Sự lũng đoạn của Cộng sản đối với một số báo chí miền Nam từ 1954-1975


Nguyễn Văn Lục



Báo chí miền Nam trước 1954

 


Báo chí là một trong những công tác địch vận mà người cộng sản dùng để chi phối, lũng đoạn, gây hoang mang, khích động khi cần. Trước 1954, tại Sàig̣n có hai tờ báo nổi tiếng là Thần Chung do ông Nam Đ́nhlàm chủ nhiệm và tờ Tiếng Chuông của ông Đinh Văn Khai. Vậy mà cả hai tờ đều có sự chi phối của cộng sản gián tiếp hay trực tiếp qua những người như Trần Bạch Đằng, Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Văn Linh, Mai Văn Bộ..


Tờ Thần Chung do kư giả lăo thành Nguyễn Kỳ Nam làm chủ nhiệm. Nếu nói về tay nghề th́ tôi nghĩ khó ai hơn ông được. Tài liệu ông nhiều vô kể, cả một thư viện sách, giao du quen biết rộng trong chính giới Việt Nam, Pháp, Nhật. Tôi biết ông qua cuốn Hồi kư 1925-1964. Trong tập Hồi kư, ông giống như một số trí thức tiến bộ miền Nam, ông theo đệ tứ cùng với các ông Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm và ông thù ghét cay đắng nhóm đệ tam như Trần Văn Giàu, Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn Văn Trấn, Hạ Bá Cang {tức Hoàng Quốc Việt} Sau này, khi Nguyễn Văn Hinh phải dời khỏi VN sang Pháp, ông đă lưu vong theo Nguyễn Văn Hinh cho đến khi chế độ đệ nhất cộng Ḥa sụp đổ. Ông trở về làm báo trở lại.


Khi ông Diệm về nước nắm chính quyền, tờ Thần Chung bị đóng cửa trong suốt 9 năm. Sau 1963, chính phủ quân nhân cho phép tục bản. Giấy phép vừa kư xong, đọc hồ sơ lư lịch Nguyễn Kỳ Nam, một lần nữa, chính quyền quân nhân vừa kư xong giấy phép lại rút giấy phép.


Riêng tờ tiếng Chuông của ông Đinh Văn Khai, có ai nghĩ là do cộng sản đă gài được người vào tờ báo? Vậy mà Nguyễn Văn Hiếu, tức Khải Minh là Bí thư ban Trí vận thành ủy {1949-1957} đă “nằm vùng” tại tờ Tiếng Chuông từ trước 1954 cho măi đến sau này.


Cái hiểm họa cộng sản như thế lúc nào cũng cần phải canh chừng. Bài viết này giúp độc giả nh́n cho rơ sự xâm nhập của cộng sản trong làng báo chí như thế nào?.


Sau 1954, một số kư giả, nhà văn lần lượt quay trở về thành phố


Một số kư giả ở ngoài khu kháng chiến, một số ra “bưng” v́ lư tưởng chống Pháp. Sau 1954, “nửa nước độc lập”, họ đă quay trở về đời sống b́nh thường để làm ăn sinh sống. Giấc mộng tuổi trẻ tṛ Trần Văn Ơn tạm gác lại một bên. {Thật ra, tṛ Trần Văn Ơn, học Pétrus kỳ, mới học tới lớp nhất, nghe các anh lớn bảo đi biểu t́nh th́ đi, chưa biết ǵ. Chẳng may bị Tây bắn chết. Bỗng chốc anh trở thành biểu tượng anh hùng của giới trẻ}.


Trong số những người trở về Sàig̣n có Bằng Giang, Kiên Giang{Hà Huy Hà}, Văn Bia, Nguyễn Ang Ca, Hiếu Đệ, Tùng Sơn, Tân Dân Tử (Sơn Tùng}.


Việc quay trở về của các cựu kháng chiến trong thời kỳ chống thực dân Pháp được coi là truyện b́nh thường như trường hợp của nhiều nhà văn, nhà báo khác. Đó là trườnmg hợp của Vơ Phiến, Sơn Nam, B́nh Nguyên Lộc và nhiều nhà văn khác.


Nhưng có người quay trở về mà vẫn c̣n dính dáng với những hoạt động như thời kháng chiến chống Pháp dưới “môn bài” cộng sản. Đó là cái khó cho chính phủ nền đệ nhất cộng ḥa biết ai c̣n, ai không c̣n theo cộng sản nữa? Như trường hợp Sơn Nam là c̣n hay không c̣n?


Bên cạnh đó, một số không nhỏ những nhà văn, nhà báo có xu hướng theo cộng sản mà người cộng sản xếp chung vào thành phần những nhà văn, nhà báo” tiến bộ”, không có thẻ đảng như Thiên Giang, Nguyễn Bảo Hóa {Tô Nguyệt Đ́nh}, Tam Mộc, Lư Văn Sâm, Thuần Phong, Trần Tấn Quốc, Quốc Ấn, Thẩm Thệ Hà, Vũ Anh Khanh, Huỳnh Hoài Lạc, Trúc Chi, Đỗ Thiếu Lăng, Quách Thoại và Tam Ích.{ Chúng tôi sẽ có bài viết riêng về nhà văn Tam Ích}


Phải nói là những nhà văn, nhà báo miền Nam có cảm t́nh với cộng sản là khá đông. Nhưng dính dáng ít nhiều, mức độ thế nào tùy hoàn cảnh, tùy mức độ nhận thức, hẳn là mỗi người mỗi khác, khó có thể xếp loại được. V́ thế họ vẫn có thể công khai tiếp tục làm báo ở Sài g̣n mà không có bất cứ lư do ǵ có thể đưa họ ra ṭa được như trường hợp Vũ Hạnh, Tam Ích sau này. Chẳng hạn Tam Ích dùng biện chứng pháp của Mác để phê b́nh văn học, nhưng có thể chắc chắn là ông không hề có tiếp xúc hay làm bất cứ công tác cụ thể nào cho cộng sản như những tâm sự riêng của ông cho một người bạn văn.


Sau 1954: Kư giả và nhà văn miền Bắc di cư vào Nam


Bên cạnh những nhà văn, nhà báo miền Nam từ trong Bưng về. Một lô các nhà văn, nhà báo trẻ miền Bắc, có tài đă di cư vào Nam và sau này làm nên tên tuổi của họ như Tam Lang, Vũ Bằng, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Bàng Bá Lân, Lê Văn Trương, Thượng Sĩ, Trực Ngôn, Cát Hữu, Phan Văn Tạo, Trọng Tấn, Nguyễn Vạn An. Đồng thời mốt số các nhà văn c̣n trong giới sinh viên như Mai Thảo, Nguyễn Sỹ Tế, Doăn Quốc Sĩ, Trần Thanh Hiệp mà công việc sáng tác của họ sau này trở thành cái nôi cho văn học miền Nam.


Những nhà văn, nhà báo này có một lập trường chính trị rơ rệt, không chấp nhận chế độ cộng sản.


Khi ông Ngô Đ́nh Diệm về nước, bộ thông tin c̣n trực thuộc Phủ Thủ tướng đă ra một lúc 7 Nghị Định liên quan đến báo chí, xuất bản và kiểm duyệt vào ngày 7.7.1954. Cho giấy phép xuất bản một loạt các tờ Cải Cách và Gió Mới, bán nguyệt san Lửa Việt {tiền thân của nhóm Sáng Tạo} của sinh viên di cư, Trách nhiệm, Tương Lai, Đại Chúng, Dân Chúng, Tuần báo Văn Nghệ.


Sang đến năm 1955, một lô báo chí tiếp tục được cho giấy phép xuất bản như Quan Điểm, Văn Nghệ tập san, Tin Văn, Tiểu thuyết tuần báo, Văn Nghệ học sinh, Tầm nguyên văn học và Tiền Phong, sau đổi ra Văn Nghệ Tiền Phong. {trích Văn Hóa Văn Nghệ miền Nam Việt Nam, 1954.1975, Trần Trọng Đăng Đàn, trang 74}.


Đồng thời đ́nh bản các tờ Nhân Loại tập San, Tự Do, Tiếng Dội. Cấm lưu hành cuốn Việt Nam máu lửa của Nghiêm Kế Tổ. Đồng thời cũng cấm lưu hành các cuốn sách Xuân Ḥa B́nh, Ḥ vè đ́nh chiến ḥa binh..


Đây là giai đoạn ổn định và phát triển nhất của giới báo chí, văn học miền Nam. Như một vươn lên, sung sức, như một nguồn hy vọng mới.


Ngoài tờ Cách Mạng Quốc gia của chính quyền hay tờ Chỉ Đạo do các sĩ quan làm chủ nhiệm {Thoạt đầu do Trung tá Trần Văn Trung, chủ nhiệm, Trung úy Ngô Quân chủ bút rồi đến lượt Trung tá Nguyễn Văn Châu, với các chủ bút Kỳ Văn Nguyên, Nguyễn Mạnh Côn, Đào Đ́nh Hoan, Nguyễn Đ́nh Bảo thay nhau làm}, có một số tờ báo sau cuộc di cư đă tạo được uy tín và tiếng tăm như các tờ Ngôn Luận của Hồ Anh, Người Việt Tự do của Mặc Thu, Lưu Đức Sinh, Tiếng Miền Nam của luật sư Nguyễn Phương Thiệp, Tự Do của Phạm Việt Tuyền, Chính Luận của bác sĩ Đặng Văn Sung, Sống của Chu Tử, Tin Văn của Tô Văn Bùi Bá Nhân.Tất cả những tờ vừa nêu trên đều có lập trường kiên định, rơ rệt là chống cộng sản, bảo vệ tự do của miền Nam VN..


Bên cạnh đó, có một số tạp chi ra đời như Sáng Tạo của Mai Thảo, tháng 10-1956, tạp chí Bách Khoa với Huỳnh Văn Lang, 15-2-1957. Tiếp theo là Hiện Đại của Nguyên Sa 1960. Tạp chí Quê Hương với giáo sư Nguyễn Cao Hách, Văn Hóa Á Châu với Nguyễn Đăng Thục, Luận Đàmvới Nghiêm Toản, Xă Hội Mới với Vương Quan, Thế kỷ 20 với Nguyễn Khắc Hoạch, Những vấn đề của chúng ta với Thái Lăng Nghiêm …


Đó là những trí thức, nhà văn mà theo cái nh́n của Gramsci th́ họ là loại trí thức hữu cơ của chế độ đệ nhất cộng ḥa. Nhóm trí thức hữu cơ này cùng với nhóm trí thức công giáo thường được coi là thiên tả, cấp tiến tạo thành bản sắc báo chí miền Nam VN.


Hầu hết các tập san trên đều có chủ đích văn học, có giá trị khảo cứu và có lập trường kiên định, cộng sản chưa thâm nhập được vào, trừ trường hợp tờ Bách Khoa có Phạm Ngọc Thảo, Vũ Hạnh và Phan Du ngay từ đầu.


Trong số đó, đắc biệt những tờ như Chính Luận hay tuần báo Tin Văn của Tô Văn bị cộng sản ghét cay ghét đắng.


Nhưng dù nh́n ở góc độ nào, chính trị hay xă hội, hay văn học .. Những năm đầu thời đệ nhất cộng ḥa vẫn là những thời kỳ vàng son sinh hoạt báo chí của miền Nam VN


Mặc dầu vậy, có một số tờ báo, dù có lập trường của người quốc gia, nhưng đă để một số cán bộ cộng sản lọt vào và được viết báo một cách công khai và hợp pháp.


Đây là một trong những khúc xương không khạc ra được của báo chí miền Nam, tiếp tay cộng sản mà không biết.


Những tờ báo có sự xâm nhập, trà trộn của cán bộ cộng sản


Xin nêu tên một số tờ báo của người quốc gia bị cộng sản cho người trà trộn vào mà có thể không biết như:


- Báo Dân Chủ của ông Vũ Ngọc Các có cán bộ cộng sản Thành Hương.


- Báo Ngôn Luận của ông Hồ Anh vừa nêu trên có Châu Dương.


- Báo Sàig̣n Mai của thiếu tá Ngô Quân có Ty Ca làm Tổng Thư kư ṭa soạn {Tôi có liên lạc với ông Ngô Quân, đến thăm ông, nay đă hưu, tôi muốn hỏi ông cho rơ về trường hợp Ty Ca, tổng thư kư ṭa soạn, ông có biết là bị cộng sản gài vào không? Nhưng ông ngại không muốn nói bất cứ điều ǵ liên quan đến giai đoạn làm báo của ông. Thật đáng tiếc}


- Báo Dân Chúng của Trần Nguyên Anh cũng để lọt Phi Vân làm Tổng thư kư ṭa soạn.


- Báo Thời Luận của ông Nghiêm Xuân Thiện có kư giả Kư Ninh làm tổng thư kư ṭa soạn. {Trích Địa chí Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, nxb tp HCM, trang 594}


Với môt chế độ kiểm duyệt chặt chẽ, một hệ thống t́nh báo an ninh cũng khá chặt chẽ, thời đệ nhất cộng ḥa, vậy mà cũng đă để lọt lưới một số cán bộ len lỏi vào hàng ngũ báo chí.


Nghĩ tới chuyện cũ để liệu định t́nh h́nh hiện nay, ta lấy ǵ để ngăn chặn cán bộ cộng sản xâm nhập vào báo chí hải ngoại?


Thật là một điều đáng lo ngại.


Bên cạnh đó, có một số báo được coi là “lá cải”, được quần chúng b́nh dân ưa đọc v́ các tin giật gân, các truyện kiếm hiệp và trở thành những tờ báo bán chạy nhất ở miền Nam bấy giờ. Nó cũng giống như một số báo chợ hiện nay ở Hải ngoại, lấy việc bới móc chửi bới cá nhân, loan tin thất thiệt, phịa đủ thứ truyện làm cần câu cơm.


Các tờ báo lá cải thời ấy là cơ hội, là dịp may, là chỗ ẩn núp, chốn ra vào dễ dàng trong việc cài đặt cán bộ cộng sản vào.


Đó là những cái ổ của cộng sản nằm vùng. Không hiểu những người như bà Bút Trà, nhất là ông Đinh Văn Khai hiện tại ở Canada nghĩ ǵ về những giai đoạn làm báo của họ?


Có hai loại công việc mà cộng sản thường trà trộn để vừa kiếm cơm, vừa né tránh mạng lưới an ninh, t́nh báo của VNCH là làm giáo sư tư thục và làm kư giả báo. Với các bút danh và không cần bằng cấp, người ta chẳng c̣n biết ai vào với ai. Phần lớn các tờ báo này chỉ cốt báo bán chạy, kiếm lời nên họ ít để ư đến chính trị, hay bất chấp các kư giả là thành phần nào. Đó là các tờ:


- Sàig̣n Mới: số in 65.000, số bán 50.000 với các kư giả Tư Mă Việt, Trà Tiên, Nhĩ Mục, Thanh Hương, Văn Mạnh, Thanh Phong, bà Ái Lan, Trần Thanh Thê’.

- Tiếng Chuông: in 60.000, số bán 45.000 có các kư giả Khải Minh, Phi Vân, Trần Minh Kư, Trần Ngọc Sơn, Việt Quang, Phong Đạm, Đoàn Hùng, Việt Quang, Quốc Phương, Châu Dương, Hương Nam, Trần Thanh Thế, Kiên Giang ..

- Tin Điển, in 40.000 số, bán 25.000 số với kư giả Phi Bằng, Hương Nam, Lê Hiền…

- Tiếng Dội: in 35.000 số, số bán 20.000 với Triệu Công Minh, Ngọc Hồ, Ngọa Long, Triệu Vơ với thư kư ṭa soạn là Trần Tấn Quốc.


- Buổi sáng: số in 25.000, bán 15.000 với các kư giả Đào Hưng, tức Bảy Mại, Sơn Tùng, Ngô Văn Quân. Đặc biệt có Trần Bạch Đằng với bút danh Tổng Tào Lao.

- Việt Thanh: in 15.000, bán 8000 với Nguyễn Bảo Hóa, Lương Ngọc, Đằng Nhâm, Quốc Oai. Và c̣n một số tờ báo nhỏ khác như: Thời Cuộc, Lẽ sống, Ánh Sáng mà số in ra từ 15.000 trở xuống, trong đó tờ nào cũng cài đặt được một số cán bộ cộng sản {Trích Lược sử báo chí thành phố, trang 697}


Mẻ lưới của chính quyền Ngô Đ́nh Diệm


Một số kư giả như Nguyễn Bảo Hóa {làm cho báo Việt Thanh}, Tư Mă Việt {làm cho báo Sài G̣n Mới} có đứng ra lập Phong trào bảo vệ ḥa b́nh, công khai hoạt động cho cộng sản, trụ sở ở đường Gallíeni, Trần Hưng Đạo bây giờ. Phạm Huy Thông, chủ nhiệm, Lê Dân, Nguyễn Bảo Hóa, thư kư. Họ liên lạc với Ủy Hội Quốc tế, ra các bản tin in ronéo ủnng hộ phong trào Ḥa B́nh. Chính quyền Quốc gia quyết định làm mạnh.


Phải nh́n nhận rằng, dưới thời ông Ngô Đ́nh Diệm, có một cảnh báo chính trị cao, một ư thức đấu tranh kiên định giữa quốc gia và cộng sản, một guồng máy hành chánh tuy sơ khởi, nhưng khá hữu hiệu và nhất là một cơ quan cảnh sát cũng như mạng lưới an ninh t́nh báo hữu hiệu. Chỉ có thế mới đương đầu với cộng sản được.


- Đợt thanh loạt đầu tiên, ngày 9.2.1955, chính phủ VNCH tống xuất 26 người trong bọn họ được đưa ra Hải Pḥng, trong đó có Nguyễn Thị B́nh c̣n có tên Nguyễn Thị Châu Sa, người Quảng Nam, 1948 được kết nạp đảng, 1951 bị Pháp bắt giam, tháng 10.1954 tham gia Phong trào bảo vệ Ḥa B́nh cùng với Nguyễn Hữu Thọ.


- Tiếp theo, bắt giam hàng loạt người như kỹ sư Lưu Văn Lang, Thích Huệ Quảng {ông này nguyên là chủ tịch hội Tăng già Việt Nam}, Nguyễn Văn Vỹ, giám đốc Pháp Hoa ngân hàng, Dược sĩ Trần Kim Quanng, chủ một nhà thuốc tây lớn ở Sàig̣n, kư giả Nguyễn Thị Lựu và khoảng hơn 10 người khác.


- Đóng cửa báo Ánh Sáng, bắt các ông Hoàng Hồ, Phan Bá Cầm ra Côn Đảo


- Đóng cửa Thời Luận, Dân Quư, nhất là Dân Chúng và bắt giam các ông Nghiêm Xuân Thiện, ông Phan Khắc Sửu, Mặc Kinh{Mấy vị trên đây không phải là người theo cộng sản, nhưng bị bắt giam v́ lư do chính trị khác}. Bác sĩ Lư Trung Dung thôi làm tờ Tự Do, Phạm Việt Tuyền lên thay thế.


Trong dịp này, tờ Cách Mạng Quốc gia có một câu khá quen thuộc và thới danh:” Ăn cơm Quốc Gia thờ ma cộng sản”. Tờ báo viết: “Không thể tha thứ những thằng ngủ mơ thiên đàng cộng sản, xác bám miền Nam, hồn gửi ra đất Bắc Những hạng trí thức nửa mùa, có nhiều vốn chữ nghĩa mà lại tin cộng sản là thần thánh coi chúng c̣n hơn ông nội của ḿnh”.


Sau vụ “ Phong trào Ḥa B́nh” ở trên, chính phủ ra dụ số 13, ấn định báo nào loan tin có lợi cho cộng sản sẽ bị phạt từ 25.000 đến 1.000.000 đồng. Sau đó các cơ quan an ninh đi lùng bắt các cựu kháng chiến mà một phần không nhỏ len lỏi trong làng báo ở Sàig̣n. Chính quyền đă thanh lọc các kư giả sau đây ra khỏi làng báo và giam tù.


- Kư giả Trần Ngọc Sơn, {báo Tiếng Chuông, Tiếng Dội} bị bắt và đầy đi Côn Đảo

- Kư giả Anh Tín an trí ở Cây Dừa, Phú Quốc


- Kư giả Văn Mại đầy đi Côn Đảo


- Trần Quốc Thảo, bí thư thành ủy. Nguyễn Tích Dẫn, Bạch Tùng Hương, An Thế [Diệp Liên Anh đầy ra Côn Đảo]


- Dương Tử Giang, Lư Văn Sâm, bị giam tại trại Tân Hiệp Biên Ḥa.


Đến cuối năm 1957, một mẻ lưới nữa, công an bắt các kư giả của các báo sau đây giam ở Mỹ Tho. Sau đó do sáng kiến của ông Tỉnh Trưởng Nguyễn Trân đă tổ chức một cuộc đấu lư tại rạp Viễn Trường, Mỹ Tho. Không biết cuộc đấu lư diễn ra thế nào, nhưng sau này, ông Nguyễn Trân thôi làm tỉnh trưởng Mỹ Tho.


- Triệu Công Minh, báo Tiếng Dội


- Lương Ngọc, báo Trời Nam


- Nam Thanh, báo Lẽ sống


- Đồng Văn Nam, Phương Ngọc, Phan Ba, báo Buổi sáng


- Trần Thanh Thế, Văn Mạnh, báo Saig̣n Mới


- Nguyễn Bảo Hóa , báo Ánh Sáng


- Bắt vợ Nguyễn Bảo Hóa, báo Tiếng Chuông là dược sĩ Mă Thị Chu


- Luật sư Nguyễn Văn Diệp


- Đạo diễn kiêm luật sư Lê Dân


- Mai Thế Đồng, giám đốc cải lương


Sau những cuộc truy lùng “Việt Cộng nằm vùng” trong các tờ báo, chính quyền VNCH tiếp tục bắt hàng loạt các cán bộ cấp Thành Ủy, các cựu kháng chiến, các nhà báo c̣n sót lại gồm: Các giáo sư Nguyễn Văn Ch́, Lê Văn Chí, Trần Văn Hanh, Nguyễn Trường Cửu, Cổ Tấn Văn Luông, Bùi Đức Tịnh, Bà B́nh Minh {đều là giáo sư tư thục, không bằng cấp đầy đủ như tú tài dạy tú tài, không chính quy, dạy chui} và một số các kư giả như Hoài Trinh, báo Sàig̣n Mới, Sơn Tùng báo Buổi sáng, Hoàng Sơn, Văn Lương, báo Lẽ sống, Hương Ngô, Đoàn Hùng, Việt Quang, Phong Đạm, Quốc Phương, Châu Dương, báo Tiếng Chuông.


Một số cán bộ cộng sản như Hồ Ngọc Anh, Lê Trung Nghĩa, Trần Hồng Đài, Nguyễn Điền Bí thư thành đoàn, các phụ nữ như Kim Mai, Bích Ngọc, Bích Đào, Lan Anh, Mỹ Diệm, Kim Huê.


Một số nhà văn, nhà thơ như Trang Thế Hy, Lê Văn, Viễn Phương, soạn giả Nguyễn Đạt, nhạc sĩ cải lương Trần Văn Khánh, Trần Hữu Thế đều vào tù hoặc bị giam tại các trại giam như Tân Hiệp, Phú Lợi, trại Lê VănDuyệt, khám Chí Ḥa, Côn Đảo, Phú Quốc, hoặc ở Huế tại Mang Cá, Lao ty Thừa Thiên.


Các cuộc lùng bắt cộng sản nằm vùng như một cao trào, một chiến dịch làm phá tan tổ chức cộng sản một cách không tương nhượng.


Quét sạch “cộng sản nằm vùng” núp sau các tờ nhật báo. Năm 1960 được coi như dứt điểm.


Quét sạch các cán bộ cấp huyện, cấp ủy, cấp thành đưa đến kết quả cụ thể như một thứ khủng bố trắng mà chính người cộng sản phải thú nhận như sau:


“Trước t́nh h́nh báo chí bị khủng bố ác liệt, quá nhiều anh em bị bắt, số cán bộ và kư giả yêu nước hoặc chuyển đổi nghề, số khác bỏ nghề báo, hoặc rút lui vào bí mật giữ an toàn như Nguyễn Văn Tài, Tuần san thương mại, Thành Hương, Nhĩ Muc, báo Saig̣n Mới, nhà văn Thẩm Thệ Hà, Tiểu Dân, Thanh Lộc báo Lẽ Sống}”.

“Chiến dịch “Tố Cộng” của Diệm gây nhiều khó khăn, một số cơ sở cách mạng bị bể. Những năm 1958, 1959, 1960, nhiều cơ sở cách mạng nội thành bị đánh phá tan tác, một số lănh đạo Thành Ủy bị bắt, số khác phải tạm lắng” {Trích Báo chí Sàig̣n trong 30 năm kháng chiến 1945-1975, trong Địa chí Văn hóa thành phố HCM, trang, 605-608}


Chỉ sau hai năm thực hiện chiến dich, “Tố Cộng”, chiến dịch đă loại trừ phần lớn cán bộ được gài lại từ thành thị đến nông thôn. Trong Hồi kư Bội phản hay chân chính, một cuốn sách hữu ích để hiểu được t́nh trạng khốn cùng của cán bộ cộng sản nằm vùng thời đệ nhất cộng ḥa do chính họ viết lại. Đọc cũng để hiểu thêm về con người ông Cẩn như thế nào, một con người mà Mười Hương {Mười Hương bị bắt giữ từ năm1958, ông Nhu, ông Cẩn có tiếp xúc, gặp nhiều lần.


Sau đó không hiểu v́ sao đă được các tướng lănh thả vào tháng 5.1965.


Thả hổ về rừng. Sau “cách mạng” 1963, họ đă mở toang cánh của nhà tù Chí Ḥa. Tha hết. Xổng chuồng hết.


Ôi cái ngu xuẩn của bọn tướng lănh bất tài miền Nam VN.


Sau này, ông Mười Hương trong loạt bài:Tướng t́nh báo chiến lược đăng trên báo Thanh niên của Hà Nôi, số 300, ngày 26-11-2002 viết như sau:
“ Hồi xưa, những năm 40, có lúc từ Phúc Yên về Hà Nội nếu không tính thời gian sao cho kịp đến nhà cơ sở th́ đêm xuống không biết ở đâu. Tôi đă từng có cảm giác cô đơn lạnh lùng khi phong trào đi xuống. Thế nhưng hồi ấy cũng không đen tối bằng sau này, những năn 1957-1959..Ông bảo: chúng ta lâu nay cứ chê bai thằng Cẩn, rằng nó đi guốc mộc, miệng nhai trầu bỏm bẻm.. chê như vậy không đúng đâu. Thằng Cẩn giỏi lắm, có mưu trí lắm”.


Xin trích một đoạn khác của Văn Phan: ”Có lẽ đến bây giờ chúng ta chưa tổng kết hết có bao nhiêu cán bộ và đồng bào yêu nước đă anh dũng kiên cường đấu tranh và đă hy sinh lặng lẽ trong các nhà tù của “ Đoàn công tác đặc biệt miền Trung”, nhưng những ví dụ sau đây có thể để cho ta một khái niệm về mức độ khốc liệt của cuộc đấu tranh đó: Một ḿnh Lê Phước Thưởng, nguyên cán bộ Thừa Thiên đă khai báo bắt 105 người của ta: sau hai năm, số đó chỉ c̣n lại 6 người sống !! (Trích Đoàn Mật vụ của Ngô Đ́nh Cẩn, Văn Phan, trang 118, nxb Công An nhân dân}


Đây là một trích đoạn trong Bội Phản hay chân chính của một cán bộ cộng sản: “Tới khi khoanh vùng, cơ sở bị đánh tan tành xí quách, bám trụ trong dân không nổi nữa, anh ta phải bật lên núi. Đối phương bao núi, cắt đường liên lạc tiếp tế. Lương thực cạn dần, liên lạc tắc nghẽn. Cuộc sống ngày một trở thành vô nghĩa nếu cứ bám trụ trên núi cao, trong rừng sâu, quanh quẩn với cây rừng và khỉ đột .. Hết gạo, hết lương khô, hết muối, hết mọi thứ. Đói quá, không tính th́ chết đói – không lẽ chết đói để giữ vững khí tiết người vô sản? Xuống núi, thế nào cũng bị bắt, anh cán bộ biết chắc như vậy. {Trích Bôi Phản hay chân chính, trang 102}.


Trong cuốn Về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Văn Tiến Dũng cũng ghi lại những số liệu báo cáo của Bộ chính trị như sau:“ Chỉ tính trong 4 năm từ 1955-1958, cả miền Nam tổn thất 9 phần 10 số cán bộ đảng viên. Ở Nam Bộ khoảng 7 vạn cán bộ đảng viên ta bị địch giết. Chỉ c̣n 5 ngàn đảng viên so với 60 ngàn trước đây. Có nơi như Tiền Giang chỉ c̣n 921 gia đ́nh, Biên Ḥa, mỗi nơi c̣n một chi bộ đảng. Ở khu 5, gồm cả Trị Thiên và cực Nam Trung bộ: Khoảng 40% tỉnh ủy viên, 60% huyện ủy viên, 70% chi ủy viên đă bị bắt, bị giết Có tỉnh chỉ c̣n 2,3 chi bộ. Riêng Trị-Thiên, chỉ c̣n 160 so với 23.400 đảng viên trước đó” { sdd, trang 16, trích lại trong Ḍng họ Ngô Đ́nh, Nguyễn Văn Minh, trang 129}


Bằng chứng cụ thể và rơ rệt, Lê Duẩn trong Thư vào Nam, sau này có thư gửi cho Mười Cúc, tức Nguyễn Văn Linh có viết: “Đă có lúc ở Nam Bộ cũng như ở Liên khu 5, t́nh h́nh khó khăn đến mức tưởng như Cách Mạng không thể duy tŕ và phát triển được nữa”.


Trong một tài liệu của bộ ngoại giao Kampuchia cũng nhận xét tương tự như Lê Duẩn ”tưởng như cách mạng không c̣n”, khoảng thời gian 1957-1960. Cộng Sản hầu như không c̣n đất dụng vơ, phải chạy dạt sang Kampuchia: “ En 1957, Le Duan est venu également se réfugier à Phnom-Penh et transiter par le Kampuchea. Tous les membres du Comité Central du parti Vienamien au Sud Viet Nam ont été arrêtés sauf un qui est venu se réfugier à Phnompenh, dans le quartier de Toul Tapoung. C’étai Nguyễn Văn Linh dit Mười Cúc, originaire du Nord Viet Nam.


Face à cette situation catastrophique pour eux et pour échapper à l’anéantissement total, les vietnamiens đécidèrent en 1960 de reprendre la lutte armée. Ils sont venus s’installer le long de la front́ere du Kampuchea, de Romeas Hek jusqu ‘à Snoul. Quands ils avaient des difficultés, ils se réfugiaient au Kampuchea. En 1961, ils ont commencé à s’infiltrer au Kampuchea. En 1962 et en 1963, ils ont poussé davantage leur pénétration, utilisant au besoin la corruption.


Les Vietcongs pouvaient se déplacer librement et à volonté au Kampuchea, cela parce que d’une part ils corrompaient les agents de sécurité, de police et et les fonctionnaires de l’ancienne administration et d’autre part le peuple du Kampuchea prenait les Vietnamiens pour des révolutionnaires. En 1965, il y avait 150.000 Vietcongs installés au Kampuchea sur une profonde de 2 à 5 kilomètres de la front́ere depuis Romeas Hek jusqu ‘à Ratanakiri..


En fait, ils n’avaient plus de territoire chez eux, au Sud Viet Nam, à cause de la politique des hameaux stratégiques de Ngo Đinh Diem, car Robert Thompson, en s’appuyant sur ses expériences acquises đans d’autres pays, a fait installer des hameaux stratégiqus sur tout le territoire du Sud Viet Nam de sorte que les Viet congs n’avaient plus ni terre ni population” sur tout le territoire du Sud Viet Nam {Trích trong Lớn lên với đất nước, Vy Thanh, trang 590}


Tạm dịch: Vào năm 1957, Lê Duẩn cũng chạy trốn sang Campuchia với tư cách sang quá cảnh. Tất cả cán bộ trong trung ương đảng của Việt Minh ở miền Nam đều bị bắt trừ có có một người trốn được sang Nông Pênh trong khu vực Toul Tapoung. Đó là ông Nguyễn Văn Linh, tự Mười Cúc, gốc người miền Bắc.


Họ đă phải đương đầu với một hoàn cảnh khốn cùng và để thoát khỏi t́nh trạng bị tiêu diệt toàn bộ, họ đă quyết định vào năm 1960 là phải tiếp tục lại cuộc chiến đấu bằng vơ lực. Họ đă đóng quân dọc biên giới Kampuchia, từ Romes Hek đến Snoul. Khi họ gặp khó khăn, họ lẩn sang Kampuchia. Vào năm 1961, họ bắt đầu xâm nhập vào Kampuchia. Vào các năm 1962 đến 1963, họ dấn sâu thêm việc xâm nhập vào Kampuchia và đă dùng thủ đoạn hối lộ. V́ vậy, họ có thể di chuyển tự do theo ư họ trên đất Kampuchia, một phần v́ họ đă hối lộ các nhân viên an ninh, các cảnh sát và các công chức hành chánh cũ, một phần dân chúng Kampuchia coi Việt Cộng như những người Cách mạng. Trong năm 1965, có khoảng 150.000 Việt cộng đóng trên đất Kampuchia, lấn sâu vào từ 2 đến 5 kilô mét, dọc theo biên giới từ Romeeas đến Ratanakiri..


Thực sự, họ không c̣n mảnh đất nào để trú ẩn ở miền Nam do chính sách Ấp chiến lược của Ngô Đ́nh Diệm, bởi v́ ông Robert Thompson, dựa trên những kinh nghiệm thâu thập ở nước khác nên đă cho thiếp lập các ấp chiến lược trên khắp miền Nam đến nỗi, Việt Minh không c̣n mảnh đất nào cũng không c̣n dân chúng nào hết.


T́nh cảnh khốn cùng của cộng sản miền Nam như vừa nêu trên đă thay đổi khác sau 1963.


T́nh trạng báo chí miền Nam sau 1963


Sau khi chính quyền Ngô Đ́nh Diệm sụp đổ, ngay tuần lễ đầu đă xuất hiện vô số báo. Đây là thời kỳ nở rộ của báo chí như ong vỡ tổ. Có khoảng 40 tờ báo ngày. Không nhớ hết được. Đại loại có các tờ như: Hôm nay, Tiến, Thân Dân, Miền Nam, Dân chúng, Thắng, Thời đại, Chuông mai, Dân quyền, Dân ta, Dân Tộc, Buổi sáng,Tia sáng, Dân nguyện, Liên minh, Dân chủ, Dân chủ mới, Đồng thanh, Hôm nay, Thần dân, Miền Nam, Tân Văn vv..


Nhiều báo quá. Loạn báo. Không kiểm soát được. V́ thế, trong năm 1964, ông Nguyễn Ngọc Thơ đă phải đóng cửa 11 tờ v́ loan tin thất thiệt, rối loạn an ninh


Sau đó, báo chí “loạn” hơn nữa. Nội các chiến tranh của hai ông Thiệu-Kỳ quyết định đóng cửa toàn thể báo chí một tháng, từ ngày 1-7-1965 để chấn chỉnh báo chí. Đóng tất cả, đóng báo tốt lẫn báo xấu, lại đóng luôn một tháng th́ vô lư quá. Báo chí cực lực phản đối nên quyết định trên sau đó được hủy bỏ và chỉ rút giấy phép một vài tờ báo.


Đó là những quyết định sai lầm ngay từ đầu của nội các chiến tranh.
Nay th́ báo chí “coi thường” chính quyền. Đương nhiên cộng sản nắm lấy thời cơ, lợi dụng tuyên truyền cho cộng sản. Nay th́ bọn họ bắt đầu nhô ra khỏi hang ổ một cách công khai hơn trước.


T́m đọc lại Budda”s Child, không thấy ông Nguyễn Cao Kỳ nhắc nhở ǵ tới vấn đề này.


T́nh trạng loạn báo vẫn tiếp tục. Sang đến 1972, Sài g̣n có đến 72 tờ nhật báo. Và kể như chính phủ của TT Nguyễn Văn Thiệu không c̣n khả năng kiểm soát được báo chí nữa, cũng như giữ vững an ninh cho thành phố Sàig̣n. Sau này, chính báo chí đánh xập uy tín của ông Nguyễn Văn Thiệu qua vụ “ kư giả đi ăn mày” và vụ án báo chí 31-10-1974


Cạnh đó, cũng có cảnh lạm phát đảng phái với 22 đảng phái có giấy phép hoạt động. Và 12 đảng đang chờ có giấy phép để hoạt động. Chẳng hạn, Quốc dân đảng có đến 4 hệ phái. Có hệ phái Nguyễn Văn Lực, Lê Ngọc Chấn, rồi Quốc dân đảng của Vũ Hồng Khanh và Quốc dân đảng của Nguyễn Ḥa Hiệp. Đại Việt cũng chia ra 4 thứ Đại Việt.


T́nh trạng báo chí nhố nhăng, rối loạn cũng như t́nh trạng đảng phái bầy ra một cảnh hoạt náo chính trị. Mỗi đảng phái đều ráng ra một tờ báo cho đảng ḿnh. Nguyễn Văn Lực với tờ Hành Động, Vũ Hồng Khanh với tờ Thân Dân...


Các báo có lập trường Quốc gia, chống Cộng:


Một số báo Quốc gia có lập trường quốc gia, chống Cộng xuất hiện rất sớm nay vẫn c̣n tồn tại sau 1963 và các báo đó trở thành mục tiêu đánh phá, ám sát của cộng sản. Cộng sản không đánh phá được th́ ám sát. Đó là trường hợp báo:

- Báo Chính Luận của bác sĩ Đặng Văn Sung: Dưới mắt bọn cộng sản th́ ông Đặng Văn Sung là một thứ CIA của Mỹ. Kư giả Từ Chung của báo Chính Luận cũng là một thứ CIA ác ôn cần phải trừng trị. Tôi có gặp một cựu kư giả từng làm cho Chính Luận, anh Hồng Dương, nhưng xem ra anh cũng không biết rơ tổ chức nào đă ám sát kư giả Từ Chung. Tất cả chỉ đưa ra những giả thuyết. Nhưng trong cuốn sách: Trui rèn trong lửa đỏ doThành đoàn thành phố hcm xuất bản có bài viết của Hàng Chức Nguyên nhan đề:


Những tiếng nổ trong ḷng Sài G̣n, Nguyên nhận Thành Đoàn TPhcm là tác giả vụ ám sát kư giả Từ Chung cũng như Chu Tử. Lực lượng vũ trang thành đoàn đă ám sát Từ Chung vào năm 1965 và Chu Tử vào tháng tư/1966. Ngoài ra Thành đoàn cũng tổ chức phá sập ṭa sọan báo Chính Luận chỉ v́ lư do duy nhất, dịp tháng 9/1969, hồ chí minh chết, báo Chính Luận viết bài phỉ báng hồ chí minh.


Điều này cho thấy an ninh, t́nh báo của nền đệ nhị cộng ḥa đă kém hữu hiệu và tổ chức thành đoàn đă xuấrt hiện, họat động mạnh và công khai.


Ngoài hai nhà báo Từ Chung và Chu Tử, Thành đoàn c̣n tổ chức sau này ám sát bác sĩ Lê Minh Trí vào ngày 6-1-1969, vào lúc 7 giờ 50 sáng.


Hai quả lựu đạn đă được thảy vào trong xe của bác sĩ Lê Minh Trí, tổng trưởng giáo dục ở góc Nguyễn Du, Hai Bà Trưng. Giáo sư Nguyễn Văn Bông bị giết vào trưa thứ tư 10-11-1971, góc Trần Quốc Toản, Cao Thắng, giết hại giáo sư Bông và người tài xế.


Lê Khắc Sinh Nhật bị ám sát? Nhật là sinh viên y khoa mà một số bạn bè cùng lớp với Nhật hiện ở Montréal, Canada. Sau ngày Nhật bị giết, đường phố Sài g̣n có nhiều biểu ngữ để tang Lê Khắc Sinh Nhật và lên án sinh viên Huỳnh Tấn Mẫm chủ mưu ám sát. Tôi có hai tài liệu viết gián tiếp về vụ ám sát này. Hồ Ngọc Nhuận có ư phản bác dư luận lúc bấy giờ đổ cho Huỳnh Tấn Mẫm. Hồ Ngọc Nhuận gián tiếp đổ cho cộng sản khi ông viết: “Ai giết sinh viên Lê Khắc Sinh Nhật? Đến bây giờ ắt nhiều người biết. Riêng tôi trước sau không hề biết, cũng không hỏi.


Chính quyền Sàig̣n lúc ấy cứ đổ riệt cho sinh viên Huỳnh Tấn Mẫm, đang trốn là kẻ giết người” {Trích Hồi kư Đời, Hồ Ngọc Nhuận, trang 123}


Trong bài: “ Các điểm hẹn, Phúc Tiế’n viết: “ Cuối tháng 9 năm 1971, mượn cớ tên sinh viên phản động Lê Khắc Sinh Nhật bị giết, giữa đêm, cảnh sát bao vây 207 Hồng Bàng, lùng bắt Ban chấp hành Tổng Hội. Trong trụ sở, Huỳnh Tấn Mẫm và Phan Công Tŕnh nhảy qua của sổ trèo qua xóm người Hoa {Trích Trui rèn trong lửa đỏ, trang 93}


Ai giết cũng được, có thể không phải Huỳnh Tấn Mẫm. Chỉ có một điều chắc chắn là cộng sản đă ra tay hạ sát, v́ Lê Khắc Sinh Nhật bỏ đảng.


Tiếp theo là vô số vụ dùng xăng đốt xe Mỹ hay ném lựu đạn vào các cơ sở của Mỹ, nhất là ngôi nhà 5 tầng, 604 Phan Thanh Giản, cư xá của Sĩ quan Mỹ, Đại Hàn rồi Thái Lan.


Nếu chúng ta nhớ lại, vào năm 1961, an ninh của VNCH ở Sàig̣n, hữu hiệu hơn, nhạy bén hơn, truy lùng đặc công cộng sản đến nơi đến chốn.


Năm 1961, đặc công cộng sản có kế hoạch ám sát đại sứ Nolting do Trần Văn Nhiệm thực hiện. Việc không thành, toàn bộ kế hoạch cũng như nhân sự của đặc công cộng sản bị chính quyền phá vỡ và bọn họ bị bắt hết và đưa ra ṭa. Báo Ngôn Luận đưa tin vắn ngày 24-5-1962 như sau: “ Hôm qua, ṭa án quân sự đặc biệt khu Thủ đô họp xử án “phản nghịch” tại Saig̣n. 8 giờ 30, hai chánh phạm là Lê Hồng Tư, thợ hồ, Lê Quang Vịnh, giáo sư toán trung học Pétrus Kư và 10 bị can khác ra trước vành móng ngựa”.


Sáu tên: Lê Hồng Tư, Lê Quang Vịnh, Lê Văn Thành, Hà Văn Hiệu, Đỗ Văn Xinh, Hồ Văn Ngoan bị truy tố về tội: mưu sát bằng lựu đạn ném vào xe đại sứ Mỹ Nolting, ném vào xe cố vấn quân sự, MAAG ở Chợ Lớn. Lê Hồng Tư và Lê Văn Thành lănh án tử h́nh {trích Trui rèn trong lửa đỏ, trang 38 }.


Nhưng án tử h́nh Lê Hồng Tư không biết v́ lư do ǵ đă không được thi hành. Sau này, Lê Hồng Tư, thợ hồ trớ trêu thay của lịch sử, ông này không c̣n là thợ hồ nữa, ông đóng vai dự thẩm của ṭa án tối cao nhân dân ngồi xét xử bọn gián điệp hơn hai chục tên trong suốt tuần lễ cuối năm 1984. Hai Phiên ṭa, 1962, Lê Hồng Tư mới trên 20 tuổi và 1984, trên 40 tuổi, mọi truyện đă thay đổi không c̣n như trước nữa. Kẻ bị cáo trở thành quan ṭa.


Bài học lịch sử vẫn c̣n đó.


Ngoài Chính Luận c̣n các tờ như:


- Tự Do của Phạm Việt Tuyền


- Quyết Tiến của Hồ Văn Đồng


- Thời Luận của Nghiêm Xuân Thiện

 

 

Nguyễn Văn Lục

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính