Ôn Cố Tri Tân:

Cải cách Tiếng Việt và mưu định của đảng Cộng-sản Việt Nam

 

Nguyễn Việt Lân

 

 

Nhân dịp khai giảng niên học mới 2018-2019, một phương pháp dậy Việt Ngữ (quốc ngữ) mới cho các bé lớp 1 được áp dụng trên hầu hết các tỉnh/thành phố.  Điều đáng lưu ư là không có một văn bản pháp lư chính thức nào của chính quyền cộng sản (CQCS) về việc áp dụng này. Phương pháp này đă gây xôn xao dữ dội trong dân chúng. Thế nhưng CQCS chỉ lên tiếng sau khi có những phản ứng mạnh mẽ của các bậc phụ huynh và đảng Cộng Sản (ĐCS) th́ hoàn toàn yên lặng.  “Lạ”.

 

Phương pháp này do ông Hồ Ngọc Đại đưa ra với tư cách cá nhân.  Dù là con rể của tổng bí thư Lê Duẩn và là một giáo sư tiến sĩ, việc áp dụng phổ quát của phương pháp này mà không có nghị quyết của ĐCS và văn bản pháp lư của CQCS là một điều hết sức “lạ” trong chế độ chuyên chính vô sản (độc tài cộng sản).

 

Trước đó không lâu, một giáo sư phó tiến sĩ được đào tạo tại Tầu (Trung “Cuốc”), cũng với tư cách cá nhân - ông Bùi Hiển – đă công bố một sự cải cách chữ viết và cách phát âm cho Việt Ngữ.  Sự cải cách và phương pháp dậy Việt Ngữ của hai ông đă khiến cho người Việt trong và ngoài nước giận dữ và phản đối mạnh mẽ. Đă có vô số các bài viết và video clip bàn luận, phân tích, chỉ trích hoặc bênh vực sự cải cách và phương pháp này. Nhưng cần ghi nhận là những ư-kiến bênh vực và ủng hộ rất ít ỏi.

 

Bài viết này không nhằm vào việc phân tích đúng sai, nhưng là để t́m hiểu ư định của ĐCSVN qua việc đă lặng lẽ cho phép (nếu không muốn nói là chỉ thị ngầm) việc làm của hai ông Hiển-Đại. 

 

Để có thể dự đoán và hiểu rơ các mưu mô thâm hiểm của ĐCS và CQCSVN trong trong việc đánh phá Việt Ngữ, chúng ta cần nh́n lại các công việc CSVN đă làm qua tiến tŕnh bành trướng và tiếm chiếm quyền lực để cai trị trên đất nước VN.  Bài viết này chỉ điểm qua 2 phong trào tiêu biểu khi CSVN vừa nắm quyền vào thập niên 50 của thế kỷ trước: Cải cách ruộng đất (CCRĐ)/ cải tạo công thương nghiệp (CTCTN) và phong trào Trăm Hoa Đua Nở/Nhân văn Giai phẩm (THĐN/NVGP).  Đă có rất nhiều bài viết, sách báo nói về CCRĐ/CTCTN và THĐN/NVGP.  Nơi đây chỉ nêu lại những ǵ CSVN đă nhắm đến và thu được để thiết lập và củng cố chế độ độc tài CS.

 

CCRĐ nhắm đến việc phá hủy toàn bộ các cơ cấu, định chế xă hội ở nông thôn; mục tiêu THĐN/NVGP/CTCTN là ở thành thị.

 

Đấu tố đă cắt đứt mọi liên hệ giữa người với người trong cùng một gia tộc, một thôn làng.  Mối liên hệ trong gia đ́nh giữa vợ chồng, cha mẹ-con cái, anh-chị-em bị tổn thương nặng nề.  Sự tương thân tương ái giũa những người cùng làng cùng xóm – một nét đẹp truyền thống tuyệt vời của thôn làng VN – bị phá hủy.  Lồng trong đấu tố CCRĐ là phong trào bài phong đả thực, người CS cũng xóa bỏ các phong tục tập quán tốt đẹp; phá hủy các công tŕnh văn hóa-lịch sử như đ́nh chùa, nhà thờ tổ, văn bia để cắt rời người dân ra khỏi lịch sử dân tộc.

 

Đấu tố cũng nhằm loại bỏ và tiêu diệt hoặc làm tê liệt, phá hủy nhân cách của thành phần trí thức xuất thân nông dân, phủ nhận ḷng yêu nước và đóng góp của thành phần điền chủ (dù chỉ sở hữu một mảnh ruộng nhỏ vẫn 'được' gọi là địa chủ).  Vai tṛ và công sức của thành phần này đă không được nghiên cứu (và sẽ không bao giờ được khảo cứu nếu c̣n CQCS), nhưng có những yếu tố khiến ta phải nghĩ rằng giới điền chủ và trí thức (gốc nông dân) đă đóng góp rất nhiều – nếu không muốn nói là quyết định – cho công cuộc kháng chiến chống Pháp đến thành công.  Đây cũng là thành phần (lúc bấy giờ) có ảnh hưởng hoặc đang giữ những cương vị chỉ huy trong guồng máy Việt Minh.  Họ sẽ là sự đe dọa nặng nề cho tiến tŕnh thiết lập nền chuyên chính vô sản hay nói một cách trần trụi là nền độc tài sắt máu cộng sản.

 

CTCTN, tuy mang danh “cải tạo”, thực chất là tiêu diệt giới tư bản công thương nghiệp (được gán cho là bọn tư sản bóc lột) và giới tiểu thương(bị kết tội là bọn không sản xuất, ăn bám trên lưng giới lao động).  Bằng CTCTN, ĐCS cướp đoạt các cơ sở sản xuất, vận chuyển, độc quyền trong phân phối hàng hóa; đẩy những người này về các vùng rừng sâu nước độc, hoang hóa dưới danh nghĩa đi lao động sản xuất nhằm xóa bỏ thành phần công thương trong xă hội.

 

Sau CCRĐ (và hợp tác hóa nông nghiệp) vàCTCTN, ĐCS nghiễm nhiên trở thành ông chủ thực sự của toàn bộ xă hội; nắm toàn quyền sinh sát trong tay.  Cho no được no, bắt đói phải đói.

 

Trăm Hoa đua nở (THĐN) là bẫy rập nhằm tiêu diệt thành phần trí thức,văn nghệ sĩ không đồng ư/chống đối CNCS hoặc đường lối chính sách của CQCS.  THĐN xuất xứ từ Tầu cộng, được CSVN học hỏi và áp dụng tại VN.  Trước hết, phong trào THĐN tạo ra một bầu không khí tự do tư tưởng, khuyến khích trí thức/văn nghệ sĩ tự do bày tỏ tư tưởng qua các bài viết về các lănh vực triết học, luật pháp, văn hóa, xă hội; và qua các tác phẩm văn học.  Khi vườn hoa đang đua nhau khoe sắc(Nhân Văn Giai Phẩm là một thí dụ điển h́nh), ĐCS lập tức dán nhăn “phản động”, “tay sai đế quốc”, “gián điệp” và xua bầy trâu ḅ vào dẫm nát.  Số phận của những người làm vườn ra sao, ngày nay ai cũng biết.

 

Tóm lại, qua việc tiến hành các phong trào CCRĐ/CTCTN và THĐN/NVGP bằng các phương thức khủng bố bạo lực (thể lư và tinh thần) tàn ác và vô luân, ĐCS đă tiêu diệt thành phần tinh hoa của dân tộc, đă gieo vào trí óc và trái tim người dân nỗi sợ hăi khủng khiếp.  Các giá trị đạo đức tiên thiên (nhân nghĩa, lễ mạo, hiếu đễ, trí tuệ, ḷng tin) bị phá hủy nặng nề.  Con người bị phân hóa và tha hóa đến cùng cực.  Giữa con người chỉ c̣n sự sợ hăi, nghi kỵ lẫn nhau.  Mỗi con người chỉ c̣n là một thứ rô-bô-người, đoàn kết máy móc dưới lá cờ và sự chỉ đạo của đảng CS để rồi bị hủy diệt cho ĐCS “vinh quang sống măi”.  ĐCS phải là một vị thần duy nhất, bất diệt trong tâm trí người dân.

 

Trên đây chỉ kê ra – theo thiển ư – hai mục đích chính của CCRĐ/CTCTN và THĐN/NVGP mà CSVN đă đạt được lúc bấy giờ. Ngoài ra c̣n có các biện pháp kinh tế- chính trị- an ninh-văn hóa-xă hội khác như hợp tác xă, ngăn sông cấm chợ, tem phiếu (mà ngày nay CS gọi trớ đi là bao cấp), đoàn ngũ hóa từng thành phần dân chúng, tổ dân phố, độc quyền truyền thông,tuyên truyền dối trá, thay đổi ngôn từ, và cách xử dụng, b́nh bầu, thi đua, kiểm thảo v.v và v.v.  Tất cả nhằm giúp cho CS kiểm soát chặt chẽ từng người dân và đến chính từng các đảng viên CS.

 

Tuy nhiên, có lẽ do hoàn cảnh lịch sử và giá trị vững chắc-sâu thẳm của gia đ́nh,làng xă VN mà CSVN đă không thể đẩy mạnh các biện pháp cực đoan như công xă  nhân dân của CS Tầu ḥng phá bỏ hoàn toàn các định chế xă hội ; nơi mà các gia đ́nh phải quy tụ lại, rồi con cái bị tách ra,nuôi dậy tập thể theo từng độ tuổi; vợ chồng cũng bị tách ra theo từng tổ lao động và chỉ được gặp gỡ theo một thời khóa biểu chặt chẽ.  Mặc dù thất bại, nhưng có lẽ nó đă là nguồn cung cấp nhân lực cho cuộc cách mạng (?) văn hóa là các tiểu tướng hồng vệ binh hung tàn man rợ.

 

Dù chưa đủ, nhưng “Chuyện làng ngày ấy” (của Vơ văn Trực),“ Cái đêm hôm ấy … đêm ǵ?” (của Phùng gia Lộc) và “chuyện kể năm 2000” (của Bùi Ngọc Tấn) cũng giúp chúng ta nh́n được rơ hơn bộ mặt thật của CSVN.  Xin nhớ cho rằng: những chuyện này là do chính người CS, hoặc ít ra là từng làm việc với CS, thuật lại.

 

ĐCSVN đă và sẽ không bao giờ ngừng giấc mơ kiến tạo nên một “ thời đại Hồ Chí Minh” hoàng kim rực rỡ.  Một thời đại mà mọi khía cạnh của đời sống, kinh tế- chính trị- văn hóa (bao gồm cả chữ viết), đều do ĐCS mà có, từ ĐCS mà ra.   ĐCS sẽ là một vị thần toàn năng, vô ngộ, nhân ái; “bác Hồ” là “cha già” của thời đại vô tiền khoáng hậu và vĩnh hằng đó.  Lịch sử được viết lại, khởi đầu với và do ĐCSVN.  Mọi tội ác của CS sẽ biến mất khỏi mọi kư ức.  Mọi công sức, công tŕnh của tiền nhân sẽ và phải bị xóa bỏ.  Nhẹ nhàng ra: Một dân tộc Việt mới, một nước Việt mới với một ngôn ngữ mới sẽ được khai sinh mà cha đẻ là chủ nghĩa cộng sản; mẹ đẻ là ĐCSVN: bà mụ là Hồ chí Minh.  Nặng nề ra: nước Việt sẽ biến mất, dân tộc Việt sẽ ḥa tan vào dân tộc Tầu và giai cấp thống trị ( đảng viên CS) sẽ được thưởng công bằng một chính sách “lưu dụng “ nào đó của Tầu.

 

Ngày nay, CS quốc tế đă tan ră.  Các chế độ CS c̣n sót lại đă không c̣n có một không gian đủ lớn để ẩn náu, một bức màn sắt để giam hăm người dân.  Để có thể tồn tại, CSVN buộc phải mở ra với thế giới tự do.  Cùng với sự mở cửa, độc quyền truyền thông-thông tin bị sứt mẻ. Nhờ các phương tiện truyền thông xă hội (social media: internet, cell-phone, v.v.), người dân đă có thể nhận được các thông tin trung thực, đa dạng và phong phú hơn từ các nguồn khác nhau.  Đcs đă không c̣n bịt mắt, lừa bịp người dân được nữa.  Họ đang dần dần thoát ra khỏi sự kềm tỏa của ĐCS. 

 

Sự tồn vong của ĐCS hệ tại ở chỗ họ có c̣n kiểm soát chặt chẽ được quần chúng hay không.  Các chủ trương khủng bố-bạo lực, vây hăm kinh tế, tù đày dù tàn bạo đến đâu đă không c̣n đủ để khuất phục quần chúng được nữa.  Với các phương tiện truyền thông đại chúng (TV, radio,sách báo) nắm độc quyền trong tay,  CSVN đă dùng lại các mánh lới của thực dân Pháp ngày xưa để ru ngủ, đánh lạc hướng quần chúng, đặc biệt là giới trẻ.  Cứ nh́n sự điên cuồng của các cổ động viên ở các giải bóng đá; sự vô thưởng-vô phạt-vô vị của các chương tŕnh truyền h́nh mang danh văn nghệ-văn hóa, sách truyện “hiện thực XHCN”; sự tràn ngập các loại phim Hàn cùng với sự ái mộ đến rồ dại của đám trẻ đối với tài tử Hàn th́ rơ.

 

Trên đây chỉ kê ra vài thủ đoạn điển h́nh của ĐCS nhằm làm cho dân chúng rời xa, hờ hững tới những vấn nạn của quốc gia, dân tộc và xă hội.  Thế nhưng đây cũng chỉ là các biện pháp tạm thời. Nếu thực dân Pháp đă không thể đàn áp-tiêu diệt được khát vọng độc lập của dân Việt th́ ĐCS cũng không thể tước bỏ được khát vọng tự do và nhân quyền của người dân Việt.  Các tiếng nói đ̣i hỏi tự do,dân chủ và nhân quyền-nhân phẩm đă được cất lên, dù ít ỏi nhưng vang xa và được sự đồng t́nh, ủng hộ của khối quần chúng thầm lặng, của các quốc gia tự do và các tổ chức nhân quyền trên thế giới.  ĐCSVN nhận ra được điều này và cũng nhận ra là đă lơ là lănh vực giáo dục. 

 

Giáo dục là chiến lược cốt lơi, định đoạt sự tồn vong của một quốc gia, một dân tộc, một xă hội.  Dù chủ trương vô thần-duy vật, người cộng sản vẫn phải muối mặt để nói rằng “ muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xă hội cần phải có con người xă hội chủ nghĩa”.  Ngay từ những ngày đầu nắm được quyền lực, CS rất chú trọng đến việc đào tạo ra những người trẻ CS.  “ Hồng hơn chuyên”.

 

Khi buộc phải mở cửa ra với thế giới tự do-tư bản, để tồn tại CS phải tạo ra giai cấp thượng lưu tư bản đỏ từ các đảng viên cao cấp, giai cấp trung lưu đỏ từ các đảng viên trung cấp trở xuống.  Đây là những thành phần tuyệt đối trung thành để bảo vệ CĐCS v́ quyền lợi và tài sản của họ là nhờ ĐCS mà có và gắn liền với sự tồn vong của ĐCS.  Họ sẵn sàng treo cổ cha mẹ, anh em để bảo vệ đảng.  “C̣n đảng c̣n ḿnh”.

 

Trong tiến tŕnh tích lũy tư bản cho các đảng viên bằng các thủ đoạn bẩn thỉu, xâu xé tài nguyên quốc gia, bóc lột và buôn bán người lao động v.v., ĐCS đă xao lăng giáo dục.  Các phương pháp và phương tiện giáo dục cũ đă mất hiệu quả do tiếp xúc với Miền Nam, do phải mở cửa với thế giới tự do.  Càng ngày càng có nhiều người trẻ có khuynh hướng độc lập hơn trong suy nghĩ đối với các vấn đề quốc gia- xă hội, ư thức hơn về các quyền tự do tiên thiên của con người, không c̣n chấp nhận độc quyền tư tưởng của ĐCS nữa.  ĐCS nhận ra sai lầm và đây là lúc họ sửa sai.  Họ sửa sai như thế nào? Bước khởi đầu là ǵ?

 

Mỗi một phong trào, một biến cố do ĐCS tạo ra luôn có theo nó là một rừng các khẩu hiệu rổn rảng, hào nhoáng để tuyên truyền. Nhưng dưới những khẩu hiệu đó là những âm mưu thâm hiểm, sâu  độc; những biện pháp sắt máu, phi nhân.  Nh́n vào các khẩu hiệu như “ǵn giữ sự trong sáng của tiếng Việt”,  “không c̣n tái mù chữ”, Sẽ “tiết kiệm được 20%  thời gian và giấy bút”, etc., chúng ta dễ dàng nhận ra mục tiêu đầu tiên là xóa bỏ Việt Ngữ và nạn nhân đầu tiên là thế hệ các em bé lần đầu đi học hôm nay.

 

Bài viết này không (và khoan) bàn đến nội dung các bài tập đọc, mục đích của ĐCS và tác hại của chúng đến tâm hồn các bé.  Ngày nay, ĐCS không c̣n có thể áp đặt các chính sách, chủ trương,đường lối của đảng lên dân chúng bằng họng súng được nữa.  Họ dùng những phương cách âm thầm, nhẹ nhàng, dấu mặt để rồi một buổi sáng nào đó khi bừng con mắt dậy, người Việt thấy ḿnh bâng khuâng tự hỏi “ tôi là ai?”.

 

Ngôn ngữ vừa là một khí cụ không thể thay thế được để giữ cho gịng lịch sử của quốc gia và dân tộc được liên tục, văn hóa và truyền thống được ghi nhận, ǵn giữ, bảo vệ và triển nở từ thế hệ này sang thế hệ kế tiếp; vừa là thành phần không thể thiếu được của lịch sử, văn hóa của dân tộc.

 

Việc làm của hai ông Hiển-Đại, dù với tư cách cá nhân và riêng rẽ, có vẻ như là một sự phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ đánh thẳng vào ngôn ngữ Việt; làm biến dạng, thay đổi và cắt đứt sự đồng hành liên tục của ngôn ngữ Việt hiện nay với dân tộc trên gịng chảy của lịch sử.  Có nghĩa là các thế hệ từ các bé lớp 1 hôm nay sẽ dần dần không c̣n được liên kết với quá khứ của dân tộc. Các tác phẩm văn học, ghi chép lịch sử-địa lư-phong hóa trở  nên xa lạ. Ca dao, tục ngữ, tiếng hát câu ḥ dần rơi rụng.  Cuối cùng một dân tộc Việt “lạ” được h́nh thành.

 

Ông Bùi Hiển khởi đầu với việc làm biến dạng, cắt cụt chữ viết; dồn một số âm vào một mẫu tự, thay đổi âm gốc của một số mẫu tự làm mất đi sự tinh tế của tiếng Việt, làm cho việc viết sai chính tả là “chuyện thường ngày xảy ra ở huyện”.  Ngôn ngữ Việt trở thành một mớ hổ lốn, lộn xộn, nghèo nàn,quặt quẹo. Đây là sự “bần cùng hóa” ngôn ngữ Việt. Người Việt buộc phải t́m đến một ngôn ngữ khác v́ ngôn ngữ Việt không c̣n có khả năng để giao tiếp, diễn đạt tư tưởng.  Ngôn ngữ nào? Đây là phần hành của ông Đại.

 

Chữ Tầu khởi đi từ những h́nh vẽ các sự vật, mỗi h́nh vẽ tương ứng với một tiếng. Do nhu cầu phát triển, chữ Tầu được giản lược lại thành kư hiệu gồm một hoặc nhiều nét để dễ dàng kết hợp với nhau thành một chữ mới để chỉ vật thể (cụ thể) hay một ư tưởng (trừu tượng).  Chữ Tầu ngày nay chỉ c̣n là tổ hợp các nét trong ô vuông nhưng vẫn được gọi là chữ tượng h́nh là do nguồn gốc. Cứ nh́n sách tập viết chữ tầu của các học sinh Tầu th́ rơ.  Để có thể đọc được tất cả chữ Tầu, người ta cần phải biết và nhớ tất cả chữ Tầu. 

 

Bằng việc đánh tráo, gây lẫn lộn các khái niệm (tên và âm của mẫu tự, h́nh và nét, h́nh vẽ và kư hiệu, v.v.) ông Đại đă chuyển hướng Việt Ngữ từ tượng âm sang tượng h́nh khi liên kết mỗi ngữ âm (âm đọc của một chữ, thí dụ như chữ “tủ”) với một h́nh (vuông, tṛn, tam giác).  Các bé lớp 1, ngay bài học đầu tiên, được dậy thuộc ḷng một câu văn bằng cách lập đi lập lại lời đọc của giáo viên trong khi giáo viên chỉ vào từng chữ.  Sau đó, khi các bé tự đọc (thuộc ḷng) th́ giáo viên chỉ vào các h́nh (vuông, tṛn, tam giác, v.v.).  Đây là bước đầu gây ư thức mỗi chữ là một tổ hợp các nét (h́nh), phủ định tính chất tượng âm của Việt Ngữ. Mặc dù sau đó, các bé vẫn được dậy đánh vần, nhưng các nét (mẫu tự) vẫn được đặt vào các ô vuông.

 

Dù ông Bùi Hiển là người nổ phát súng đầu tiên tấn công Việt Ngữ, nhưng ông Đại đă chuẩn bị để hợp đồng tác chiến với ông Hiển từ rất lâu trước đó. Phương pháp dậy tiếng Việt của ô. Đại đă được áp dụng rải rác (nằm vùng?), đặc biệt tại các tỉnh miền núi trên các dân tộc thiểu số, các vùng nông thôn ít người (dùng nông thôn bao vây thành thị?). Ô. Hiển tŕnh làng Việt Ngữ cải cách dù chưa hoàn thiện (do vội vă v́ đă đến lúc phải “tiến công”?) là chuẩn bị “vật liệu/đạn dược” cho phương pháp của ô. Đại.  Sự thất bại của ô. Hiển không ngăn cản được việc áp dụng rộng răi phương pháp của ô. Đại v́ phương pháp này vẫn có thể xử dụng “đạn địch đánh địch”. Sự “ thất trận” của ô. Hiển chỉ kéo dài cuộc chiến  “đánh cho tiếng Việt cút, đánh cho chữ Việt nhào”.  Hai ông (hay ĐCS) nhất định tiêu diệt ngôn ngữ Việt cho dù có phải “đốt sạch dăy Trường Sơn”(mà rừng có c̣n lại được mấy nả đâu mà đốt!) v́ c̣n ngôn ngữ Việt th́ c̣n tâm hồn Việt; c̣n Ngôn ngữ Việt th́ không ai có thể xóa bỏ, chiếm được, thống trị được tâm hồn-dân tộc- đất nước Việt.

 

Cũng cần nói qua về tiến tŕnh h́nh thành Việt Ngữ để làm sáng tỏ câu hỏi tại sao Việt Ngữ đă không cắt rời gịng lịch sử, truyền thống, văn hóa Việt thành hai giai đoạn cách biệt. Không những thế, Việt Ngữ c̣n là một khí cụ sắc bén để phát triển.  Sự kém cỏi, lạc hậu, nghèo đói của dân ta hôm nay không do Việt Ngữ nhưng do sự ngu dốt, cuồng tín mà lại kiêu ngạo,hănh tiến của tầng lớp lănh đạo CS.

 

Khoảng 400 năm trước, khi các nhà truyền giáo Công Giáo đến Việt Nam để giảng đạo, có thể nói là dân Việt chưa có một hệ thống chữ viết cho riêng ḿnh.  Chữ Tầu, dù là văn tự chính thức, được đọc theo kiểu VN, hiểu theo kiểu Tầu, phải dịch ra nghĩa Việt bằng lời nói cho dân chúng.  Chữ Nôm (một nỗ lực để tự chủ, độc lập hầu thoát khỏi ảnh hưởng Tầu của người Việt) dùng chữ Tầu làm “vật liệu”, chưa được hoàn chỉnh và c̣n rối rắm hơn cả chữ Tầu.  Chỉ có giới quan lại, sĩ phu(trí thức) rành rẽ 2 loại chữ này.  Văn hóa, truyền thống Việt được bảo tồn,phát triển và lưu truyền phần lớn là qua truyền khẩu (ca dao,tục ngữ, cổ tích), qua truyền thống của gia đ́nh-gia tộc, qua đời sống thôn làng giữa lũy tre xanh.

 

Để rao giảng giáo lư Công Giáo cho dân Việt, các vị thừa sai cần phải biết nói tiếng Việt.  Cả hai loại chữ Tầu/Nôm đều không thích hợp để học nói tiếng Việt và cũng không là phương tiện có thể dùng để giao tiếp với dân chúng mà hầu hết thuộc tầng lớp b́nh dân lao động, không biết chữ Nôm cũng như chữ Tầu.

 

Phần lớn các vị thừa sai đầu tiên là người Bồ Đào Nha, ngoài ra là người Tây Ban Nha, Ư, Pháp.  Họ dùng mẫu tự latin và các dấu có trong ngôn ngữ của họ để lập ra một hệ thống kư âm tiếng Việt để giúp họ có thể học nói tiếng Việt dễ dàng hơn.  Hệ thống kư âm đơn giản này (chỉ có 24 chữ cái và một số dấu) đă có thể “ghi” lại tất cả tiếng Việt.  Vô t́nh hệ thống này có ưu điểm là gạt bỏ sự rối rắm của chữ Nôm, sự trung gian của chữ Tầu giữa ngôn (tiếng Việt) và ngữ(chữ Nôm) trong đời sống hằng ngày.  Theo thời gian,các vị thừa sai  cùng với sự trợ giúp của một số người Việt có học đă làm cho hệ thống kư âm này ngày càng hoàn thiện để trở thành chữ viết mà ngày nay chúng ta gọi là quốc ngữ (hoặc Việt Ngữ). 

 

Có lẽ mục đích ban đầu của các nhà truyền giáo Công Giáo là tạo ra một khí cụ để các vị có thể học nói tiếng Việt dễ dàng hơn. Các vị thừa sai đă không ngờ rằng các vị đă gieo vào mảnh đất trống mầu mỡ, đang khao khát có một thứ chữ viết cho riêng ḿnh là dân tộc Việt một hạt giống văn tự mới.

 

Lúc đầu, Việt Ngữ sơ khai (nếu có thể gọi được như vậy) có lẽ chỉ được dùng trong cộng đồng người Việt công giáo để ghi chép các tài liệu tôn giáo, thư từ liên lạc, ghi chép các sự kiện và các sinh hoạt của đời sống. Và mặc dù giáo dân Công Giáo bị bách hại, thứ chữ của “ tả đạo” này vẫn vượt ra khỏi các cộng đồng Công Giáo, lan tỏa ra toàn dân Việt để rồi sau gần 300 năm cải thiện và phát triển đă được thừa nhận bằng một sắc lệnh của vua Thành Thái cho đưa vào chương tŕnh giáo dục.

 

Trong suốt gần 300 năm đó, nhiều trước tác bằng chữ Tầu của người Việt đă được dịch ra Việt Ngữ; các tác phẩm chữ Nôm được viết lại bằng Việt Ngữ. Ai đă làm các công việc đó? Chúng ta (ít là người viết bài này) không biết, chúng ta tri ân những con người (vô danh) đó v́ nhờ việc làm của họ mà lịch sử-văn hóa-truyền thống dân tộc được lưu giữ, phát triển và liên tục; mà chúng ta có được một hệ thống chữ viết hoàn bị, đơn giản, dễ nhớ,dễ học và dễ đọc hôm nay.  Nếu Việt Ngữ có những vấn nạn, giới hạn th́ những vấn nạn-giới hạn này nằm ở các khía cạnh khác chứ không ở nơi cách đọc, cách viết và chữ viết.

 

Chúng ta cũng cần phải tri ân các vị thừa sai Công Giáo, cho dù là các vị vô t́nh, đă có công mở đầu, khai phá, và góp phần hoàn thiện Việt Ngữ.

 

Trở lại với việc làm của 2 ông Hiển và Đại.  Để có thể hiểu tại sao 2 ông lại đánh phá Việt Ngữ? Với tư cách cá nhân hay thực hiện ư định của ĐCS? Chúng ta cần xem lại một vài chủ trương của chủ nghĩa cộng sản (CNCS) và nguyên tắc hoạt động của ĐCS.

 

CNCS chủ trương tam vô ( ba không): vô gia đ́nh, vô tổ quốc, vô tôn giáo.  Chủ trương tam vô là hệ quả tất yếu của triết lư duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, một trong những nền tảng của CNCS.  Để có thể làm chủ hoàn toàn - cả hồn lẫn xác - từng mỗi một con người sống dưới CĐCS, ĐCS thông qua nhà nước độc tài cộng sản đă, đang và sẽ t́m đủ mội cách để phá vỡ gia đ́nh (phân hóa con người), hủy bỏ ranh giới quốc gia (để đoàn kết giai cấp vô sản trên toàn thế giới), tiêu diệt tôn giáo (hủy diệt đời sống tâm linh, chỉ c̣n có ĐCS là thần linh duy nhất trong tâm trí con-vật-người). 

 

Từ lúc khởi đầu, trong thời cực thịnh, rồi tan ră và dù hiện nay chỉ c̣n là những mảnh vỡ rơi rớt tại vài quốc gia; ĐCS luôn luôn chủ trương tam vô phi nhân này.  Tất cả chỉ để duy tŕ sự thống trị tàn ác của ĐCS.

 

Trong guồng máy CS, đảng lănh đạo (đề mục tiêu, chiến lược), cá nhân phụ trách (thực hiện chiến thuật).  Xét về tuổi tác, thân thế, bằng cấp, chức vụ; 2 ông hẳn phải là đảng viên CS; v́ vậy việc làm của 2 ông – dù là với tư cách cá nhân – cũng cần phải đánh dấu hỏi.  Liệu ĐCS có đứng sau 2 ông hay không để tạo ra những thế hệ người Việt tương lai chỉ c̣n biết có “cha-già-dân-tộc” và các “kỳ công” của đảng?  Hoặc ĐCSVN đang tiến hành những bước cần thiết để dân Việt trở thành một thứ Tầu Việt như Tầu Quảng Đông Quảng Tây?  Câu nói của kẻ bán nước Nguyễn văn Linh – tổng bí thư của ĐCSVN – cần phải được nhắc lại: “ Tôi cũng biết rằng, dựa vào Trung Quốc sẽ mất nước, nhưng mất nước c̣n hơn mất đảng”.  ĐCSVN, qua Nguyễn văn Linh, hoàn toàn ư thức việc bán nước của họ.

 

CS  luôn lải nhải “con người là vốn quư”.  Hôm nay, trong khi đang say sưa hối hả vơ vét tiền bạc của cải, CSVN giật ḿnh hoảng sợ khi thấy “đám quần chúng ngu dốt, không biết ǵ” đang dần tuột ra khỏi tầm kiểm soát.  CSVN thấy cần phải đặt lại chiến lược giáo dục lên hàng đầu.  Hai chữ “công nghệ” của phương pháp giáo dục mới do ông Đại khởi xướng – mà thực ra là khí cụ của CS – cho thấy CS muốn tạo ra những “con người mới XHCN” bằng một quy tŕnh như quy tŕnh công nghệ sản xuất các sản phẩm đồng nhất, giống hệt nhau với các phẩm chất đă được quy định như trong kỹ nghệ.  Để được như vậy, CS phải tách con cái ra khỏi cha mẹ, ngay khi những đứa bé c̣n thơ.

 

Hệ thống chữ viết và phương pháp giáo dục của 2 ông Hiển-Đại đă khiến cho phụ huynh học sinh trở thành mù chữ thất học.  Các bậc phụ huynh không c̣n có thể theo dơi và giúp con em ḿnh trong những bước chập chững đầu tiên trên con đường học vấn.  Con em họ dần dần bị tách ra khỏi cha anh, hoàn toàn được giáo dục bởi phương pháp CS. Các bé sẽ không được và không thể tiếp nhận di sản của tiền nhân để lại.  Khi trưởng thành, thế hệ các bé chỉ c̣n thấy các “công tŕnh” của ĐCS.  Thế hệ này và các thế hệ kế tiếp sẽ trở nên vong bản, chỉ c̣n biết có ĐCS anh minh và trở thành những binh lính sẵn sàng xả thân để bảo vệ ĐCS.

 

Trong cơn say quyền lực, chói mắt v́ hào quang của giới thống trị; các ông bà Bùi Hiển-Đoàn Hương-Hồ ngọc Đại đă vô t́nh hé lộ các mưu mô thâm độc của ĐCSVN cũng như vai tṛ của họ khi có những lời lẽ kiêu căng, ngạo mạn và khinh miệt quần chúng.  Chính ông Đại đă xác nhận chủ trương tách rời cha mẹ ra khỏi con cái khi nói rằng cha mẹ biết ǵ mà can dự vào việc học của con; rằng đứa trẻ ở nhà là của cha mẹ, đến trường là của thầy giáo; và khi thuật lại lần ông làm nhục một người mẹ trước mặt đứa con.

 

Với những suy tư trên đây, thật khó để nói rằng việc làm của các ông Hiển-Đại chỉ là do cuồng vọng hănh tiến cá nhân.  Chính ĐCSVN chủ mưu, đứng trong bóng tối để ra lệnh, chỉ đạo và cung cấp phương tiện để 2 ông triệt hạ Việt Ngữ.

 

T́nh h́nh thế giới và Việt Nam hiện nay không cho phép chúng ta – những người Việt trong và ngoài nước – có cái nh́n lạc quan về tương lai quốc gia-dân tộc.  Ngược lại, có những dấu chỉ cho thấy một tương lai mù mịt trước mắt: Việt Nam có thể bị xóa tên trên bản đồ thế giới, Việt tộc một lần nữa lại có thể bị giặc Tầu nô thuộc. Nếu điều bi thảm này thực sự xảy ra, chúng ta sẽ không tuyệt vọng v́ chúng ta có một vũ khí tuyệt hảo là Ngôn-Ngữ-Việt để bảo vệ và duy tŕ Tâm-Hồn-Việt.  Ngày nào Tâm-Hồn-Việt c̣n tồn tại, ngày đó chúng ta c̣n hy vọng vào sự tái sinh rực rỡ từ tro tàn của Việt Tộc.  V́ vậy chúng ta phải đồng tâm hiệp lực chống lại và triệt tiêu mọi mưu toan, thủ đoạn của những người cộng sản vong bản nhằm phá hủy và tiêu diệt Ngôn-Ngữ-Việt.

 

 

Nguyễn Việt Lân

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính