Thương Chiến Mỹ Canada 2026

BÀI III

 

Từ tranh chấp đến thương chiến Mỹ Canada

 

Nguyễn Xuân Tùng

 

 

I. TỪ MỘT CUỘC RÀ SOÁT ĐẾN NHỮNG BẤT ĐỒNG NGÀY CÀNG LỚN GIỮA MỸ VÀ CANADA

 

Ở hai bài I và II, chúng ta đă lần lượt nh́n lại quá tŕnh h́nh thành quan hệ kinh tế đặc biệt giữa Hoa Kỳ và Canada, từ hai quốc gia láng giềng trở thành hai nền kinh tế liên kết rất chặt chẽ trong khuôn khổ CUSFTA, NAFTA và sau cùng là USMCA.

 

USMCA bắt đầu có hiệu lực ngày 1 tháng 7 năm 2020. Theo Điều 34.7, ngày 1 tháng 7 năm 2026 là thời điểm ba nước tiến hành cuộc Joint Review — Rà soát chung lần thứ nhất. Đây không phải là ngày USMCA tự động hết hiệu lực, mà là thời điểm Hoa Kỳ, Canada và Mexico phải xem xét liệu có tiếp tục gia hạn hiệp định hay không.

 

Nhưng đúng vào thời điểm cuộc rà soát chung diễn ra, quan hệ thương mại Mỹ–Canada đă không c̣n ở trạng thái b́nh thường.

 

Những bất đồng về thuế quan, thâm hụt thương mại, nông sản, năng lượng, ô tô, nhôm thép và các hàng rào thương mại khác đă chồng chất lên nhau.

 

Từ một cuộc thương lượng về cách vận hành và tương lai của một hiệp định thương mại ba bên USMCA, vấn đề dần chuyển thành cuộc tranh chấp trực tiếp về thuế quan.

 

Và từ thuế quan, hai nước bước vào một cuộc đối đầu mà báo chí gọi là Thương Chiến —(trade war)

 

Điều đáng chú ư: Đây không phải là một sự kiện xảy ra trong một ngày. Nó là một quá tŕnh leo thang sau khi USMCA tồn tại được 6 năm.

 

 

II. THUẾ QUAN: CÔNG CỤ THƯƠNG MẠI HAY CÔNG CỤ ĐÀM PHÁN?

 

Để hiểu thương chiến Mỹ–Canada năm 2026, trước hết cần hiểu một điều rất căn bản:

 

Thuế quan không phải là tiền mà nước xuất cảng trực tiếp trả cho nước nhập cảng.

Khi Hoa Kỳ đánh thuế một mặt hàng Canada nhập vào Hoa Kỳ, khoản thuế được thu tại Cửa Khẩu Hoa Kỳ từ các nhà nhập cảng Mỹ. Không phải từ các nhà xuất cảng Canada.

 

Nhà nhập cảng Mỹ sau đó có thể:

- chịu toàn bộ chi phí; (nếu họ đă có quá nhiều lời và muốn giữ khách hàng).

- yêu cầu nhà xuất cảng Canada giảm giá;

- tăng giá bán cho người tiêu dùng Mỹ;

- hoặc chia sẻ chi phí theo nhiều cách khác nhau.

 

V́ vậy, câu hỏi: “Ai trả thuế?” và câu hỏi: “Ai cuối cùng chịu gánh nặng thuế kinh tế?” không hoàn toàn giống nhau.

 

Đây là một điểm rất quan trọng khi đọc những tuyên bố chính trị về thương mại.

 

Một chính phủ có thể nói:

“Chúng tôi đánh thuế hàng hóa nước ngoài” và nước ngoài chịu thuế.

 

Nhưng tác động cuối cùng có thể phân tán qua nhiều tầng của chuỗi cung ứng: Nhà xuất cảng, nhà nhập cảng, nhà sản xuất, người bán lẻ và người tiêu dùng.

 

Do đó, muốn đánh giá một chính sách thuế quan, không thể chỉ nh́n vào mức thuế được công bố, mà phải nh́n vào giá cả, sản xuất, việc làm, đầu tư và phản ứng trả đũa của đối thủ.

 

 

III. TỪ THUẾ QUAN ĐẾN Đ̉N TRẢ ĐŨA

 

Trong quan hệ Mỹ–Canada, thuế quan đặc biệt nhạy cảm v́ hai nền kinh tế đă hội nhập rất sâu vào nhau.

 

Một linh kiện có thể được sản xuất tại Hoa Kỳ, chuyển sang Canada để lắp ráp, rồi quay trở lại bán ở Hoa Kỳ.

 

Một sản phẩm hoàn chỉnh cũng có thể sử dụng nguyên liệu, linh kiện và dịch vụ của cả hai nước.

 

V́ thế, khi một bên đánh thuế hàng hóa của bên kia, tác động không nhất thiết dừng lại ở biên giới.

 

Nó có thể chạy ngược trở lại chính nền kinh tế của nước đánh thuế thông qua giá nguyên liệu, chi phí sản xuất và giá bán.

 

Canada v́ thế không chỉ có hai lựa chọn “chịu thuế” hoặc “không chịu thuế”.

Canada c̣n có thể:

 

- thương lượng với Hoa Kỳ;

- t́m cách được miễn hoặc giảm thuế;

- áp thuế trả đũa;

- hỗ trợ các ngành bị thiệt hại;

- t́m kiếm những thị trường khác để sống c̣n.

 

Khi cả hai bên cùng sử dụng thuế quan để gây sức ép, cuộc tranh chấp bắt đầu chuyển từ chính sách thương mại đơn phương sang đối đầu thương mại song phương.

Đó chính là bước chuyển quan trọng dẫn tới thương chiến.

 

 

IV. ĐIỂM ĐẶC BIỆT CỦA QUAN HỆ THƯƠNG MẠI MỸ–CANADA

 

Nếu chỉ nh́n vào con số xuất nhập cảng, người ta có thể dễ dàng nghĩ rằng Hoa Kỳ và Canada là hai nước cạnh tranh với nhau. Nhưng thực tế phức tạp hơn rất nhiều.

 

Hai nước vừa là:

đối tác thương mại,

 

vừa là

đối tác sản xuất.

 

Đây là hai khái niệm khác nhau.

Một công ty Canada bán hàng sang Hoa Kỳ có thể không chỉ bán “hàng Canada”. Sản phẩm đó có thể chứa nhiều linh kiện Mỹ.

Ngược lại, một sản phẩm bán tại Hoa Kỳ có thể được sản xuất một phần tại Canada.

 

Đặc biệt rơ ràng nhất là ngành ô tô.

Canada sản xuất khoảng 1,2 triệu xe mỗi năm. Năm 2024, khoảng 92% lượng xe Canada xuất cảng được đưa sang Hoa Kỳ.

 

Nhưng chiều ngược lại cũng rất lớn: Hoa Kỳ xuất cảng sang Canada hàng chục tỷ đô- la xe du lịch và xe tải nhẹ mỗi năm.

 

V́ vậy, khi một bên đánh thuế ô tô của bên kia, vấn đề không đơn giản là:

 

“Xe Canada vào Mỹ”

 

hay

“Xe Mỹ vào Canada”.

 

Đằng sau một chiếc xe là cả một mạng lưới linh kiện, động cơ, thép, nhôm, điện tử, lao động và vận chuyển vượt qua biên giới nhiều lần trong quá tŕnh sản xuất mặt hàng đó.

 

Chính sự hội nhập ấy làm cho thương chiến Mỹ–Canada có một đặc điểm khác với cuộc chiến thương mại giữa hai nền kinh tế của hai nước xa nhau và ít liên kết với nhau: Đánh thuế vào đối phương có thể đồng thời tạo ra chi phí cho chính ḿnh.

 

 

V. NGÀNH Ô TÔ: MỘT THÍ DỤ ĐIỂN H̀NH

 

Ngành ô tô là một trong những nơi cho thấy rơ nhất sự phức tạp của thương mại Bắc Mỹ.

 

Một điều dễ gây hiểu lầm là người ta thường nh́n vào quốc tịch của thương hiệu để xác định một chiếc xe là xe Mỹ, xe Canada hay xe Nhật.

 

Nhưng trong nền sản xuất hiện đại, ba khái niệm này phải được tách biệt:

- thương hiệu thuộc quốc gia nào;

- chiếc xe được sản xuất ở đâu;

- và chiếc xe được bán hoặc xuất cảng đi đâu.

 

Chẳng hạn, Toyota và Honda là những hăng xe Nhật Bản, nhưng lại có hoạt động sản xuất lớn tại Canada.

 

Năm 2025, Toyota và Honda chiếm hơn 75% số xe được sản xuất tại Canada.

Trong khi đó, phần lớn xe sản xuất tại Canada lại được xuất cảng sang Hoa Kỳ.

 

Như vậy, nếu nói đơn giản rằng:

“Xe Nhật xuất cảng từ Canada sang Mỹ”

th́ vẫn chưa đủ chính xác.

 

Cách nói chính xác hơn là:

Xe mang thương hiệu Nhật Bản được sản xuất tại Canada và xuất cảng sang Hoa Kỳ.

 

Sự phân biệt này rất quan trọng khi phân tích thuế quan.

Bởi v́ một chính sách đánh thuế dựa trên nơi sản xuất, nguồn gốc linh kiện, quy tắc xuất xứ hay quốc tịch doanh nghiệp có thể tạo ra những tác động rất khác nhau.

 

VI. AI THỰC SỰ CHỊU THIỆT KHI THUẾ TĂNG?

 

Đây là một trong những câu hỏi khó nhất của thương chiến.

 

Giả sử Hoa Kỳ đánh thuế cao hơn đối với một sản phẩm Canada.

Nhà nhập cảng Mỹ phải nộp thuế cho chính quyền Mỹ.

 

Nếu nhà nhập cảng không thể chuyển toàn bộ chi phí cho người tiêu dùng, lợi nhuận của doanh nghiệp giảm.

 

Nếu doanh nghiệp chuyển phần lớn chi phí sang người tiêu dùng, giá sản phẩm tăng.

 

Nếu doanh nghiệp yêu cầu nhà sản xuất Canada giảm giá, lợi nhuận của nhà sản xuất Canada giảm.

 

Như vậy, cùng một mức thuế có thể được “chia sẻ” bởi nhiều thành phần.

 

Tỷ lệ chia sẻ này phụ thuộc vào:

- sức mạnh thương lượng của người mua và người bán;

- mức độ cạnh tranh;

- khả năng t́m nguồn hàng thay thế;

- mức độ phụ thuộc vào sản phẩm;

- tỷ giá;

- t́nh trạng cung cầu;

- và thời gian kéo dài của thuế quan.

 

V́ vậy, không nên vội kết luận:

“Mỹ đánh thuế Canada th́ Canada trả tiền.”

 

Cũng không nên đơn giản hóa thành:

“Mỹ đánh thuế th́ người dân Mỹ trả hết.”

 

Thực tế kinh tế thường phức tạp hơn cả hai cách nói trên.

 

VII. NĂNG LƯỢNG: MỐI QUAN HỆ KHÔNG DỄ THAY THẾ

 

Một đặc điểm khác khiến thương mại Mỹ–Canada đặc biệt là năng lượng.

Có một điều thoạt nghe tưởng như nghịch lư: Hoa Kỳ là một trong những nước sản xuất dầu thô lớn nhất thế giới, nhưng vẫn nhập một lượng dầu thô rất lớn từ Canada.

 

Lư do chủ yếu không phải v́ Hoa Kỳ thiếu dầu, cũng không phải v́ muốn “để dành” dầu của ḿnh cho tương lai. Vấn đề nằm ở chất lượng dầu và cấu h́nh của các nhà máy lọc dầu.

 

Phần lớn dầu thô mà Hoa Kỳ sản xuất, đặc biệt từ các vùng sản xuất lớn như Texas, có xu hướng nhẹ và ít lưu huỳnh; trong khi nhiều nhà máy lọc dầu của Hoa Kỳ đă được thiết kế để xử lư dầu nặng hơn, nhiều lưu huỳnh hơn. Canada, nhất là vùng Alberta, lại có nguồn dầu phù hợp với nhu cầu đó của Hoa Kỳ.

 

V́ vậy, dầu Canada không đơn giản là “dầu nước ngoài thay cho dầu Mỹ”, mà trong nhiều trường hợp là một loại nguyên liệu phù hợp với những nhà máy lọc dầu cụ thể của Mỹ. Hơn nữa, Canada ở ngay sát Hoa Kỳ và có hệ thống đường ống kết nối trực tiếp với các khu vực lọc dầu của Mỹ, làm cho việc vận chuyển dầu Canada sang Mỹ có lợi thế lớn về địa lư và chi phí vận chuyển. Có lợi cho cả người bán và người mua

 

Điều này giải thích v́ sao quan hệ dầu mỏ Mỹ–Canada có tính chất hai chiều và rất khó thay thế trong một thời gian ngắn. Năm 2025, Canada vẫn là nguồn cung cấp dầu thô lớn nhất cho Hoa Kỳ, với khoảng 3,9 triệu thùng mỗi ngày; đồng thời Hoa Kỳ vẫn xuất một lượng dầu thô nhỏ hơn sang Canada.

 

V́ thế, khi thương mại bị gián đoạn, vấn đề không chỉ liên quan đến doanh nghiệp xuất cảng dầu hoặc doanh nghiệp nhập cảng. Nó c̣n liên quan đến các nhà máy lọc dầu, hệ thống vận chuyển, giá năng lượng, chi phí sản xuất, giao thông và cuối cùng là người tiêu dùng.

 

Đây là một ví dụ cho thấy v́ sao thương chiến giữa hai nước láng giềng không thể chỉ được đánh giá bằng một con số thâm hụt hay thặng dư thương mại.

Một đặc điểm khác khiến thương mại Mỹ–Canada đặc biệt là năng lượng.

 

Canada là một trong những nguồn cung cấp năng lượng quan trọng nhất cho Hoa Kỳ với giá rẻ, đặc biệt về dầu thô.

 

Điều này tạo ra một mối quan hệ có tính hai chiều.

Hoa Kỳ có nhu cầu đối với năng lượng Canada.

Canada có thị trường rất lớn ngay bên cạnh ḿnh.

 

Cả hai bên đều có lợi, V́ thế, khi thương mại bị gián đoạn, vấn đề không chỉ liên quan đến doanh nghiệp xuất cảng dầu hoặc doanh nghiệp nhập cảng dầu có qua có lại.

 

Nó c̣n liên quan đến:

- các nhà máy lọc dầu;

- hệ thống vận chuyển;

- giá năng lượng;

- chi phí sản xuất;

- giao thông;

- và cuối cùng là người tiêu dùng.

 

Đó chính là một ví dụ cho thấy v́ sao thương chiến giữa hai nước láng giềng Mỹ- Canada không thể chỉ được đánh giá bằng một con số thâm hụt hay thặng dư thương mại trên lư thuyết, giấy tờ, lập trường chính trị.

 

 

VIII. CON SỐ THƯƠNG MẠI NÓI G̀?

 

Theo số liệu của Văn pḥng Đại diện Thương mại Hoa Kỳ, năm 2025 tổng thương mại hàng hóa và dịch vụ giữa Hoa Kỳ và Canada đạt khoảng 872,3 tỷ USD.

 

Hoa Kỳ xuất cảng sang Canada khoảng 333,6 tỷ USD hàng hóa và nhập cảng khoảng 381,9 tỷ USD hàng hóa, tạo ra thâm hụt hàng hóa khoảng 48,3 tỷ USD.

 

Nhưng Hoa Kỳ lại có thặng dư dịch vụ khoảng 27,7 tỷ USD với Canada. Như vậy: 381,9 – (333,6 + 27,7) = 20,6 tỷ

 

Điều này cho thấy một điểm quan trọng:

Thâm hụt thương mại hàng hóa không phải là toàn bộ quan hệ thương mại.

Nếu chỉ lấy con số hàng hóa rồi kết luận rằng Hoa Kỳ “thua” Canada một khoản tương đương với thâm hụt đó, th́ bức tranh sẽ bị đơn giản hóa.

 

Thương mại hiện đại bao gồm cả:

- hàng hóa;

- dịch vụ;

- đầu tư;

- chuỗi cung ứng;

- sở hữu trí tuệ;

- vận tải;

- tài chính;

- công nghệ;

- và nhiều hoạt động kinh tế xuyên biên giới khác.

 

Do đó, một con số có thể đúng nhưng cách diễn giải nó vẫn có thể chưa đầy đủ.

 

 

IX. TỔNG THỐNG TRUMP NH̀N VẤN ĐỀ TỪ ĐÂU?

 

Để giữ sự công bằng, cần phân biệt giữa quan điểm của chính quyền Trump và kết luận của các chứng lư.

 

Chính quyền Trump từ lâu cho rằng Hoa Kỳ phải sử dụng sức mạnh kinh tế của ḿnh để đạt được những điều kiện thương mại có lợi hơn cho người Mỹ.

 

Trong trường hợp Canada, các vấn đề được Washington nêu ra gồm:

- thâm hụt thương mại hàng hóa;

- các rào cản đối với nông sản Mỹ;

- các vấn đề liên quan đến thị trường sữa;

- hàng rào phi thuế quan;

- quy tắc xuất xứ;

- và việc thực thi các cam kết thương mại.

 

Theo cách nh́n này, thuế quan là một công cụ gây sức ép trong đàm phán.

Nói cách khác, mục tiêu không nhất thiết chỉ là thu tiền thuế.

 

Thuế quan có thể được sử dụng để buộc đối tác phải thay đổi chính sách.

Nhưng một công cụ đàm phán chỉ có hiệu quả nếu những lợi ích mà nó tạo ra sau cùng lớn hơn chi phí mà nó gây ra.

 

Đây là câu hỏi mà thực tế năm 2026 phải trả lời.

 

 

X. CANADA NH̀N VẤN ĐỀ TỪ ĐÂU?

 

Phía Canada nh́n sự việc khác.

 

Canada cho rằng quan hệ kinh tế Mỹ–Canada đă được xây dựng qua nhiều thập niên bằng các hiệp định thương mại và “sự hội nhập của hai nền kinh tế”.

V́ thế, những biện pháp thuế quan mới của Hoa Kỳ không chỉ ảnh hưởng đến xuất cảng của Canada mà c̣n gây bất ổn cho các doanh nghiệp của cả Canada và Mỹ đă xây dựng chuỗi cung ứng dựa trên giả định rằng biên giới Mỹ–Canada tương đối ổn định.

 

Chính quyền Canada dưới Thủ tướng Mark Carney v́ thế phải đồng thời làm hai việc:

 

- một mặt thương lượng với Washington;

- mặt khác chuẩn bị khả năng giảm sự phụ thuộc quá nhiều vào một thị trường Hoa Kỳ.

Đây là một thay đổi đáng chú ư.

 

Trong nhiều thập niên, vị trí địa lư láng giềng khiến Hoa Kỳ trở thành thị trường tự nhiên lớn nhất của Canada. Nhưng khi thương mại với Hoa Kỳ trở nên bất định, Canada bắt đầu nhấn mạnh hơn đến việc:

 

- mở rộng thị trường xuất cảng;

- tăng thương mại với các đối tác kinh tế khác;

- củng cố thị trường nội địa;

- và giảm rủi ro do phụ thuộc quá lớn vào một thị trường duy nhất là Mỹ.

 

 

XI. VẤN ĐỀ KHÔNG CHỈ LÀ THUẾ QUAN — MÀ C̉N LÀ L̉NG TIN

 

Có một khía cạnh của thương mại thường khó đo bằng con số:

Đó là niềm tin.

Một doanh nghiệp xây dựng nhà máy trị giá hàng tỷ đô- la không chỉ nh́n vào mức thuế hôm nay.

 

Họ phải nghĩ đến:

- thuế năm sau;

- quy định năm sau nữa;

- khả năng chính sách thay đổi;

- khả năng hàng hóa vượt biên giới;

- và liệu những cam kết thương mại có c̣n được duy tŕ bền vững nữa hay không.

 

Nếu chính sách thương mại thay đổi quá nhanh, doanh nghiệp có thể tŕ hoăn đầu tư.

Nếu doanh nghiệp không biết hàng hóa sẽ bị đánh thuế ở mức nào trong tương lai, họ khó tính toán chi phí dài hạn.

 

Do đó, thương chiến có thể tạo ra một tác động không thể nh́n thấy ngay trong thống kê xuất nhập cảng:

- làm tăng sự bất định.

- Và sự bất định có thể ảnh hưởng đến đầu tư trước khi nó ảnh hưởng rơ ràng đến sản lượng.

 

 

XII. THƯƠNG CHIẾN CÓ PHẢI CHỈ LÀ CUỘC ĐẤU GIỮA TRUMP VÀ CARNEY?

 

Không nên nh́n vấn đề theo cách cá nhân hóa.

Donald Trump là Tổng Thống Hoa Kỳ và Mark Carney là Thủ Tướng Canada; v́ thế hai người đứng ở vị trí trung tâm của các cuộc thương lượng.

Nhưng tranh chấp Mỹ–Canada không phải chỉ là tranh chấp cá nhân giữa hai nhà lănh đạo.

 

Đằng sau mỗi bên là:

Chính phủ Hoa Kỳ — Quốc hội — các cơ quan thương mại — doanh nghiệp — các ngành sản xuất — người tiêu dùng — cử tri.

 

Phía Canada cũng tương tự:

Chính Phủ Liên Bang — các Tỉnh Bang — doanh nghiệp — người lao động — các ngành xuất cảng — người tiêu dùng — cử tri.

 

V́ thế, mỗi quyết định của Trump hay Carney đều chịu ảnh hưởng bởi những lợi ích rộng lớn hơn. Và ngược lại, chính sách của mỗi chính phủ cũng tác động trở lại những nhóm lợi ích đó.

 

Đây là lư do cần thận trọng khi dùng những từ mang tính lư thuyết, chính trị, như “thắng” hay “thua” quá sớm.

 

 

XIII. KHI THƯƠNG MẠI TRỞ THÀNH VẤN ĐỀ CHÍNH TRỊ

 

Thương mại vốn là vấn đề kinh tế.

 

Nhưng khi thuế quan tăng, giá cả thay đổi, doanh nghiệp đóng cửa hoặc mở rộng sản xuất, công nhân mất hoặc có thêm việc làm, th́ thương mại trở thành vấn đề chính trị.

 

Đặc biệt trong năm 2026, khi Hoa Kỳ bước vào một năm bầu cử giữa nhiệm kỳ, bất kỳ chính sách kinh tế lớn nào cũng có thể trở thành một phần đáng quan tâm của cuộc tranh luận chính trị.

 

Tuy nhiên, cần phân biệt hai mệnh đề:

“Một chính sách xảy ra trong năm bầu cử”

không đồng nghĩa với:

“Chính sách đó được thực hiện chỉ v́ cuộc bầu cử.”

 

Muốn chứng minh động cơ chính trị, cần có bằng chứng.

Người viết không biến sự trùng hợp về thời gian thành quan hệ nhân quả.

Đây cũng là nguyên tắc quan trọng khi đánh giá cả Trump lẫn Carney.

 

 

XIV. TỪ ĐỐI ĐẦU ĐẾN ĐỔ VỠ ĐÀM PHÁN

 

Trong những tháng giữa năm 2026, các cuộc thương lượng giữa Washington và Ottawa tiếp tục diễn ra trong bối cảnh thuế quan và các biện pháp đối phó vẫn là vấn đề trung tâm.

 

Hai bên đều có lư do để muốn đạt được một thỏa thuận.

Hoa Kỳ có lợi ích trong việc duy tŕ nguồn cung ổn định từ một đối tác thương mại và an ninh quan trọng.

 

Canada có lợi ích trong việc duy tŕ quyền tiếp cận thị trường Hoa Kỳ, vốn là thị trường xuất cảng lớn nhất của ḿnh.

 

Nhưng chính v́ lợi ích của hai bên rất lớn nên cuộc thương lượng cũng rất khó khăn.

Mỗi bên đều có những điều mà họ không muốn nhượng bộ.

Đến tháng 8 năm 2026, triển vọng đạt được một thỏa thuận nhanh chóng trở nên khó khăn hơn nhiều.

 

Canada đồng thời đẩy mạnh chủ trương đa dạng hóa thị trường.

 

Như vậy, vấn đề đă chuyển sang một giai đoạn mới:

không c̣n chỉ là Hoa Kỳ muốn Canada nhượng bộ điều ǵ, mà c̣n là Canada sẽ làm ǵ nếu quan hệ thương mại với Hoa Kỳ trở nên kém thuận lợi nhiều hơn trước.

 

 

XV. MỘT NGHỊCH LƯ CỦA THƯƠNG CHIẾN

 

Nếu nh́n toàn bộ lịch sử từ CUSFTA đến NAFTA rồi USMCA, có thể nhận ra một nghịch lư.

 

Hai nước đă mất hàng chục năm để:

- giảm hàng rào thương mại,

- xây dựng chuỗi cung ứng xuyên biên giới,

- tạo ra những ngành sản xuất phụ thuộc lẫn nhau,

- và biến biên giới Mỹ–Canada thành một trong những khu vực thương mại lớn nhất thế giới.

 

Nhưng khi một bên sử dụng thuế quan để gây sức ép lên bên kia, chính sự hội nhập sâu ấy lại trở thành con dao hai lưỡi.

 

Hội nhập càng sâu:

lợi ích của thương mại càng lớn,

 

nhưng đồng thời:

chi phí thiệt hại của sự gián đoạn của cả hai bên cũng càng lớn.

 

Đây chính là điểm khiến thương chiến Mỹ–Canada năm 2026 khác với một cuộc tranh chấp thương mại thông thường.

 

 

XVI. VẬY AI ĐANG THẮNG?

 

Ở giai đoạn này, câu hỏi “ai thắng?” vẫn chưa có một câu trả lời đơn giản.

 

Nếu Hoa Kỳ dùng thuế quan để buộc Canada thay đổi một số chính sách mà Washington cho là bất lợi cho Mỹ, th́ đó có thể được xem là một kết quả có lợi cho Hoa Kỳ.

 

Nhưng nếu thuế quan đồng thời làm tăng chi phí cho doanh nghiệp Mỹ, người tiêu dùng Mỹ và các ngành sản xuất Mỹ phụ thuộc vào nguyên liệu Canada, th́ chi phí đó cũng phải được tính vào bất lợi cho Hoa kỳ.

 

Ngược lại, nếu Canada bảo vệ được những lợi ích thương mại của ḿnh và mở rộng được các thị trường ngoài Hoa Kỳ, Canada có thể giảm được sự lệ thuộc quá nhiều vào Washington. Và sẽ không c̣n bị Trump thường xuyên gây thương chiến ép giá.

Nhưng nếu xuất cảng sang Hoa Kỳ giảm mạnh, doanh nghiệp Canada mất thị trường và người lao động bị ảnh hưởng, th́ Canada cũng phải chịu một cái giá cao. Và có thể sẽ bị bắt buộc ngượng bộ Trump.

 

V́ vậy, câu hỏi đúng không phải chỉ là:

“Ai thắng trong thương chiến?”

 

Mà phải là:

“Mỗi bên đă đạt được ǵ, mỗi bên phải trả giá bao nhiêu, và kết quả đó có bền vững hay không?” Đó mới là câu hỏi của lịch sử.

 

 

XVII. TỪ THƯƠNG CHIẾN ĐẾN LÁ PHIẾU

 

Và đây cũng là điểm dẫn sang bài cuối cùng.

 

Một cuộc chiến thương mại không chỉ tạo ra những con số trong bảng thống kê.

Nó có thể ảnh hưởng đến:

- giá hàng hóa;

- việc làm;

- doanh nghiệp;

- đầu tư;

- các ngành sản xuất;

- ngân sách;

- quan hệ giữa các đồng minh;

- và cuối cùng là ḷng tin của cử tri.

 

Đối với Hoa Kỳ, câu hỏi sẽ là:

Chính sách thuế quan của Trump có thực sự đem lại một nền thương mại có lợi hơn cho người Mỹ hay không?

 

Đối với Canada:

Chính sách đáp trả và đa dạng hóa thị trường của chính phủ Carney có bảo vệ được nền kinh tế Canada mà không làm quá tổn thương chính người dân Canada hay không?

 

Và đối với cả hai nước:

 

Chi phí thương chiến Mỹ- Canada của cuộc đối đầu “hai bên” có thấp hơn lợi ích mà hai bên muốn đạt được hay không?

 

Đây là những câu hỏi không thể trả lời chỉ bằng khẩu hiệu chính trị.

Cần nh́n vào số liệu.

Cần nh́n vào kết quả.

Và cần chờ thời gian.

 

 

XVIII. SỰ THẬT TRƯỚC — NHẬN ĐỊNH SAU

 

Từ CUSFTA đến NAFTA, từ NACFTA đến USMCA, Hoa Kỳ và Canada đă xây dựng một trong những mối quan hệ kinh tế hội nhập sâu nhất thế giới.

 

Nhưng năm 2026 cho thấy một điều quan trọng:

Một hiệp định thương mại có thể tạo ra sự ổn định trong nhiều thập niên, nhưng không thể tự ḿnh bảo đảm rằng sự ổn định ấy sẽ tồn tại măi măi khi:

 

- Chính sách thay đổi.

- Chính phủ thay đổi.

- Ưu tiên quốc gia thay đổi.

 

Và khi lợi ích được nh́n nhận khác nhau, những thỏa thuận thương mại từng được xem là nền tảng ổn định có thể trở thành đối tượng tranh luận.

 

Thương chiến Mỹ–Canada v́ thế không nên chỉ được nh́n như câu chuyện:

 

Trump chống Canada,

 

hay

 

Canada chống Trump.

 

Đó là cách nh́n quá đơn giản.

 

Đằng sau cuộc đối đầu thương chiến là những vấn đề lớn hơn:

- chủ quyền kinh tế, lợi ích quốc gia, tự do thương mại, bảo hộ, chuỗi cung ứng, giá cả, việc làm, quyền lợi doanh nghiệp và “ḷng tin” giữa hai quốc gia láng giềng.

 

Bởi vậy, trong cuộc tranh luận này, điều quan trọng nhất không phải là chọn một bên để bênh vực.

 

Điều quan trọng hơn là phân biệt:

 

- Điều ǵ đă xảy ra?

- Điều ǵ mỗi bên tuyên bố?

- Điều ǵ có thể kiểm chứng bằng số liệu?

- Và cuối cùng, chính sách ấy đem lại kết quả ǵ?

 

Đó cũng là nguyên tắc của loạt bài viết:

SỰ THẬT TRƯỚC — NHẬN ĐỊNH SAU.

Trong Bài IV, sẽ đi đến câu hỏi khó nhất:

 

Ai được? Ai mất?

 

Không chỉ Hoa Kỳ và Canada, mà c̣n Trump, Carney, chính quyền hai nước, các đảng phái, doanh nghiệp và người dân hai bên biên giới.

 

Và đặc biệt, trong một năm Bầu Cử Giữa Nhiệm Kỳ tại Hoa Kỳ, liệu những kết quả kinh tế của thương chiến có thể ảnh hưởng đến lá phiếu của cử tri đến mức nào?

 

 

Nguyễn Xuân Tùng

Diễn Đàn Kitô- hữu

06- 09- 2026

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính