Tham vọng viết lại lịch sử Việt Nam: Trường hợp Thụy Khuê

(Phần 3)

 

Nguyễn Văn Lục

 

 

Phải thú thực là tôi rất mệt mỏi khi đọc tập tài liệu này. Viết xong được một vài cảm tưởng khi đọc xong tập liệu tôi coi như một giải thoát.

 

Nh́n lại sử Việt | Tham vọng viết lại lịch sử Việt Nam: Trường hợp Thụy Khuê (3)

 

(Tiếp theo phần 1, 2)

 

 

Khi đọc tập tài liệu Khảo sát công trạng của những người Pháp giúp vua Gia Long với một giọng văn chắc nịch, mang tính tố cáo và áp đặt của tác giả Thuỵ Khuê, tôi thấy cần phải nh́n lại một số vấn đề liên quan đến tác giả.

 

Trước khi đi vào chi tiết, xin lược qua hành tŕnh bốn năm của Bá Đa Lộc-Hoàng tử Cảnh sang cầu viện Louis XVI.

 

Thỏa ước Versaillles đă được kư kết giữa Giám mục Adran và đại diện của Louis XVI với một hậu ư xấu về phía người Pháp. Trong “Mgr Pigneau de Béhaine, Évêque d’Adran”, Alexis Faure viết:

“Il se rencontre quelquefois, dans notre histoire, des traités qu’on n’a pas éxécutés, parce que les circonstances politiques, des obstacles inopinés, des éventualités redoutables s’y opposaient; mais on n’a peut être pas encore vu un gouvernement prendre des engagements fermes, montrer apparemmment des dispositions pour mettre sa conduite en concordance avec ses engagements, tandis que, dans le même temps, dans le secret de son conseil, Il s’ingéniait à détruire son oeuvre de ses propres mains, et sans aucun incident de quelque importance eut surgi et fut suscepptible d’en modifier la marche. C’est si anormal, tellement contraire à la vieille loyauté Francaise qu’il faut des preuves bien certains, bien convaincantes, bien patientes pour y croire.”(21)

 

“Trong lịch sử dân tộc chúng ta, có thể đôi lần có những thỏa ước đă được kư kết mà đă không được thi hành, bởi v́ do những hoàn cảnh chính trị, những trở ngại bất ngờ, những t́nh huống bất trắc đáng sợ chống lại việc thi hành thỏa ước. Nhưng có thể người ta chưa bao giờ thấy một chính quyền đă có giao ước chắc chắn mà bề ngoài vẫn làm ra vẻ tuân thủ những giao ước đă được kư kết, nhưng đồng thời trong hội đồng nội các họp kín, họ lại t́m cách phá hủy tất cả những cam kết do chính tay họ kư kết mặc dầu không có một việc ǵ xẩy ra quan trọng đến nỗi cần phải thay đổi công việc đang tiến hành. Thật là quá bất thường đến nỗi nó đi ngược lại truyền thống vốn trung thành của người Pháp mà phải có đầy đủ bằng cớ có tính thuyết phục, bằng cớ chứng thực mới có thể tin một điều như thế đă xẩy ra.”

 

 

Việc kư kết giữa Bá Đa Lộc, đại diện cho Việt Nam, và Bá tước De Montmorin, đại diện cho vua Louis XVI, văn kiện ngoại giao đầu tiên tại pḥng Hiệp định của Bộ ngoại giao nay là thư viện Versailles (Văn kiện kư ngày 28/11/1787).

 

Nhưng chỉ 5 ngày sau, ngày 2/12/1787, bộ Ngoại giao Pháp đă dấu không cho vị giám mục hay và gửi một văn thư chỉ thị mật cho bá tước De Conway, Tư lệnh quân đội Pháp, tại Ấn Độ, bảo ông ta phải dựa vào hoàn cảnh thực tiễn mà tiến hành, hoặc hoăn lại cuộc viễn chinh.(22)

 

Giám mục Bá Đa Lộc lên tầu quay trở lại Pondicherry với hai bàn tay trắng mà không biết những âm mưu bên trong.

 

Viết về điều này, Tạ Chí Đại Trường chỉ viết một câu như sau:

“Cho nên Bá Đa Lộc đi rồi, viên Trưởng văn pḥng Bộ Thuộc Địa mới bảo ‘do lệnh vua’, cho De Conway hay rằng, ‘Không tính tới chuyện viễn chinh Đông Dương’.”(23)

 

Những giấc mơ và tính toán của Bá Đa Lộc phải chăng không phù hợp với những lợi ích mà nước Pháp có thể nh́n thấy và việc đầu tư vào đó những số tiền khổng lồ từ 600 ngàn quan đến 1.000.000 quan Pháp mà không đem lại một bảo đảm nào?

 

Và cũng theo ông Nguyễn Xuân Thọ, Bá Đa Lộc đă không chịu thua và quyết tâm làm cuộc ‘cách mạng Nam Kỳ’ một ḿnh. Tôi vẫn chưa nắm được chữ cách mạng Nam Kỳ là cách mạng kiểu ǵ? Ông đă tập trung được một đội viễn chinh 300 người do sĩ quan Pháp chỉ huy và đổ bộ lên cửa sông Saigon vào tháng 7, 1789.(24) Cửa sông Sài g̣n được hiểu là Vũng Tàu. Con số 300 người cũng là những con số cần được xem xét lại.

 

Nh́n lại sự thất bại của chuyến đi cầu viện của Bá Đa Lộc, chúng ta có thể rút ra khá nhiều bài học:

– Bài học thứ nhất là v́ thỏa ước kư kết đă không được thi hành nên sau này Gia Long thống nhất được đất nước đă không bị cái tiếng là mở đường cho người Pháp vào Việt Nam. Mặc dầu vậy cái tiếng ‘cơng rắn cắn gà nhà’ ấy vẫn c̣n và có thể chẳng bao giờ được rửa sạch! Gớm thay cho tiếng đời và bia miệng!

 

– Bài học thứ hai là ngay vào thời điểm này, Louis XVI và đại diện cho nước Pháp chưa có ư định rơ rệt về việc xâm chiếm thuộc địa. Điều này nó giúp khẳng định một lần nữa là khi nào có điều kiện khách quan chín mùi th́ việc xâm lăngViệt Nam biến thành thuộc địa sẽ xẩy ra như đă xẩy ra, dù muốn hay không muốn có cũng không được, không cần biết vua quan nhà Nguyễn có cấm đạo hay không cấm đạo. Thật vậy, cuộc cách mạng Pháp xẩy ra sau đó, chẳng những xóa tan chế độ phong kiến mà c̣n quét sạch hệ thống tăng lữ, tách thần quyền ra khỏi thế quyền. Con số hàng hơn chục ngàn người bị treo cổ hoặc lên máy chém hẳn có giới tăng lữ cao cấp? Hội thừa sai Ba Lê lúc bấy giờ sợ bị họa lây đă phải dọn cơ sở sang Anh.

 

Thế nhưng gần như ở Việt Nam, chính quyền thực dân Pháp vẫn có thể nhân danh những lư tưởng tự do tôn giáo để nhảy vào can thiệp ở Việt Nam.

 

– Bài học thứ ba cho thấy, mặc dù không có sự trợ giúp trực tiếp của quân đội Pháp mà theo thỏa thuận, nước Pháp có nhiệm vụ cung cấp 1500 lính với đầy đủ quân cụ cùng với tầu chiến cũng như một số tầu bè cần thiết để chuyên chở số quân ấy, đồng thời chở trọng pháo cùng tất cả mọi thứ ǵ cần thiết cho cuộc viễn chinh. Nay hoàn toàn không có bất cứ thứ ǵ – sĩ quan không, tàu chiến không, trọng pháo cũng không.

 

Bằng cách nào Bá Đa Lộc đă thu phục được người sẵn sàng vào Nam Việt để giúp Nguyễn Ánh?

 

Điều này cần diễn giải kỹ hơn một chút về t́nh h́nh thế giới lúc bấy giờ.

 

Nếu chúng ta tin vào định luật tương đối của thời gian, của con người của lịch sử th́ sự mất c̣n đôi khi chỉ có giá trị nhất thời. Trong sự suy tàn, mục rữa, sự khủng hoảng niềm tin và sức mạnh, sự đề kháng và sức mạnh vươn lên vẫn có thể t́m một lối ra cho con người và cho mỗi quốc gia.

 

Sự bất ngờ như một câu chuyện thần thoại mà nếu Colombo c̣n sống sẽ không bao giờ tin được rằng, ông đă đưa con người đến một vùng đất hứa như trong thánh kinh đă ghi chép.

 

Thật vậy, nh́n về mặt phát triển, chủ nghĩa thực dân đă mở đường cho sự thành lập các nước tân thế giới. Mỹ, Canada, Úc Đại Lợi là mở đường cho cuộc chinh phục toàn cầu mà ở những nơi ấy mỗi cuộc di dân là mỗi bước chân con nguời, đi những bước đi vĩ đại đi khắp địa cầu nhờ vào ba thành phần sau đây:

  • Những nhà thám hiểm. có óc phiêu lưu mạo hiểm

  • Những thương buôn giầu có

  • Và tập đoàn tăng lữ

 

Họ là những con người phi thường mà mẫu số chung của họ là óc phiêu lưu mạo hiểm, không ngại nan nguy, sống chết. Họ đă dám từ bỏ tất cả để đi theo một tiếng gọi ráo riết và thúc dục họ lên đường.

 

Chữ lên đường là một từ ngữ quá đẹp để chỉ về công việc của họi đă làm.

 

Thật vậy, tôi đă suy nghĩ măi về trường hợp giáo sĩ Đắc Lộ; khi được bề trên của ông chuẩn nhận cho đi truyền giáo, ông đă phủ phục trước mặt bề trên, khóc ṛng và bày tỏ ḷng biết ơn.

 

Họ là những người tiền phong làm thay đổi diện mạo thế giới mà chính họ không bao giờ lường hết được công việc họ đă làm.

 

Ba thành phần trên cũng là những người đă đến Việt Nam với cùng một cung cách như các bậc đàn anh của họ đă làm ở thế kỷ 16. Chỉ có điều nó đă được thu nhỏ lại về mọi mặt. Phải hiểu thấu được điều này mới hiểu ra hết nguồn cơn của phong trào đi t́m thuộc địa.

 

Chế độ thực dân cuối cùng nh́n lại vẫn là cơ may hiếm có đưa nhân loại đến một giấc mơ chẳng những cho những kẻ phiêu lưu chính trị mà c̣n dắt đưa cả môt khối nhân loại nghèo nàn, chậm tiến trở thành con người văn minh tiến bộ.

 

Nghĩ như thế nên tôi coi những thái độ nh́n lịch sử như những công tŕnh khép kín, ẩn núp sau những chủ nghĩa dân tộc sô vanh là một thái độ tự khép kín, bảo thủ, giáo điều và phản tiến bộ!

 

Lối nh́n lịch sử của bà Thụy Khuê kẹt trong sự tù túng, chật hẹp.

 

Tác giả Thụy Khuê cần t́m hiểu điều này một cách kỹ càng thay v́ mất công vạch lá t́m sâu một cách không cần thiết. Hiểu điều này tức là hiểu được cái đà lịch sử cũng như cán cân quyền lực nghiêng về phía nào.

 

Phải chăng chính yếu tố kỹ thuật, văn minh Tây phương, nói rơ ra là tầu đồng, thành lũy, súng đại bác đă đánh tan đạo quân của Tây Sơn – đă một thời đánh tan đạo quân Thanh thuở nào.

 

Tây Sơn không thua Nguyễn Ánh và không thể thua dễ dàng được! Tây Sơn nếu có thua là thua kỹ thuật của Tây phương nhờ Bá Đa Lộc mà có.

 

Bà Thụy Khuê chưa hiểu được điều này nên cứ cố t́nh làm nhẹ vai tṛ của hơn chục người lính đánh thuê giúp Nguyễn Ánh.

 

Ở chỗ khác bà đă đặt ra một câu hỏi như sau:

“Cho tới nay. V́ thiếu sự giải thích minh bạch, chúng ta không hiểu tại sao Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu lại có thể thua trận một cách dễ dàng như thế trước hai kẻ giang hồ như Francis Garnier và Henri Rivière? Đây không phải là lần đầu tiên quân Pháp dùng những thủ đoạn lừa gạt để tấn công.”(25)

 

Bà không nên miệt thị những tên lính đánh thuê ấy bởi v́ chính chúng chứ không ai khác đă làm nên chuyện lớn. Những Lebrun, De Forcanz, Chaigneau, Vannier, Dayot và nhất là Olivier Puymanel [Nguyễn Văn Tín] đều là những kẻ tài giỏi. Những chê bai như Lebrun là kẻ đào ngũ, binh nh́, v.v. phỏng lư luận được ǵ?

 

Nhưng nếu sau này họ được phong quan chức là do công trạng của họ mà nhà vua ban thưởng.

 

“Hoàng thượng xét thấy tài năng của Théodore Lebrun, quốc tịch Pháp, với bằng văn này, ban cho y chức Khâm sai cai đội thanh oai hầu, quản chiếu việc công thự (bản tiếng Pháp dịch là capitaine ingénieur; v́ thế, Hoàng thượng giao cho y coi sóc tất cả những đồn lũy trong nước; và lệnh cho y phải t́m mọi cách để có được sự bảo đảm an toàn cho những thành tŕ này. Nếu v́ bất cẩn, y không làm trọn nhiệm vụ, th́ sẽ bị trừng phạt theo luật pháp.” (26)

 

Bà Thụy Khuê đưa ra lời b́nh luận như sau: Qua văn bằng này, ta thấy Lebrun đă tự nhận ḿnh là kỹ sư xây dựng nên mới được vua cho chức Khâm sai Cai đội oai thanh hầu, quản các thành tŕ.

 

Theo tôi, việc một tên đào binh trốn lính khi gặp cơ hội có thể khai là sĩ quan hay ǵ ǵ đi nữa là chuyện của y và nhà vua. Hắn khoe khoang là một chuyện. Nhưng làm được hay không lại là chuyện khác. Và nhà vua đă tin tưởng giao cho một tên đào binh làm Khâm sai cai đội Thanh oai hầu. C̣n lo việc trông coi toàn bộ các thành tŕ.

 

Chúng ta phải đồng ư với nhau là y phải giỏi.

 

Cũng như Dayot được phong là “Khâm sai cai đội quản chiếu tầu nhị chích trí lược hầu”. Nói nôm na là thuyền trưởng hai tầu.

 

Bà c̣n thắc mắc t́m hiểu xem văn bằng của Puymanel, v.v. Thật là chuyện buồn cười!

 

 

Dayot nếu không tài giỏi làm sao vua lại cho y chức Khâm sai cai đội mà những người Pháp khác như Vannier chỉ được là cai đội tầu Đồng Nai, Isle-Sellé, cai đội tầu Le Prince de Cochinchine rồi những Guillon, Guilloux đều là phó cai đội và cả bốn đều dưới quyền của Dayot.

 

Nếu xét theo chức vụ bây giờ th́ Lebrun được coi như tướng Tư lệnh vùng. Dayot phải là Đề đốc hải quân. Những tên đào binh này sau này đều góp phần chiến thắng trong trận hải chiến Thị Nại.

 

Đó là ba tên tuổi là Vannier, Forcanz và Chaigneau.

 

Câu trả lời c̣n trở nên thật rơ ràng hơn khi chính vua quan nhà Nguyễn đời Tự Đức lần này phải đối diện với binh đội Pháp thứ chính quy tại Tourane, tại 6 tỉnh miền Nam, tại Hà Nội.

 

Người ta vẫn chưa nhận thức ra được yếu tố nào binh đội Việt Nam và đằng sau là nhân dân Việt Nam phải cúi đầu trước sức mạnh của quân giặc! Chỉ cần vài trăm quân lính Pháp đủ b́nh định xong Việt Nam, gần như không tốn một viên đạn.

 

Đây là điểm dị biệt giữa bà Thụy Khuê và nhóm người đi theo Bá Đa Lộc.

 

Bà Thụy Khuê t́m mọi cách để hóa giải cuộc chiến thắng này đánh tụt giá mọi đóng góp của Bá Đa Lộc vào trong các công việc như: xây thành lũy như thành Gia Định, thành Diên Khánh đều do người Việt Nam đảm trách. Xây dựng cơ xưởng đúc súng đạn và đóng tàu, cải cách quân sự, huấn luyện, v.v. đều bị bà sổ tuột.

 

Chưa đụng với bọn sĩ quan Pháp chính quy mà mới giao đấu với bọn người mà bà Thụy Khuê khinh miệt gọi là trốn lính, không bằng cấp học vị, cùng lắm chỉ là thứ anh chị, giang hồ thảo khấu. Vậy mà bọn này trong trận thủy chiến Thị Nại, một chiến thắng có tính quyết định.

 

Chúng đă dạy cho những người lính của Tây Sơn đă ba bốn lần theo gió mùa vào Nam, đuổi Nguyễn Ánh chạy có cờ đến không c̣n manh giáp.

 

Và nhất là trong số ấy, nhiều người không thể quên đi niềm tự hào từng ra Bắc chinh phạt đám quân Tôn Sĩ Nghị chạy bán sống bán chết về bên Tàu.

 

Vậy mà chúng – những tên lính đánh thuê – đă làm nên chuyện lớn, chuyện đội đá vá trời! Bà Thụy Khuê làm sao có đủ chứng liệu để phản bác tất cả những thay đổi về mặt quân sự, chiến lược, chiến thuật này không trong mối tương quan giữa một bên là Nguyễn Huệ, bên kia là Nguyễn Ánh?

 

Về những quân nhân người Pháp giúp Gia Long,  K. W. Taylor, trong “A History of Vietnamese”(2014) viết như sau:

 

 

K. W. Taylor, lại thêm một người viết sử theo “sử quan thuộc địa”?

 

Thuỵ Khuê nên đọc thêm, đọc nhiều hơn chút nữa để bớt những nhận xét, những câu hỏi vẩn vơ.

 

Bá Đa Lộc, lính đánh thuê và Nguyễn Ánh

 

Ngày 28 tháng 7 năm 1789, khi giám mục Bá Đa Lộc cùng với hoàng tử Cảnh cặp bến Vũng Tàu.

 

Ông không lẻ loi đi một ḿnh.

 

Trong chuyến đi Pháp, mặc dầu hoàn toàn thất bại, người ta cũng thấy có một số người Pháp cùng đi với ông:

  • J.B. Chaigneau [Nguyễn Văn Thắng], thuyền trưởng tàu Long Phi.

  • De Forcanz, thuyền trưởng tàu Bằng Phi.

  • Philippe Vannier [Nguyễn Văn Chấn], thuyền trưởng tàu Ḅng Thước, sau đó là tàu Đồng Nai và tàu Phụng.

  • Jean-Marie Dayot [Nguyễn Văn Trí], chỉ huy một đội chiến thuyền.

  • Victor Olivier, sĩ quan cơ khí, trông coi tổ chức bộ binh, pháo binh và đồn lũy.

  • Théodore Lebrun, kỹ sư trông coi việc xây thành.

  • Laurent Barisy, trung tá.

  • Julien Girard de L’Isle-Sellé, đại úy hải quân.

  • J.M. Despiaux, ngự y cho chúa Nguyễn.

  • Louis Guillon, trung úy hải quân.

  • Jean Guilloux, trung úy hải quân.(27)

 

Những nhân vật trên sau này đều đóng góp kỹ thuật, kiến thức quân sự giúp Nguyễn Ánh đang từ thế thủ chuyển sang thế công.

 

Không có người nào trong đám này là người thừa cả.

 

Cũng trong phân mục này, xin trích dẫn Tạ Chí Đại Trường. Ông viết lại: Je ferai seul la révolution. Các tay phiêu lưu Tây Phương ở Việt Nam: Vai tṛ, địa vị và ảnh hưởng của họ. Và bằng mấy câu thơ bày tỏ sự vui mầng:

 

Tới nơi bến Nghe gieo neo

Dưới trên buồm cuốn xả lèo răng răng

Đùng đùng súng bắn liên thanh

Chiêng cồng mừng rỡ vang rang dầy dầy

Hai bên tứ diện Đông Tây

Dưới trên thiên hạ dầy dầy đều coi

Mừng tàu rày đă tới nơi

Mừng Thầy lại với Con Người đă sang

 

Và chiếc tàu La Méduse đă cập bến Vũng Tàu ngày 28/7/1789.

 

Và Tạ Chí Đại Trường đă trích câu nói của Bá Đa Lộc nói thẳng vào mặt De Conway.

 

“Một ḿnh tôi cũng đủ làm nên việc đảo lộn.”(28)

 

Họ, những tên lính đánh thuê, từng lớn lên với mộng ước hải hồ cộng óc phiêu lưu, mộng làm giàu trong chốc lát khiến họ có mặt hôm đó, tại bến cảng Vũng Tàu.

 

Họ và Bá Đa Lộc đều có một mẫu số chung: họ mơ ước làm chuyện lớn, mặc dầu chuyện lớn của Bá Đa Lộc chẳng ăn nhập ǵ với bọn người đi theo ông.

 

Trước hết, bà Thụy Khuê đă để công sức đọc và sưu tầm các tài liệu sử như tài liệu sử của Alesix Faure, Barisy, John White, kư sự của Bissachère, John Barrow và cuối cùng ngay cả tài liệu sưu tầm đáng nể của Charles B. Maybon, “Histoire moderne du pays d’Annam” cũng như các công tŕnh sưu tập của cố Cadière.

 

Cadière-Thụy Khuê

 

Riêng trường hợp Cadière đă nhận được một lời phê phán khen có mà chê cũng rất nặng nề:

“Hai vị học giả Pháp có những công tŕnh nghiên cứu văn hóa Việt đáng trọng là Maybon và Cadière; tiếc thay, cũng lại là những người, đă tế nhị và sâu sắc, t́m cách thay thế công lao thống nhất và dựng nước của Gia Long cùng tướng sĩ, quần thần, bằng công trạng của Bá Đa Lộc và những ‘sĩ quan’ Pháp.”(29)

 

Về mặt khách quan mà nói, các sách sử thời ấy rất khó tránh khỏi những sai lầm đủ loại. Có rất nhiều khuyết điểm – nhất là tên người, Tạ Chí Đại Trường đă nhận xét là người Tây Phương rất chú trọng đến ngày tháng minh bạch, nhưng về tên người th́ không cách nào họ viết đúng được.

 

Công nghiên cứu phê phán của bà Thụy Khuê cần được ghi nhận. Tuy nhiên, nhiều chỗ cho thấy bà đă do động lực ngầm, mất tự chủ, bà đă dùng những chữ khá nặng nề, bà đă mạt sát bằng những ngôn từ không thích hợp như “xuyên tạc, bịa đặt, sai lầm tiêu biểu, thủy tổ việc bóp méo lịch sử Pháp-Việt, bôi nhọ Quang Trung, ít học, không quen viết lách, câu cú lôi thôi…” lối viết này thực là ấu trĩ, phô trương và khoác lác.

 

Hầu hết những người trên đều trở thành đối tượng bị Thụy Khuê phê phán quá đáng. Bà viết:

“Thực là kinh hoàng khi ta đọc bài diễn văn trên đây. Khó có thể hiểu tại sao một người có kiến thức sâu rộng, có đạo đức nghề nghiệp của một học giả như linh mục chủ bút tập san Đô Thành Hiếu Cổ lại có thể viết một bài như thế. Chưa cần xét đến đầu óc thực dân, cao ngạo, khinh mạn người Việt, bao trùm lên toàn bài, hăy nói đến những lỗi khổng lồ mà một công tŕnh khoa học không thể có, mà chúng tôi xin lần lượt phân tích từng điểm một, sau đây.”

(Trích Thuỵ Khuê, Ibid., chương 15)

 

Do nguyên động lực nào mà bà đă viết như thế? Thật là kinh hoàng! Viết khác với lối biên khảo quen thuộc của bà khi viết về các đề tài văn học hay triết học! Tại sao có hai thái độ cầm bút như thế trong cùng một con người?

 

Phải chăng có hai Thụy Khuê – một viết văn học và một viết chính trị – tôn giáo?

 

Và đó là công việc mà chúng ta cần t́m hiểu.

 

Viết như thế tôi cho là không công bằng. Viết như thế là có sẵn một chủ đích xấu, một định kiến về các thừa sai hoặc các nhà sử học. Thừa sai sangViệt Nam th́ có nhiều. Cộng chung có thẻ lên đến từ 300 đến 400. Nhưng chỉ có khoảng 30 chục người viết dưới dạng các lá thư gửi về cho bạn bè, gia đ́nh như cha mẹ hoặc những bề trên trực tiếp của họ. Những lá thư này có tính cách cá nhân và không được phổ biến. Sau này được Hội Thừa sai Ba Lê thu tập lại như tài liệu nhân chứng sống một thời trong các tập tài liệu gọi chung là “Lettres Édifiantes et Curieuses: Écrites des Missions Étrangeres” và gồm trên 20 tập.

 

Tôi không hiểu tại sao tập san này đă không được bà Thuỵ Khuê xử dụng và nhắc nhở tới mặc dầu lập trường của các thừa sai là nh́n nhận Nguyễn Ánh như ḍng dơi chính thức và coi Tây Sơn như ‘giặc cướp’.

 

Vậy mà trong văn bản, bà Thụy Khuê luôn luôn dùng một từ chung ghép lại là: Các thừa sai Ba Lê và sĩ quan Pháp. Đây cũng là một dụng ư xấu của Thuỵ Khuê.

 

Tôi cũng đọc những tài liệu như bà Thụy Khuê đă đọc. Nhưng thái độ đọc, cách tiếp nhận các nguồn sử liệu cho phép tôi nghĩ rằng, đọc là một chuyện, thái độ đọc là chuyện khác.

 

V́ thế, khác hẳn với bà Thụy Khuê, tôi đọc họ với một tinh thần cởi mở đón nhận nên đă đọc Alesix Faure với một sự thich thú. Tôi được rất nhiều mà không mất mát ǵ. Tôi cũng thích thú chân thành khi đọc Tạ Chí Đại Trường.

 

Nhất là trong trường hợp Cadière. Có thể nói trước khi được đọc các sử gia Pháp trên th́ người mà tôi có cơ hội đọc trước tiên là Cadière. Bởi v́ lănh sự Pháp ở Việt Nam sau 1975 đă số hóa toàn bộ công tŕnh của BAVH.

 

Chỉ riêng Cadière, ông đă đóng góp 250 bài nghiên cứu, sưu tầm đủ loại về văn minh, văn hóa Việt cũng như triều đ́nh nhà Nguyễn với một tâm t́nh quư mếnViệt Nam như quê hương thứ hai của minh bằng một sự trân trọng hiếm có. Các bài viết ấy bàng bạc một tấm ḷng với Việt Nam.

 

Có thể nói Bá Đa Lộc có công với nhà Nguyễn th́ Cadière có công với sử học, khảo cổ học Việt Nam. Cái công của ông với văn-sử học Việt Nam lớn lắm.

 

Nhưng trong số những bài viết ấy, có 5, 6 bài diễn văn mà nhân danh BAVH ông đă đọc để đón tiếp khách Việt hay Pháp.

 

Đặc biệt là bài diễn văn trước thống chế Joffre khi sang thăm Việt Nam.

 

Đây là một bài diễn văn nên cũng có một số hoa từ, một chút mầu mè, một chút ngôn ngữ ngoại giao mà b́nh thường có thể ông đă không viết như thế. Nhưng cái chính vẫn là những tài liệu trích dẫn từ nhiều nguồn có thể sử dụng được.

 

Để khỏi dài ḍng, tôi xin trích dẫn một số câu do chính bà Thụy Khuê đă lấy ra làm bằng cớ và in chữ đậm.

 

Chẳng hạn:

“Trong số kỷ niệm này, những ǵ đáng quư nhất đối với người Pháp chúng ta là những kỷ niệm nhắc nhở tới những vị sĩ quan Pháp đă đến đây vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, cứu nguy Gia Long và đă giúp ông hoàng này lấy lại được vương quốc.”

 

Trích dẫn Maybon:

“Không thể chối căi được rằng họ đă góp phần rộng lớn vào chiến thắng của Gia Long. Chưa nói đến sự đóng góp của họ vào những chiến công quan trọng như việc tiêu diệt hạm đội Tây Sơn năm 1792, và những cuộc hành quân khác dẫn đến chiến thắng Huế, năm 1801, mà ta không thể không khâm phục óc tổ chức của họ trong những điều kiện không mấy thuận lợi: Họ đă xây dựng một ngành hải quân theo lối Tây Phương, thành lập các thủy thủ đoàn, huấn luyện quân lính, đưa kỷ luật vào quân đội, thành lập cấp chỉ huy, đúc đại bác, dạy cho người Việt cách dùng trái phá, lập đội pháo binh dă chiến mà sự lưu động khiến quân Tây Sơn khiếp sợ, họ đă xây dựng các thành dài.”(30)

 

“Trước hết, chúng ta thử xem những người đă tạo ra cái ảnh hưởng này. May mắn nhờ sự khám phá của một trong những cộng sự viên nhiệt thành nhất và kiến thức nhất của chúng tôi, ông A. Salles, cựu thanh tra thuộc địa, đă cho phép tôi tŕnh ngài đọc trước, chân dung của ba người vinh hiển nhất đă giúp Gia Long: J.B Chaigneau, Ph.Vannier, và Jean-Marie Dayot.”

 

Như tôi đă nói, ảnh hưởng của những người Pháp trên triều đ́nh Annam là cá nhân và trực tiếp.

 

“Trước hết là sự huấn luyện kỹ thuật, và điều lạ lùng là do một vị giám mục – đúng là ông đă làm bá chủ giai đoạn này, bằng hành động, bằng thiên tài, bằng đạo đức cũng như bằng ḷng yêu nước (Pháp), ngời sáng của ông – đức giám mục đă giữ vai tṛ khởi thủy. Một tác giả đương thời nói: Ông dịch cho học tṛ ông – tức là Gia Long – nhiều tác phẩm tiếng Pháp sang tiếng Nam (Cochinchinois) chủ yếu là những sách chiến lược và sách xây thành lũy. Ông dịch hay đến nỗi người có học và người có khả năng nhất nước này là nhà vua cũng phải chịu.”(31)

 

“Chính Dayot đă báo cho Renoward de Sainte-Croix biết về những thông tin này. Khoảng hai mươi năm sau đó, năm 1819 Vannier và Chaigneau cũng cho một người du lịch Anh đến Huế biết rằng ‘Giám mục Adran dịch sang tiếng nước này (chữ Nôm) những mục từ ích lợi nhất của Bách Khoa Toàn Thư và soạn trong thổ âm này (Chữ Nôm) nhiều bản Hiệp ước cho Hoàng Đế xử dụng.”(32)

 

Công trạng của giám mục Bá Đa Lộc có lẽ giới hạn ở đó: ông cung cấp những sách nền móng cho sự nghiên cứu. Tất cả những lư giải kỹ thuật phải dành cho các chuyên viên: Chaigneau, Vannier nói được tiếng Việt, nhất là Olivier.

 

“Thưa thống chế, chúng tôi mong muốn được tŕnh ngài bộ sưu tập những tác phẩm liên quan đến nghệ thuật xây dựng và bảo vệ thành tŕ đồn lũy, do giám mục Bá Đa Lộc dịch sang chữ Nôm. Có lẽ một ngày nào đó, ta sẽ t́m lại được trong văn khố hoàng cung hay của các Bộ. Ngày hôm nay, chúng tôi chỉ có thể tŕnh ngài một kiểu mẫu được giữ trong Nội-Các,, đó là Đồ thị quân sự, bao gồm tất cả các bộ phận chính của một thành đồn, với tất cả các khẩu đại bác ( đẻ tấn công và pḥng thủ) của một chiến lũy do J.E. Duhamel, kỹ sư của vua, năm 1773, xây theo kỹ thuật xây dựng của ‘thống chế Vauban’.”(33)

 

Bạn đọc mấy trích đoạn trên tự ḿnh có thể đánh giá bài diễn văn của ông Cadière như thế nào?

 

Riêng bà Thụy Khuê phản bác luận điểm của Cadière và không tin rằng Bá Đa Lộc đă dịch Bách Khoa toàn thư sang tiếng Tầu hay tiếng Ta? Bà viết:

“Những ḍng trên đây, chứng tỏ Bá Đa Lộc không gần gũi vua như người ta thêu dệt nên. Sau khi Trần Đại Luật dâng sớ ‘xin chém đầu Bá Đa Lộc’ năm 1795, th́ vị giám mục lại càng thận trọng hơn nữa. Vậy việc giám mục ‘dịch sách’, ‘viết thư’, làm ‘cố vấn’ mọi việc cho vua không thể, nếu một năm hay hơn một năm giám mục mới gặp vua một lần. Chức phận ông giới hạn trong việc: Là một trong những thầy dạy Hoàng Tử Cảnh!”(34)

 

Trong đoạn văn ngắn ngủi trên, bà Thụy Khuê đă vấp phạm nhiều lỗi trầm trọng: như đánh giá sai một cách hời hợt mối liên hệ Bá Đa Lộc-Nguyễn Ánh. Qua một số chứng từ – nhất là những lá thư Nguyễn Ánh gửi cho Bá Đa Lộc do Cadiere thu tập được và Tạ Chí Đại Trường đưa ra b́nh giải cũng như những đánh giá của Le Labousse, của Shihojen Seishi, của Barrow và nhất là chính lời của Gia Long trong văn tế Bá Đa Lộc cho thấy vai tṛ của ông như thế nào.

 

Thụy Khuê phủ nhận những việc làm của Bá Đa Lộc như dịch sách, cố vấn là những việc làm không thể có được. Nhưng đấy lại là những công việc Bá Đa Lộc đă làm cho Nguyễn Ánh.

 

Cố t́nh cho rằng Nguyễn Ánh không bao giờ là học tṛ của Bá Đa Lộc mà cùng lắm Bá Đa Lộc chỉ là thầy giáo của Hoàng Tử Cảnh là một lối nhục mạ không cần thiết.

 

 

Vài ḍng cuối

 

Phải thú thực là tôi rất mệt mỏi khi đọc tập tài liệu này. Viết xong dược một vài cảm tưởng khi đọc xong tập tập liệu tôi coi như một giải thoát. Cái lợi duy nhất có được là nhờ bà Thụy Khuê, tôi có dịp đọc thêm nhiều tài liệu giúp bổ túc cho kiến thức về sử Việt Nam cận đại.

 

Sự khác biệt giữa Thuỵ Khuê và người viết là sự khác biệt trong lối nh́n, lối đọc sử học do quan điểm về sử khác nhau.

 

Trước khi chấm dứt bài viết bày tôi cũng mời độc giả đọc lại bài phỏng vấn của bà Thụy Khuê với Hoàng Phủ Ngọc Tường họa chăng có thêm một điểm nh́n gợi ư nào chăng?

 

Qua kinh nghiệm này tôi nghĩ chỉ nên đọc những ǵ ḿnh cảm thấy thích. Không thích không đọc để khỏi tự hành hạ ḿnh. Nó giống như món ăn vậy. Thích th́ ăn, không thich th́ thôi.

 

 

(Hết)

 

© 2016 DCVOnline

bài từ DCVOnline.net”


 

(21) Alesix Faure, Mgr Pigneau de Beshaine Esveque d’Adran, Paris, 1891, Chapitre douzieme.

(22) Nguyễn Xuân Thọ, Ibid, trang 34.

(23) Tạ Chí Đại Trường, Ibid., trang 181.

(24) Nguyễn Xuân Thọ, Ibid., trang 36.

(25) Thụy Khuê, Ibid., chương 2.

(26) Ngày thứ 15, tuần trăng thứ năm, năm thứ 51, đời Cảnh Hưng, 27.6. 1790. Louvet, La Cochinchine religieuse, I, t, 536. trích lại Thụy Khuê, Ibid., chương 18.
(27) Nguyễn Duy Chính, “Tương quan Xiêm-Việt cuối thế kỷ XVIII”, trang 28-29.
(28) Tạ Chí Đại Trường, Ibid., trang 196-197.

(29) Thụy Khuê, Ibid., chương 14, Maybon và cuốn Histoire moderne du pays d’Annam.
(30) Thụy Khuê, Ibid., chương 15 Maybon, “Histoire moderne du pays d’Annam, trang 278.

(31) Thụy Khuê, chương 15, “Relations de Bissachere”, Introduction của Ste-Croix do Maybon in, trang 91.

(32) Thụy Khuê, Ibid., chương 15, trích “Annales maritimes et Coloniales”, biên niên hàng hải và thuộc địa, 1823, tome 2, trg 578.

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính