rau lại nói là ăn dau. ở riêng lại nói là ở diêng. Những chữ bắt đầu bằng phụ âm R th́ nên nói pha thêm giọng D. Thí dụ như: Rau, Rung, Riêng, Rong, vân vân.

 

Giáo sư Lê Ngọc Huỳnh thầy dạy chúng tôi môn Sử Địa ở Trường Trung Hoc Chu Văn An có lần vẽ bản đồ Việt Nam. Khi vẽ đến các đường lăn tăn th́ giáo sư nói là “Vẽ đường này th́ tay phải rung rung, rung rung nhiều nghe” Học tṛ thấy vui vui liền nói theo, đứa nào cũng khoái la lên “rung rung...”. Giáo sư càng thấy vui liền giảng thêm cho chúng tôi:

- Tiếng Việt ḿnh có những chữ phải nói nửa nọ nửa kia mới hay. Đó là các chữ: TR và CH; D và R. Nói “một trăm” mềm quá hay “một chăm” th́ cứng quá. Vậy phải nói giữa ch và tr thành một ch/trăm. Hay bó rau th́ nói “bó rau” nghe mềm quá, mà “bó dau” th́ cứng quá. Vậy nên nói giữa là bó d/rau nghe hay hơn. Rung rung mà nói rung rung th́ mềm quá, nên nói giữa R và D nghĩa là R/Dung.

 

Chúng tôi nghe và tập theo thầy và quả nhiên thấy hay thật. Bây giờ nghe hầu như mọi người, nhất những người ăn nói lưu loát cũng áp dụng lối nói pha trộn nửa nọ nửa kia như vậy, nghe thấy sang và hay hẳn lên.

Nói th́ nói vậy chớ tôi cũng gặp nhiều cụ già nhà ta vẫn c̣n nói cái giọng cổ điển: “quân Du dêu lại nói là quân Ru rêu, TT Ngô Đ́nh Diệm lại nói là TT Ngô Đ́nh Riệm, Ông Hoàng Diệu th́ lại nói là ông Hoàng Riệu, vân vân”

- Chữ D và chữ GI: phát âm rất dễ lộn, như một số người miền Bắc. D nói b́nh thường, không uốn lưỡi (như là reason tiếng Anh). GI uốn lưỡi (như region tiếng Anh).  Ḍng hay Gịng?

- Chữ GI và chữ CH (Đức Chúa Blời, Đức Chúa Lời, Đức Chúa Giởi, Đức Chúa Trời... Giời ạ! Giời ơi! Chời lất ơi

 

Kết luận: Tôi yêu tiếng nước tôi

 

Chuyện ngôn ngữ tiếng Việt c̣n dài, nói không hết được. Trước khi dứt lời, xin nói thêm một chút ngoài đề là Tiếng Việt có nhiều cái hay. Từ cách phát ra thành tiếng đến ư nghĩa, đến cách sử dụng từ ngữ thật đa dạng: nói lái, nói hai nghĩa. Hai chữ khác nhau mà cùng một nghĩa (áo lạnh, áo ấm). Một chữ vừa chỉ ngôi thứ nhất vừa chỉ ngôi thứ hai (ḿnh), vân vân và vân vân. Cái độc đáo là tiếng Việt lại phản ảnh triết lư Âm Dương (Dual units) thật rơ ràng: Sông Núi, Cha Mẹ, Trời Đất...). Những cặp “âm dương” đối nghịch ấy không loại trừ nhau mà bổ túc cho nhau. Bài quốc ca Việt Nam “Này công dân ơi, đứng lên đáp lời sông núi”. Sông là nước, mềm, ở trũng dưới đất nghĩa là thấp. Núi là đá, cao, ỏ trên. Sông Núi tượng trưng cho Quê Hương, Đất Nước, Tổ Quốc. Cái độc đáo khác là nghe một chữ chỉ tên một người th́ biết vị trí của họ ngay trong gia đ́nh, họ hàng: cha me, cậu mợ, con bà con d́, vân vân. Đấy là chưa nói đến “Ngữ học cơ cấu” với thí dụ “Đến sao không bảo nó” có thể đảo đi đảo lại liên tục vị trí của năm từ mà vẫn không sai, vẫn có ư nghĩa. Sao đến không bảo nó. Nó đến sao không bảo. Bảo sao nó không đến. Vân vân. (Theo Linh mục Lê Văn Lư, nguyện Viện Trưởng Viện Đại Học Đà Lạt, trong luận án Tiến sĩ Văn chương Le parler vietnamien).

 

Nhưng tiếng Việt cũng là vũ khí sắc bén, là hàng rào văn hóa ngôn ngữ để bảo vệ nên độc lập của Nhân Dân Việt Nam. Tiếng Việt tuy có pha trộn, giống nhau hay mượn nhiều tiếng khác từ Tầu Tây, Môn Khmer, Mă Lai, Indonesia nhưng chữ viết và cách phát âm Việt hoàn toàn khác tiếng các nước trong vùng Đông Nam Á, kể cả Trung Hoa, Nhật Bản và Đại Hàn. Cái mặc cảm vô ư thức là nhiều người cứ bảo là Tiếng Việt bắt nguồn hay mượn từ tiếng Tầu, cái ǵ cũng nói là từ Hán Việt. Ḿnh mượn và “Viết hóa” để trở thành tiếng Việt. Cứ xem Tầu mượn của Tây rôí nói tư “từ Tầy Tầu, từ Mỹ Tầu” hay sao? Theo BS Nguyễn Hy Vọng qua bộ “Từ Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt” (trên 2000 trang khổ lớn) và cuốn “Những Nẻo Đường Tiếng Việt” cho thấy ta chỉ mượn của Tầu mà nhiều người gọi là tử ngữ Hán Việt chi có khoảng trên 20 phần 100. Ngoài ra tiếng Việt giống nhiều tiếng khác ở Á Châu như tiếng Lào, Thái, Căm Bốt, Miến Điện, Mon Khmer, Mường. Ta mượn của người cũng như người mượn của ta hay của nước khác là chuyện bỉnh thường. Tầu cũng mượn chữ của người nước khác rồi phiên âm lại đọc theo giọng Tầu, chớ đâu phải họ sáng tạo ra tất că. Ta cũng thế, ta có mượn rồi đọc theo cách của ta biến thành tiếng ta. Mặt khác ta có chữ Quốc Ngữ khác hẳn chữ Nho. Mà trước kia tổ tiên ta chế ra chữ Nôm để viết âm Việt thời là chữ Việt, và cũng là chủ trương tách biệt văn hóa, tách biệt ngôn ngữ Việt ra xa văn hóa Tầu, th́ có bố thằng Tầu cũng không đọc và hiều được chữ Nôm. Tầu có thể lấy vợ, lấy chồng Việt nhưng chắc chắn không thể “Hán hóa” nổi chữ Việt” khi chúng không đọc được, không hiểu được chữ Việt nói theo giọng Việt. Vậy không nên có mặc cảm tự ti cho rằng tiếng ta là do gốc tiếng Tầu Quảng Đông mà ra. Chỉ hai chữ Đ và R thôi mà phát âm cho đúng cũng đủ mệt rồi! Ngược lại phải Việt hóa Tầu!

 

Năm 1924 kỷ niệm về Thi hào Nguyễn Du, trong bài diễn thuyết nói về Truyện Kiều, nhà văn Phạm Quỳnh đă nói một câu nổi tiếng: “Truyện Kiều c̣n, tiếng ta c̣n. Tiếng ta c̣n, Nước ta c̣n.” Câu nói bị một số người chỉ trích, cho là chủ quan quá đáng. Bây giờ xét lại qua lịch sử, ta thấy tiếng Việt quả là đă đóng vai tṛ tích cực trong việc bảo tồn văn hóa và giống ṇi, đương nhiên đă góp phần tích cực trong công cuộc đấu tranh giành lại độc lập cho Tổ Quốc.

 

Cũng cần nhớ lại Tầu là nước đă từng đô hộ Việt Nam cả hơn 1000 (một ngàn) năm (111 trước TC đến 939 sau TC) mà vẫn không sao đồng hóa được Việt Nam là v́ ta có sức để kháng lạ lùng. Thử xem trên bản đồ thế giới có dân tộc nào ở vào trường hợp Việt Nam sát nách Tầu mà Tầu không đồng hóa nổi? Cứ nh́n lại bản đồ nước Tầu tử 2000 năm về trước đến nay, nó đă thay đổi. Cái anh Tầu khựa này chuyên lấy h́nh ảnh nước Tầu hôm nay để che khuất cái anh Tầu quá khứ nhằm loè bịp thiên hạ. Lịch sử c̣n thay đổi, chưa biết lên hay xuống, hay hay dở? Biết đâu thời gian nữa, Tầu sẽ bị chia năm xẻ bẩy thành nhiều nước. Hiện nay, Tầu đang có nhiều nguy cơ nội bộ: môi sinh, dinh dưỡng, nạn gia tăng dân số... Nội đập Tam Hiệp là một công tŕnh vĩ đại lớn nhất thế giới mà Tầu luôn hănh diện. Nhưng nó cũng là một tai họa tiềm ẩn, chưa biết lúc nào nó bùng lên, nếu nó có đường nứt, cũng có những biến động bất ngờ làm nó phải bể ra. Chỉ cần một cơn Động Đất (4 hay 5 chấm” là đập bể ra, sẽ cuốn trôi vài trăm triệu dân Tầu. Đài Loan từng tuyên bố, nếu Tầu tấn công Đài Loan th́ Đài Loan sẽ cho nổ đập Tam Hiệp. Vậy Trung Công có dám chơi ngang không?

 

Những nguy cơ nội bộ như vừa nói là những “mâu thuẫn nội tại” của Tầu khựa biết đâu một ngày nào đó sẽ bùng nổ và phá nát nước Tầu ra nhiều mảnh. Đă vậy, lịch sử Tầu là lịch sử của nội chiến và từng bị xâm lược (Mông Cổ, Măn Thanh). Nước Tầu lúc nào cũng có loạn, không khi nào yên. Bởi ư thức rơ ràng như thế, nên Mao Trạch Đông chủ trương gây rối bên ngoài, không ngừng t́m cách xâm lược các nước khác, qua câu nói: “Thế giới đại loạn, Trung Quốc mới được nhờ.”

 

Nh́n về Việt Nam, một trong cái sức để kháng đó là ngôn ngữ, phong tục, tập quán của nhân dân ta. Trước ta c̣n dùng chữ Hán và sau đó chế ra chữ Nôm mà chúng không đồng hóa nổi dủ chúng đô hộ trên 1000 năm. Nay ta có chữ Quốc Ngư theo mẫu tự La tinh th́ đó là một hàng rào ngôn ngữ thật kiên cố. Trong khi đó, Tầu có bao nhiêu tỉnh th́ bấy nhiêu giọng nói, không sao “La mă hóa” dùng mẫu tự La tinh được. Đó là chưa kể t́nh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam.

 

Thật sự th́ Tầu chẳng bao giờ từ bỏ tham vọng xâm lược các nước trong vùng, nhất là Việt Nam là bao lơn trông ra Thái B́nh Dương. Từ sau khi Việt Nam giành lại độc lập đến giữa thế kỷ thứ 19, Tầu đă thực hiện âm mưu thôn tính nước ta ít là 7 lần qua các triều vua Trung Hoa (Tồng, Minh, Nguyên, Thanh). Qua thế kỷ 20, Mao Trạch Đông và Đảng Cộng Sản Trung Hoa trong chiêu bài “chủ nghĩa quốc tế vô sản anh em” vẩn hằng nuôi mộng xâm lăng Đông Nam Á và Việt Nam v́ chính Mao đă công khai nói ra. Cái ngu dại là Hồ Chí Minh và tập đoàn CSVN đă tự nguyện làm tay sai cho chúng, đưa đầu cho chúng nắm nên bây giờ đang “dở sống dờ chết”. Cho nên nhân dân Việt Nam phải luôn luôn cảnh giác để pḥng giặc xâm lăng “Tầu Khựa”. Phải vạch trần mọi âm mưu Hán hóa của chúng bằng đủ mọi phương cách mà các cụ thế nhất là bảo tôn văn hóa, ngôn ngữ, phong tục, tập quán dân tộc. Phải đánh đổ bọn Việt Cộng làm tay sai cho Tầu Cộng.

 

Tóm lại, muốn chống Tàu Cộng phải diệt Việt Cộng; muốn diệt Việt Cộng phải diệt Việt gian. Cha ông ta đă hy sinh biết bao xương máu giành lại độc lập cho Tổ Quốc, chẳng lẽ chúng ta là con cháu lại nhắm mắt buông xuôi để mặc bọn Việt gian tay sai và bọn Tầu khựa dày xéo quê hương, thực hiện âm mưu đưa Việt Nam trở lại ṿng nô lệ Hán tộc.

 

San Jose ngày 30-12-2017 

 

 

Phạm Quang Tŕnh

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính