Chủ nghĩa Tư Bản và các Chủ nghĩa Xă Hội khác nhau -Bài VIII-

từ cách mạng giải phóng đến quyền lực nhà nước

       

Nguyễn Xuân Tùng

 

 

Khi cuộc cách mạng chống bóc lột tạo ra một h́nh thức quyền lực mới

 

1. Nút thắt quan trọng nhất: sau khi cách mạng thắng th́ điều ǵ xảy ra?

Ở những bài trước, chúng ta đă lần theo một tiến tŕnh:

bất công của chủ nghĩa tư bản thời kỳ đầu → sự xuất hiện của các chủ nghĩa xă hội → Marx và Engels → đấu tranh giai cấp → cách mạng vô sản → Lenin → đảng tiên phong → giành chính quyền.

 

Nhưng đến đây lịch sử đặt ra một câu hỏi rất khó:

Nếu một cuộc cách mạng được thực hiện để giải phóng con người khỏi sự áp bức của một giai cấp, th́ sau khi cách mạng thành công, ai sẽ nắm quyền lực và quyền lực ấy sẽ được kiểm soát bằng cách nào?

 

Đây không phải là một câu hỏi chống Marx, cũng không phải là một câu hỏi bênh vực chủ nghĩa tư bản.

 

Đó là câu hỏi mà chính lư thuyết Marxist phải đối diện.

 

Marx và Engels cho rằng nhà nước trong xă hội có giai cấp là công cụ của sự thống trị giai cấp. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, họ viết rằng quyền lực chính trị, theo nghĩa chặt chẽ, là quyền lực có tổ chức của một giai cấp nhằm áp bức một giai cấp khác. Họ đồng thời dự báo rằng khi các giai cấp và những đối kháng giai cấp biến mất th́ quyền lực nhà nước cũng sẽ mất dần tính chất chính trị của nó.

 

Như vậy, trong lư thuyết, nhà nước cộng sản không phải là đích cuối cùng.

Nó chỉ là một giai đoạn chuyển tiếp.

 

Đây chính là điểm cần ghi nhớ khi bước sang lịch sử thế kỷ XX.

 

 

2. Marx không nói rằng nhà nước cộng sản sẽ tồn tại vĩnh viễn

 

Điều này rất quan trọng v́ nhiều người thường đồng hóa ngay:

Marx = nhà nước cộng sản độc tài vĩnh viễn.

 

Nói như vậy là không chính xác về mặt lư thuyết.

 

Trong tư tưởng Marx và Engels, sau khi giai cấp vô sản giành được chính quyền, sẽ có một thời kỳ chuyển tiếp. Giai cấp vô sản trở thành giai cấp cầm quyền để phá bỏ những quan hệ sản xuất cũ và xây dựng xă hội mới.

 

Mục tiêu cuối cùng vẫn là một xă hội không c̣n giai cấp.

 

Và khi không c̣n giai cấp đối kháng th́ nhà nước, với tư cách một bộ máy cưỡng chế của một giai cấp đối với một giai cấp khác, sẽ “tiêu vong” hay “tự tiêu biến”.

 

Engels diễn đạt ư này bằng khái niệm nhà nước “withering away” — nhà nước dần dần tiêu vong. Lenin sau này dành một phần lớn Nhà nước và Cách mạng để giải thích chính điểm này.

 

Và đây chính là chỗ lịch sử bắt đầu trở nên đặc biệt đáng suy nghĩ.

 

Bởi v́:

Một nhà nước được tạo ra để tiến tới một xă hội không c̣n nhà nước th́ phải làm thế nào để tự tiêu vong?

 

Ai sẽ tự nguyện trao lại quyền lực?

 

Ai sẽ tự nguyện giải tán bộ máy cưỡng chế mà ḿnh đang nắm trong tay?

 

Đó là một trong những vấn đề lớn nhất mà thực tiễn cộng sản thế kỷ XX đă đặt ra.

 

 

3. Lenin biến lư thuyết thành một chiến lược giành chính quyền

Marx viết trong bối cảnh chủ nghĩa tư bản công nghiệp Tây Âu đang phát triển mạnh.

 

Lenin lại hoạt động trong một nước Nga có hoàn cảnh rất khác.

 

Nước Nga năm 1917 không phải nước Anh công nghiệp hóa mà Marx từng đặc biệt quan tâm.

 

Giai cấp công nhân Nga tồn tại nhưng tương đối nhỏ so với một xă hội nông dân rộng lớn.

 

V́ vậy, Lenin phải giải quyết một vấn đề mà lư thuyết Marx ban đầu không cung cấp sẵn một công thức hoàn chỉnh:

 

Làm thế nào để một lực lượng cách mạng tương đối nhỏ có thể lănh đạo một xă hội rộng lớn, phần lớn là nông dân, giành và giữ chính quyền?

 

Câu trả lời của Lenin ngày càng tập trung vào đảng cách mạng tiên phong.

 

Đảng không chỉ là một tổ chức tranh cử.

 

Nó là lực lượng được tổ chức chặt chẽ, có kỷ luật, có lư luận cách mạng và có nhiệm vụ lănh đạo giai cấp công nhân cùng các lực lượng bị áp bức.

 

Trong Nhà nước và Cách mạng, Lenin viết rất rơ rằng giai cấp vô sản cần một tổ chức chính trị có khả năng lănh đạo những người lao động và bị bóc lột trong việc xây dựng trật tự kinh tế mới.

 

Từ đây xuất hiện một chuyển biến rất quan trọng:

Marx đặt trọng tâm vào sự phát triển của mâu thuẫn giai cấp và vai tṛ lịch sử của giai cấp vô sản.

 

Lenin đặt thêm vào đó một yếu tố tổ chức quyết định: đảng tiên phong.

Và khi đảng tiên phong trở thành lực lượng nắm chính quyền, một câu hỏi mới xuất hiện:

Đảng lănh đạo cách mạng có trở thành đảng lănh đạo nhà nước không?

Lịch sử Liên Xô trả lời câu hỏi ấy theo một hướng rất rơ ràng.

 

 

4. Từ “chuyên chính vô sản” đến sự tập trung quyền lực

 

Ở đây chúng ta cần hết sức cẩn thận về từ ngữ.

 

“Chuyên chính vô sản” trong lư luận Marxist không đơn giản đồng nghĩa với “một cá nhân độc tài”.

 

Nó được hiểu là một h́nh thức quyền lực chính trị trong thời kỳ quá độ, trong đó giai cấp vô sản nắm quyền và trấn áp sự chống đối của các lực lượng bị coi là bóc lột.

 

Lenin nói rất thẳng rằng nhà nước trong thời kỳ quá độ vẫn là một bộ máy cưỡng chế. Ông cho rằng cần dùng quyền lực nhà nước để chống lại sự kháng cự của giai cấp tư sản.

 

Như vậy, ngay trong lư thuyết đă tồn tại một nghịch lư:

Mục tiêu cuối cùng là một xă hội không c̣n áp bức.

 

Nhưng con đường đi tới đó lại chấp nhận một giai đoạn sử dụng quyền lực cưỡng chế để tiêu diệt sự chống đối của giai cấp cũ.

 

Câu hỏi lịch sử là:

Một quyền lực được trao cho một tổ chức với lư do nó sẽ dùng quyền lực để xây dựng xă hội không c̣n áp bức — ai sẽ bảo đảm rằng chính quyền lực ấy không trở thành một h́nh thức áp bức mới?

 

Đây là câu hỏi không thể giải quyết chỉ bằng ḷng tin vào thiện chí của người cầm quyền.

 

 

5. Từ quyền lực cách mạng đến quyền lực của bộ máy

 

Đây là nơi chúng ta bắt đầu thấy khoảng cách giữa lư thuyết và lịch sử thực tế.

Một cuộc cách mạng có thể bắt đầu bằng những khẩu hiệu rất đẹp:

  • giải phóng người lao động;

  • xóa bỏ bóc lột;

  • b́nh đẳng;

  • xây dựng xă hội không c̣n giai cấp;

  • cuối cùng tiến tới một xă hội trong đó nhà nước không c̣n cần thiết.

 

Nhưng muốn thực hiện những mục tiêu ấy, cách mạng phải có:

  • chính quyền;

  • quân đội;

  • công an;

  • hệ thống tư pháp;

  • bộ máy hành chính;

  • hệ thống kinh tế;

  • cơ chế phân phối;

  • tổ chức chính trị;

  • và một hệ thống tư tưởng để bảo vệ cuộc cách mạng.

 

Nói cách khác:

Muốn làm cho nhà nước tiêu vong trong tương lai, trước hết phải xây dựng một nhà nước đủ mạnh trong hiện tại.

 

Đây chính là điểm mà lịch sử đặt ra một thử thách rất lớn cho lư thuyết.

 

Bởi v́ bộ máy càng lớn th́ quyền lực của những người điều hành bộ máy càng lớn.

 

Và khi quyền lực càng lớn, câu hỏi về kiểm soát quyền lực càng trở nên quan trọng.

 

 

6. Stalin: khi “thời kỳ quá độ” không c̣n giống một cây cầu ngắn

 

Sau khi Lenin qua đời năm 1924, Liên Xô không bước ngay vào một xă hội không c̣n nhà nước.

 

Trái lại, dưới Stalin, quyền lực nhà nước và quyền lực của Đảng Cộng sản ngày càng tập trung.

 

Đây là một trong những bước ngoặt quan trọng nhất của lịch sử cộng sản thế kỷ XX.

 

Nhưng khi viết về Stalin, chúng ta cũng cần tránh một cách giải thích quá đơn giản:

“Tất cả những ǵ xảy ra dưới thời Stalin đều chính là những điều Marx đă viết.”

Lịch sử không đơn giản như vậy.

 

Stalin là một nhân vật lịch sử cụ thể, trong một hoàn cảnh cụ thể, đă xây dựng một mô h́nh quyền lực cụ thể.

 

Vấn đề chúng ta cần nghiên cứu là:

Tại sao một lư thuyết nói rằng nhà nước cuối cùng sẽ tiêu vong lại có thể dẫn tới một nhà nước tập trung quyền lực rất cao?

 

Đây là một câu hỏi lớn hơn việc chỉ kết án một cá nhân.

 

 

7. Một nghịch lư của lịch sử

 

Nếu nhà nước là công cụ của giai cấp thống trị, theo logic Marxist, th́ cách mạng phải thay thế quyền lực của giai cấp tư sản bằng quyền lực của giai cấp vô sản.

 

Nhưng trên thực tế, khi quyền lực được tập trung vào một đảng duy nhất, một vấn đề mới có thể xuất hiện:

 

Giai cấp vô sản có thực sự trực tiếp cai trị không, hay một bộ máy nhân danh giai cấp vô sản cai trị thay cho họ?

 

Đây là một khác biệt rất lớn.

 

Có thể viết thành một chuỗi câu hỏi:

Giai cấp → Đảng → Nhà nước → Bộ máy → Người lănh đạo.

 

Mỗi bước chuyển đều có nguy cơ làm khoảng cách giữa người lao động và quyền lực ngày càng lớn.

 

Đây không phải là kết luận riêng của người viết.

 

Nó là một vấn đề mà lịch sử các nhà nước cộng sản buộc người nghiên cứu phải đặt ra.

 

 

8. Khi “giải phóng người lao động” trở thành quyền lực thay mặt người lao động

 

Đây có lẽ là một trong những nút thắt quan trọng nhất của toàn bộ loạt bài.

 

Nếu nói:

“Đảng đại diện cho giai cấp công nhân.”

 

th́ lập tức phải hỏi:

Ai đại diện cho Đảng?

 

Nếu câu trả lời là:

“Ban lănh đạo Đảng.”

 

th́ lại phải hỏi:

Ai kiểm soát ban lănh đạo?

 

Nếu không có một cơ chế kiểm soát đủ mạnh, quyền lực có thể chuyển từ:

quyền lực của nhân dân

sang

quyền lực nhân danh nhân dân.

 

Hai điều ấy không nhất thiết là một.

 

Đây chính là điểm mà chúng ta cần giữ lại cho độc giả tự suy nghĩ.

 

Bởi v́ một chế độ có thể tuyên bố rằng ḿnh đại diện cho người lao động, nhưng điều đó không tự động chứng minh rằng người lao động thực sự kiểm soát quyền lực.

 

 

9. Việt Nam sau 1975: một trường hợp cần nghiên cứu riêng

 

Từ đây chúng ta có thể tiến gần hơn đến Việt Nam.

 

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Việt Nam thống nhất về lănh thổ dưới chính quyền cộng sản.

 

Nhưng thống nhất đất nước không đồng nghĩa với thống nhất ngay lập tức về mô h́nh kinh tế, xă hội và đời sống.

 

Miền Nam trước 1975 đă phát triển theo một mô h́nh kinh tế khác với miền Bắc xă hội chủ nghĩa cộng sa.

 

Sau thống nhất, chính quyền mới từng bước đưa miền Nam vào hệ thống kinh tế xă hội chủ nghĩa cộng sản của cả nước.

 

Đây là nơi chúng ta sẽ phải nghiên cứu rất kỹ trong những bài sau:

  • cải tạo công thương nghiệp;

  • thay đổi quan hệ sở hữu;

  • hợp tác hóa nông nghiệp;

  • cơ chế kế hoạch hóa;

  • hạn chế kinh tế tư nhân;

  • hệ thống phân phối;

  • những khó khăn kinh tế;

  • và cuối cùng là Đổi Mới năm 1986.

 

Điều đặc biệt đáng chú ư là chính Việt Nam sau đó đă phải điều chỉnh đường lối kinh tế.

 

Đó là một chứng liệu lịch sử rất quan trọng.

 

Bởi v́ nó cho thấy:

Một hệ thống có thể thay đổi khi thực tế không phù hợp với lư thuyết hoặc với cơ chế đang áp dụng.

 

Đây là chỗ cần phân biệt giữa khả năng tự sửa chữa của một chế độ và khả năng tự bảo vệ của một chế độ.

 

 

10. Đông Đức và Tây Đức: một phép so sánh cần thận trọng

 

Một so sánh rất đáng nghiên cứu: Đông Đức và Tây Đức.

 

Đây là một trường hợp có giá trị để chúng ta đưa vào loạt bài, nhưng không nên dùng nó như một bằng chứng đơn giản rằng “mô h́nh này tốt, mô h́nh kia xấu”.

Hai nước Đức sau Thế chiến II đă đi theo hai hệ thống chính trị và kinh tế khác nhau.

 

Khi Bức tường Berlin sụp đổ năm 1989 và nước Đức thống nhất ngày 3 tháng 10 năm 1990, Đông Đức không xây dựng một hệ thống kinh tế mới từ con số không. Đông Đức gia nhập Cộng ḥa Liên bang Đức, và hệ thống pháp luật, tiền tệ, kinh tế và xă hội của Tây Đức được mở rộng sang phần lănh thổ phía Đông.

 

Quá tŕnh ấy có những thành công nhưng cũng có những tổn thất rất lớn: nhiều doanh nghiệp Đông Đức không thể cạnh tranh, thất nghiệp tăng cao và sự chênh lệch Đông–Tây vẫn kéo dài nhiều thập niên. V́ vậy, nói rằng “Tây Đức làm Đông Đức giàu như Tây Đức” cũng là một cách diễn đạt quá đơn giản.

 

Nhưng có một điều rất đáng chú ư:

Sau thống nhất, nước Đức không cố bảo tồn mô h́nh kinh tế xă hội chủ nghĩa của Đông Đức để cải thiện nó từ bên trong.

 

Họ chuyển sang một hệ thống kinh tế và pháp lư khác.

 

Đây là điểm đáng để so sánh với những trường hợp như Việt Nam, nơi một nhà nước cộng sản vẫn giữ nguyên vai tṛ lănh đạo chính trị nhưng điều chỉnh mạnh cơ chế kinh tế, đặc biệt từ Đổi Mới.

 

Hai con đường này không giống nhau.

 

Và chính sự khác nhau ấy sẽ giúp chúng ta hiểu rơ hơn thế nào là:

thay đổi chế độ

và thế nào là

cải cách bên trong một chế độ.

 

 

11. Từ “xóa bỏ tư bản” đến “sử dụng tư bản”

 

Đây cũng là một nghịch lư rất đáng chú ư.

 

Marx nh́n chủ nghĩa tư bản như một hệ thống lịch sử có mâu thuẫn nội tại và bị thay thế bởi một h́nh thức sản xuất cao hơn.

 

Nhưng lịch sử thế kỷ XX lại cho thấy một điều khác:

Những quốc gia cộng sản sống sót lâu dài thường phải điều chỉnh quan hệ với thị trường, tiền tệ, tư nhân, đầu tư và lợi nhuận.

 

Trung Quốc sau Mao là một ví dụ rất rơ.

 

Việt Nam sau Đổi Mới cũng là một ví dụ.

 

Như vậy, lịch sử đặt ra một câu hỏi:

Nếu kinh tế thị trường từng bị xem là nền tảng của chủ nghĩa tư bản bóc lột, tại sao những nhà nước cộng sản về sau lại phải sử dụng chính cơ chế thị trường để phát triển sản xuất?

 

Câu hỏi ấy không có nghĩa rằng chủ nghĩa tư bản hoàn toàn đúng.

 

Nó chỉ cho thấy rằng một nền kinh tế không thể vận hành chỉ bằng khẩu hiệu chính trị.

 

Con người vẫn phải sản xuất.

 

Hàng hóa vẫn phải được tạo ra.

 

Nhu cầu vẫn phải được đáp ứng.

 

Nguồn lực vẫn phải được phân bổ.

 

Và động lực sản xuất vẫn phải tồn tại.

 

 

12. Nút thắt cuối cùng của bài VIII

 

Đến đây, chúng ta có thể nh́n thấy một nghịch lư xuyên suốt:

 

Chủ nghĩa tư bản thời kỳ đầu có những h́nh thức bóc lột và bất công nghiêm trọng.

 

→ Các nhà tư tưởng xă hội chủ nghĩa dân chủ t́m cách sửa chữa những bất công ấy.

 

→ Marx đưa ra một lư thuyết chủ nghịa xă hội cộng sản cách mạng dựa trên đấu tranh giai cấp.

 

→ Lenin biến lư luận cách mạng của Marx thành một chiến lược giành chính quyền.

 

→ Đảng tiên phong trở thành trung tâm tổ chức quyền lực.

 

→ Nhà nước cách mạng được xây dựng để bảo vệ cuộc cách mạng.

 

→ Nhưng nhà nước càng mạnh th́ vấn đề kiểm soát quyền lực càng trở nên nghiêm trọng.

 

→ Và khi quyền lực không c̣n bị kiểm soát hữu hiệu, nguy cơ xuất hiện một tầng lớp thống trị mới lại trở thành vấn đề lịch sử.

 

Đây chính là điều mà chúng ta cần tiếp tục theo dơi ở những bài kế tiếp.

 

Không nên vội gọi nó là “tư bản đỏ”.

 

Không nên vội gọi nó là “phong kiến cộng sản”.

 

Nhưng cũng không nên né tránh câu hỏi:

Nếu một cuộc cách mạng được thực hiện để xóa bỏ một giai cấp thống trị, nhưng cuối cùng lại h́nh thành một tầng lớp có đặc quyền, quyền lực và khả năng kiểm soát tài nguyên xă hội, th́ cuộc cách mạng ấy đă giải quyết được bao nhiêu phần của vấn đề mà nó tuyên bố muốn giải quyết?

 

Đó là câu hỏi của lịch sử.

 

Và lịch sử không trả lời bằng khẩu hiệu. Lịch sử trả lời bằng kết quả.

 

 

Kết luận

 

Bài VIII không nhằm kết luận rằng:

“Marx sai, tư bản đúng.”

 

Cũng không nhằm kết luận ngược lại.

 

Điều chúng ta thấy rơ hơn là:

Một lư tưởng có thể bắt đầu từ một vấn đề có thật, nhưng giải pháp cho vấn đề ấy chưa chắc đă tạo ra kết quả như người đề xuất mong muốn.

 

Những bất công của chủ nghĩa tư bản thời kỳ đầu là có thật.

 

Những đau khổ của người lao động là có thật.

 

Khát vọng b́nh đẳng cũng là có thật.

 

Nhưng từ một khát vọng chính đáng đi tới một mô h́nh chính trị cụ thể là một chặng đường rất dài.

 

Và trên chặng đường ấy, quyền lực trở thành một biến số mà không một lư thuyết chính trị nào có thể coi nhẹ.

 

Marx từng h́nh dung một xă hội trong đó nhà nước cuối cùng sẽ tiêu vong. Lenin cũng nhắc lại và phát triển ư tưởng ấy.

 

Nhưng lịch sử Liên Xô và các chế độ cộng sản thế kỷ XX lại cho chúng ta một câu hỏi ngược:

Vâng. Góp ư này rất quan trọng, và thậm chí nên trở thành một tiểu mục chính của Bài IX hoặc một cầu nối sang Bài X.

 

Nếu mục tiêu của loạt bài là giúp độc giả hiểu cơ chế tư tưởng và chính trị, chứ không phải đổi một định kiến này bằng một định kiến khác, th́ cần tách những khái niệm thường bị gom chung thành một chữ “xă hội chủ nghĩa” thành các chủ nghĩa xă hội dân chủ có trước Marx và chủ nghĩa xă hội vô thần doc76 tài cộng sản đấu tranh giai cấp của Marx-Lênin-Stalin./-

 

 

Nguyễn Xuân Tùng

Diễn Đàn Kitô-hữu

21-09-2026

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính