Hồ sơ đen về những kẻ phản bội chính trị

 

Nguyễn Văn Lục

 

 

Biết cái chết của anh ḿnh do cộng sản cuồng tín sát hại một cách dă man, làm thế nào họ vẫn có thể nhẫn tâm cúi đầu làm tay sai cho cộng sản?

 

 

Hồ sơ đen về những kẻ bội phản chính trị  ̵  Trahison politique  ̵  trong nhóm trí thức thành phần thứ ba

 

Có thể có hai Hồ sơ đen: hồ sơ đen trong nước sau 1975 và một hồ đen ngoài nước.

 

Hồ sơ đen thứ nhất nói về tội ác của cộng sản trong việc xô đẩy người miền Nam t́m con đường thoát đi ra biển. Hồ sơ này đă được Michel Tauriac và nhà báo Hồ Văn Đồng gọi là Hồ sơ đen về chủ nghĩa cộng sản (1), Le dossier noir du communisme. Hồ sơ này nhằm tố cáo về những chính sách tội ác của người cộng sản đối với người dân miền Nam. Từ đánh tư sản mại bản đến đổi tiền và cuối cùng họ bị đẩy ra biển để tịch thu nhà cửa.

 

Những nạn nhân cộng sản chết trên biển trở thành lời tố cáo tính cách dă man và tàn bạo đối với lương tâm nhân loại. Và thế giới đă gọi họ là những thuyền nhân, Boat People.

 

Đây là một hồ sơ đen như một tội ác diệt chủng (génocide) của chế độ cộng sản chống lại con người. Bộ nội vụ cộng sản đă đề ra Kế Hoạch II nhằm quét sạch những thành phần ‘rác rưởi’ thuộc ngụy quân, ngụy quyền, ném họ ra biển.

 

Trong Hồi Kư của đại tá Châu Thái Hùng, ông cho biết việc mua băi tại tỉnh Đồng Nai, các xă ấp cứ lấy một cây vàng cho hai đầu người. 100 thuyền nhân th́ phải trả 50 cây vàng.

 

Cũng theo viên đại tá này:

 

 

“Thời gian sau t́nh h́nh c̣n diễn biến theo chiều hướng phức rạp hơn. Đó là việc Bộ Nội Vụ ra chỉ thị cho phép các cơ quan công an các tỉnh được quyền tổ chức vượt biên (Lúc bấy giờ gọi là đi bán chính thức)”(2). 

 

Chính sách của Bộ Nội Vụ chẳng khác ǵ một cuộc xuất khẩu người để tịch thu nhà cửa, vàng bạc.

 

Ông Bùi Xuân Quang ở Paris đă để công viết một tập hồ sơ đồ sộ gồm phối hợp vấn đề địa chính trị, géopolitique, vấn đề lịch sử, xă hội trong một cuốn sách dầy 821 trang.

 

Ông có đề cập đến vấn đề thuyền nhân mà theo ông Bùi Xuân Quang trong La troisième guerre D’Indochine, 1975-1999 (3) đem lại cho ngân khố chính quyền cộng sản là 25 tấn vàng. Số vàng ấy trị giá tính ra tiền là 2 tỉ rưỡi Mỹ Kim.

 

Trong khi đó, số người bỏ ḿnh trên biển hiện nay là bao nhiêu? Không một tài liệu nào cho biết chính xác cả. Có người cho rằng cứ ba người sống sót th́ có một nạn nhân xấu số.

 

Dù không có con số chính xác th́ hồ sơ đen tội phạm này của chế độ cộng sản Hà Nội cũng cần đưa ra trước một ṭa án Quốc tế. Trước khi bị xô đẩy ra biển, họ đă mất nhà mất cửa, phải nộp vàng bạc cho mỗi đầu người.

 

Họ đă bị trấn lột khi ra đi chỉ c̣n hai bàn tay trắng. Khi đến được xứ người. Bọn tay chân của Hà Nội, đặc biệt qua Hội Việt Kiều Đoàn kết tại Canada một lần nữa, trấn lột họ một cách tự nguyện: Họ com cóp từng đồng một để gửi về cho thân nhân c̣n kẹt lại bên nhà. Nghĩa là họ bị trấn lột đến hai lần: Lúc ra đi và ngay cả lúc đến định cư ở xứ người. Michel Tauriac gọi họ là những con ḅ sữa bị vắt sữa đến hai lần. Vắt lúc ra đi và lúc tới nơi.

 

Câu chuyện Hồ sơ đen thứ hai -cũng là mục tiêu chính của bài này- được viết lại ngày hôm nay về nhóm sinh viên thiên tả nằm trong một tổ chức có tên là Hội Việt Kiều Yêu Nước Tại Ca-na-đa(4), là một câu chuyện của quá khứ cách đây có thể trên 40 năm. Tưởng đă ch́m vào dĩ văng mà nhiều người trong cuộc tin chắc rằng họ có thể hạ cánh an toàn, gác lại chuyện dĩ vảng và an hưởng tuổi già v́ nay họ đều sấp sỉ tuổi 70 trở lên.

 

Câu chuyện xem ra không đơn giản như họ nghĩ! Và dứt khoát những người tỵ nạn là thuyền nhân trên biển c̣n sống sót sẽ không bao giờ quên được chuyện đó.

 

Hồ sơ đen thứ nhất có thể đă được nhiều tác giả, nhiều sách vở đề cập tới.

 

Nhưng hồ sơ đen thứ hai th́ hầu như đă bị ch́m trong quên lăng nay được khơi lại như một hồ sơ nóng. Những người trong cuộc cần hiểu rằng, họ gián tiếp tay với chính sách của cộng sản Hà Nội. Họ là cánh tay nối dài của cộng sản Hà Nội bằng cách trấn lột tiền bạc, biến những người miền Nam c̣n kẹt lại trong nước thành một thứ con tin.

 

Hiện nay, một loạt hồ sơ đen về những ai thuộc nhóm sinh viên ‘phản chiến’ và được gọi là thành phần thứ ba ra ánh sáng công luận về những điều họ nói và nhất là về những điều họ làm.

 

Đây là một công việc làm nghiêm chỉnh, mất nhiều công sức t́m ṭi tài liệu nguồn! Đưa ra tập hồ sơ đen (Dossier noir) của Hội Việt Kiều Yêu Nước Tại Canada này không nhằm riêng rẽ một cá nhân nào. Và các tài liệu được trích dẫn đều dựa trên những nguồn khả tín nhất hoặc trên băng thu âm, trên tài liệu viết thành sách, trên các báo chí của thời đó.

 

Nó có giá trị của loại tài liệu mang đúng tiêu chuẩn khoa học, đạt tŕnh độ tri thức luận và nhận thức luận cao.

 

Nói một cách nôm na, tập Hồ sơ đen này dựa trên giấy trắng mực đen, có ngày tháng, có h́nh ảnh đi kèm, không thêm bớtv́ thế khả năng phản biện và phủ nhận hầu như là điều không thể.

 

Nó có giá trị thuyết phục ngay đối với những người có tên trong Hồ sơ. Họ chỉ c̣n biết im lặng tâm phục, khẩu phục!

 

Mục đích tối hậu của Hồ sơ đen này là lột trần chân tướng của kẻ đứng đằng sau là đảng Cộng Sản ở Hà Nội. Đảng Cộng sản Việt Nam, qua hai hồ sơ đen này, bộc lộ bản chất tàn độc nhất, dă man một cách tinh vi nhất, thất nhân tâm nhất và cũng xảo trá nhất.

 

Người viết xin thú nhận rằng khi lần đầu tiên tiếp nhận tập tài liệu The Vietcong Front in QuebecMặt trận Việt Cộng ở Québec của Gilbert Gendron vào khoảng đầu tháng tư. Người viết đă hoan hỉ đọc. Nhưng đọc xong lần đầu th́ như thể đụng phải một bức tường. Đọc lần hai và đọc đến lần thứ ba.

 

Nhiều chi tiết quá, không sao nhớ hết được. Đọc trước quên sau. Đọc lại tưởng như chưa đọc.

 

May mắn là sau đó có bài của Trà Mi, Đứng ngoài cuộc chiến. Bài này nó cho thấy một cái trahison politique của đám sinh viên trẻ, trốn lính, nhưng lại mang mặt nạ yêu nước lư tưởng, chống chiến tranh mà tiêu biểu là bốn người trong một cuộc phỏng vấn của John G. Rogers, viết từ 45 năm trước, 14-6-1970, cho tạp chí Parade và cũng đăng trên tờ Washington Post, một tờ báo thường có truyền thống chẳng mấy tốt đẹp ǵ với miền Nam Việt Nam cả. Bốn người này có thể nay chẳng nhớ họ đă phát biểu ǵ trong cuộc phỏng vấn đó. Bốn người trong bức h́nh là Lương Châu Phước, Đỗ Đức Viên, Trần Tuấn DũngNguyễn Văn Nhă.

 

Sinh viên “yêu nước” trốn quân dịch không về nước: (từ trái qua phải): Lương Châu Phước, Đỗ Đức Viên, Trần Tuấn Dũng, và Nguyễn Văn Nhă. 1970. Nguồn: Tạp chí PARADE/Washington Post June 14, 1970

Sinh viên “yêu nước” trốn quân dịch không về nước: (từ trái qua phải): Lương Châu Phước, Đỗ Đức Viên, Trần Tuấn Dũng, và Nguyễn Văn Nhă. 1970. Nguồn: Tạp chí PARADE/Washington Post June 14, 1970


Người nào trông mặt mũi cũng thông minh, bảnh bao mà tâm địa sao hèn kém thế. Bọn trốn lính!

 

Với lời chú thích mỉa mai của người đi phỏng vấn ngay từ năm 1970 mà các chàng ‘ngây thơ’ chẳng hiểu rơ thâm ư của nhà báo.

 

“Sitting out the war: South Vietnamese students evade service by refusing to go home. Most arrived on Canadian government scholarship.”

 

Người viết xin tạm dịch với vốn tiếng Anh ăn đong như sau:

 

Ngồi ngoài cuộc chiến ở Montréal: các sinh viên của miền Nam đă trốn lính bằng cách từ chối quay trở về miền Nam. Hầu hết họ đă đến đây qua học bổng của chính quyền Canada.

 

Trong đó, trừ Đỗ Đức Viên, ba người kia sau này đều có chức vụ, giữ vai vế quan trọng trong Hội Việt Kiều Yêu Nước Tại Ca-na-đa. Định mệnh sắp xếp chăng?

 

Trong h́nh, người viết, do một người bạn đă giúp, nhận diện ra Nguyễn Văn Nhă giống hệt nhà văn Y Uyên, một chuẩn úy Địa phương quân đă hy sinh tại Phan Thiết. Đúng là cha mẹ sinh con, trời sinh tính. Người anh làm anh hùng, thằng em bất nghĩa theo giặc!

  

 

Thầy giáo/nhà văn Y-Uyên (Circa 1968) (t). SV phản chiến Nguyễn Van Nhă 1970. DCVOnline tổng hợp

(T) Thầy giáo/nhà văn Y-Uyên | Circa 1968. (P) SV phản chiến Nguyễn Văn Nhă, 1970.


Tiếp đến bài của Lê Quốc Trinh, Lời sám hối muộn màng. Có thể Lê Quốc Trinh đă cho nổ một quả bom nổ chậm trong nội bộ đám Việt kiều yêu nước. Lời văn, giọng điệu chân thật, chữ dùng hầu như chưa gọt dũa, c̣n nguyên vẹn bản chất con người của một người có thói quen ‘cầm búa sửa nhà’, tay chắc dính dầu, bùn đất v́ vốn là kỹ sư làm trong ngành mỏ như tác giả tự mô tả.

 

Chính ở chỗ đó làm nên cái đẹp của tác giả.

 

Tác giả mở đầu, Hôm nay ngày 3 tháng 3 năm 2015, tôi quyết định viết bài sám hối…

 

lời cuối trong bài Sám Hối:

 



 

“Nghĩ lại thời gian đă qua, tôi thầm tiếc nuối cho một đời thanh niên đă bị lừa dối, bị đánh cắp và cảm thấy rất ăn năn v́ đă không trực tiếp góp phần với cuộc đấu tranh đ̣i lại công lư cho toàn thể nhân dân miền Nam.”

 

Tôi đă đọc nhiều những sách viết về thái độ phản tỉnh của các nhà văn trí thức như Thanh Lăng, Chân Tín, Lê Hiếu Đằng, Tiêu Dao Bảo Cự, Đào Hiếu, Ngô Công Đức, Trần Đức Thảo, Tô Hải, Hoàng Hữu Quưnh, Nguyễn Văn Trấn, Trần Độ, Hà Sĩ Phu, Hoàng Minh Chính, v.v...

 

Nhưng đây là lời sám hối khác hẳn các trường hợp trên.

 

Không phải người trong đảng, hoạt động nhiều năm trong ḷng chế độ. Nhưng ông là một cựu sinh viên ở hải ngoại, có tŕnh độ, có dịp sống trong môi trường xă hội chính trị có truyền thống dân chủ. Vậy mà từ năm 1973, ông đă tự nguyện hoạt động cho Cộng Sản qua hội Việt kiều yêu nước.

 

Lời thổ lộ của ông mộc mạc mà cũng trung thực nhất! Thẳng thừng không úp mở.

 

Và theo đúng tinh thần ngưởi chủ chiên trong Phúc Âm kể lại là mỗi khi có một con chiên trở về th́ người chủ chiên sai mở tiệc ăn mừng sự trở về ấy. Tôi cũng có niềm hân hoan ấy khi đọc Lời sám hối của Lê Quốc Trinh. Ông Lê Quốc Trinh đă có thời là bè bạn, là đồng chí của những thành viên trong Hội Việt Kiều Yêu Nước Tại Ca-na-đa. Mặc dầu gia nhập hội trễ năm 1973, nhưng ông là người có công đóng từng cái bàn, cái ghế, ngăn pḥng, sửa chữa hội quán ở số 1450 Beaudry, năm 1980. Những tiết lộ của ông giúp phần đông bạn đọc, những ‘boat People’ hiểu được cái tổ chức trên cũng như công việc của họ.

 

Tuy nhiên tôi cũng không đến nỗi quá ngây thơ đển tin rằng một ngày nào đó những Nguyễn Văn Nhă, Trần Tuấn Dũng, Quách Tinh Văn, Lương Châu Phước lại có thể có lời sám hối tương tự.

 

Bởi v́ trong một bài viết nhan đề Nhân đi thăm Tích Lan, trong nhóm sinh viên Colombo 1964, ông Lương Châu Phước trong phần kết luận có viết:

 

“Thôi th́ cũng phăi tự tha thứ và tự an ủi rằng ít ra là ḿnh biết nhớ ơn, dù có muộn màng và sau khi đă nhận lănh sự giúp đỡ, đă không làm điều ǵ sai quấy, không đem phiền muộn cho ai…”

 

Điều này cho thấy, ông Lương Châu Phước không nhận thức rơ được việc làm của ông trong Hội Việt kiều yêu nước của ông. Tôi đă có dịp đọc tờ Đất Việt do ông làm “Tổng biên tập”. Một số nội dung báo Đất Việt cho thấy tính cách tuyên truyền từ cách chọn bài, chọn tác giả, chọn thông tin, tên tuổi các ông cộng sản như Nguyễn Cơ Thạch, Vơ Văn Kiệt, Trần Bạch Đằng. Chắc rằng ông đă viết sai sự thật hay che dấu sự thật không ít.

 

Cộng tác viên trong nước th́ có Trần Bạch Đằng, Sơn Nam, Vũ Hạnh, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Ngọc Linh. Đặc biệt đăng truyện dài Ông cố vấn của Hữu Mai. Hữu Mai là Trần Bạch Đằng.

 

Cảm tưởng của tôi là nó giống như một tờ báo đảng ở Sài G̣n. Báo in và xuất bản ở Montréal của Hội Việt kiều mà tuyệt nhiên không có bài vở, sinh hoạt ở đây!

 

Chỉ xin gửi đến ông một số đề thi tú tài hai bên Pháp năm nay cho 685.000 thí sinh. Riêng thí sinh ban Khoa học thực nghiệm (S) th́ đề thi triết năm nay như sau:

 

“La politique échappe-t-elle à l’exigence de la vérité?” Làm chính trị có cần tôn trọng sự thật không?

 

Chắc là ông không làm được bài thi này. Tôi là thầy giáo dạy môn Triết, đành đánh rớt ông thôi!

 

Với tư cách một người đọc, một người đứng xa, đứng ngoài không có quan hệ quen biết ǵ với đám người trong tổ chức trên, trừ một hai người vốn quen biết sẵn, tôi xin đóng góp như cái nh́n thứ hai (second regard) vào tổ chức này.

 

Cái nh́n của người viết mang tính cách đánh giá và phê phán cá nhân cũng như tổ chức này và đặt ra một số câu hỏi.

 

 

Hài danh tính một số thành viên phản bội chính trị trong tập Hồ sơ đen ở hải ngoại

 

Cho đến nay, đa số trong số gần 40.000 người Việt sinh sống và định cư ở Montréal đă không hề biết ǵ về những thành viên trong tổ chức hội Việt kiều yêu nước cũng như công việc họ làm.

 

Đó là một thiếu sót mà người viết thấy cần thiết phải làm.

 

Nhiều người từng là thành viên của nhóm Hồ sơ đen Việt kiều yêu nước nay đă chọn sự im lặng và tránh mọi tiếp xúc hay tránh không muốn cho phỏng vấn.

 

Tại sao họ phải làm như vậy?

 

Chỉ v́ nay họ biết cái trách nhiệm, cái sai phạm mà họ đă làm trong quá khứ cách đây 40 năm! Họ không muốn ai nhắc tới nữa.

 

Tiêu đề Trahison Politique là muốn nhấn mạnh là tất cả thành viên của Hội này đều gốc gác ở miền Nam hoặc di cư từ Bắc vào Nam trong cuộc di cư năm 1954-55. Họ đă được ăn học, giáo dục đến nơi đến chốn cho đến lúc đỗ xong hai bằng tú tài.

 

Không có miền Nam, không có nền giáo dục tốt đẹp của miền Nam, không có sự chọn lựa công bằng trong sự tuyển chọn th́ dù họ học giỏi – Tôi nhận thức một cách không khâm phục – khi trong thâm tâm, họ cho rằng, họ giỏi nên chẳng cần ai, họ đương nhiên được đi du học.

 

Nói thật, không có những điều kiện ắt cỏ và đủ ở miền Nam. Thân phận họ không được như vậy!

 

Vậy mà họ chưa một lần biết cám ơn miền Nam. Họ cũng chưa hề đóng góp công sức ngay cả phục vụ trong quân ngũ như những thanh niên khác đồng lứa tuổi với họ.

 

Họ thiếu cái t́nh con người mới không hiểu rằng biết bao nhiệu thanh niên cùng trang lứa với họ đă phải nhập ngũ, ra chiến trường và chết thay cho họ. Tôi đọc Đỗ Lệnh Dũng của Lê Thiệp và cảm thức được cái oan nghiệt của cuộc chiến tranh(5). Mười tám tuổi, hào hùng, lúc nào điếu thuốc lá cũng trên môi như một thách thức, từ giă tuổi trẻ Sài G̣n, từ giă cha mẹ, nhập ngũ, rồi mất tích giữa Chiến Khu D sau một trận đánh dữ dội.

 

Thử hỏi xem họ có cái ǵ hơn Đỗ Lệnh Dũng?



 

Trường hợp Nguyễn Văn Nhă, Nguyễn Văn Hương và nhà văn Y Uyên

 

Tôi biết nhà văn Y Uyên đă lâu. Nhưng lại không bao giờ có ư tưởng liên kết nhà văn chết trước 1975 với hai người em của ông ở Canada, cho đến khi tôi viết bài này.

 

Thật là một cái duyên kỳ lạ.

 

Gia đ́nh Y Uyên vốn người Bắc di cư. Ông cụ bị cộng sản lên án tử h́nh khiếm diện. Năm 1954, ông cùng với đại gia đ́nh di cư vào Nam và định cư tại G̣ Vấp, nơi có đông đồng bào công giáo di cư lập nghiệp. Gia đ́nh ông theo đao Phật. Căn nhà của gia đ́nh Y Uyên ở số 109-2C đường Thống Nhất, quận 11, G̣ Vấp.

 

Ngày 8 tháng 1, năm 1969, nhà văn Y Uyên đă vĩnh viễn ra đi. Trước khi ra đi, anh cũng đă gửi cho Ng., người yêu của anh, kể chuyện về đêm Noel lạnh lẽo ở núi đồi với một lời chúc, Mừng em ăn tết, năm mới thật nhiều bánh kẹo.

 

Năm nào gia đ́nh anh cũng làm lễ giỗ, tổ chức long trọng và mời bạn bè anh đến dự. Nguyễn Văn Hương, em ông, là người mong muốn tái bản 6 tác phẩm của anh ḿnh.

 

Như nhiều thanh niên khác đă không được cái may mắn như họ và nhiều người đă hy sinh v́ lư tưởng quốc gia như trường hợp chuẩn úy Nguyễn Văn Uy – bút hiệu Y Uyên. Ông đă hy sinh tại đồi Nora, gần chân núi Tà Lon (c̣n gọi là Tà Zon, Tà Dôn), B́nh Thuận năm 1969, lúc vừa 29 tuổi.

    
Chuẩn úy Nguyễn Văn Uy trước hầm trú ẩn ở đồn Nora, vùng núi Tà Dôn, B́nh Thuận. 1969. Nguồn Thư quán Brn thảo số tháng 2/2005
 

Chuẩn úy Nguyễn Văn Uy – nhà văn Y Uyên – trước hầm trú ẩn ở đồn Nora, vùng núi Tà Dôn, B́nh Thuận. 1969. Nguồn Thư quán Bản thảo số tháng 2/2005

 

Bạn bè thân hữu, nhà văn rất đông trong tạp chí Văn đă ra số tưởng niệm ông. Tên tuổi nhiều người như Thư Trung, Vơ Hồng, Mường Mán, Huỳnh Phan Anh, Thanh Tâm Tuyền, Trần Phong Giao, Cao Thoại Châu, Trùng Dương, Nguyễn Mạnh Côn, Trần Hiền Ân, Lê Bá Lăng và người bạn chí thiết của ông Mang Viên Long, v.v...

 

Nhắc tới ông, v́ ông là anh ruột của những kẻ đă phản bội miền Nam là Nguyễn Văn Nhă, và Nguyễn Văn Hương.

 

Thật uổng phí cho sự hy sinh cao cả của cố thiếu úy Nguyễn Văn Uy. Và cũng thật đáng hổ thẹn v́ ông có hai người em ruột bất xứng.

 

Ông Nguyễn Văn Nhă nay là đại gia. Người ta nói với tôi như thế. Vợ ông cũng là thứ đại gia giầu ngất ngưởng. Ông không thể ngờ rằng có ngày hôm nay, có một nhóm người cầm bút trước 1975 trong Thư quán Bản thảo. Họ đă có ḷng và bỏ công sức thời giờ cũng như tiền bạc, đă sưu tập tất cả truyện ngắn của nhà văn Y Uyên. Và in lại trong Tuyển Tập truyện thời chiến của nhà văn có tên tuổi mà tuổi đời mới 29, người miền Nam, một chiến sĩ Việt Nam Công Ḥa đă nằm xuống năm 1969.

 

Tôi xin trích lại một bài thơ cuả Trần Hiền Ân đăng trên Bách Khoa tháng 01-69 để tưởng nhớ Y Uyên với những câu:

 

“Ḿnh tôi ngồi đây thương tiếc anh

Càng thêm căm uất cuộc tương tranh

Đầy sông máu đục t́nh huynh đệ

Xương trắng từng phơi biết mấy thành”

 

Tôi cũng xin trích dẫn lời giới thiệu tập sách của nhà văn Y Uyên được Thư Quán Bản Thảo in lại ở hải ngoại:

 

“Việc sưu tầm 9 truyện ngắn này quả thật là cả một sự khó khăn đối với chúng tôi… Chúng tôi phải nhờ những bạn bè cầm bút cũ trong nước ra công t́m kiếm những sáng tác của ông đăng rải rác trên những tạp chí văn học miền Nam trước 1975 […] Những trang tạp chí ấy hôm nay đă ố vàng với thời gian, nhưng truyện ngắn của Y Uyên vẫn không-và-không-bao- giờ ‘ố vàng’ trong ḷng độc giả miền Nam, trong ḷng bạn bè của ông hôm nay.”(6)

 



 

Là trai thời binh lửa th́ chuyện gục ngă ở sa trường là chuyện thường ngày trong suốt cuộc nội chiến Việt Nam. Nhưng cái chết của chuẩn úy Nguyễn Văn Uy không phải là một cái chết b́nh thường. Xin trích một đoạn trong bài Núi Tà Dôn và dấu chân Uy của Lê Văn Chính (Sương Biên Thùy) đă đăng trong Tạp Chí Văn, số 129, phát hành ngày 1 tháng 5 năm 1969 – Số đặc biệt thương nhớ Y-Uyên.

 

11.1.1969

 

Tôi nghĩ Uy sẽ không bị chết nếu bị bắt, nếu Uy biết cách nói cho những người ở phía bên kia biết Uy là một nhà văn. Tôi cũng nghĩ đến trường hợp, sau khi bị bắt, Uy sẽ được ra Hà Nội, và guồng máy tuyên truyền phía bên kia sẽ khai thác nhà văn của chúng ta. Nhưng tất cả những điều tôi tưởng tượng đều trái ngược với thực tế, một thực tế phũ phàng, tàn nhẫn: Y Uyên, sau khi chết rồi, c̣n bị bắn bồi mấy phát súng ở mắt, tai và đâm bồi thêm mấy nhát dao ở hai cánh tay và hai bên hông.

 

Tôi không có mặt khi bạn hữu tẩm liệm chàng, nhưng Học nói lại những nhận định như thế khi quan sát xác chết với những dấu đạn, dấu dao trên ḿnh chàng. Có những dấu đạn người ta biết được là từ đâu, như thế nào, và người ta cũng biết được những dấu đạn nào là vô ích, là của hận thù. Trên thân xác của Uy, khi chở về Quân y viện, có những dấu đạn thừa, những dấu dao vô lối. Những dấu đạn, vết dao không thể cắt nghĩa được. Nếu không phải là chúng có từ những thù hận ghê gớm, những chất ngất căm hờn, th́ không thể làm sao t́m ra lư do giải thích sự hiện diện của chúng trên thân h́nh một người đă chết.

 

Từ những dấu đạn vết dao đó, tôi có một nhận định về những người ở bên kia chiến tuyến. Tôi không hiểu bằng cách nào, trong cuộc chiến tương tàn, ṛng ră hơn hai mươi năm này, những người lănh đạo cộng sản đă dạy cho binh lính của họ như thể nào để ḷng thù hận chất ngất mênh mông đến thế? Tôi chấp nhận những viên đạn thứ nhất là hợp lư – Ừ, th́ cứ cho là hợp lư. Nhưng những viên đạn bắn bồi, những nhát dao đâm thêm trên một xác thân đă chết là những viên đạn, những nhát dao không thể cắt nghĩa, không thể chấp nhận được. Những người Cộng sản Việt Nam đă làm những điều dă man như thế, khởi đi từ ḷng thù hận, từ sự cuồng tín. Từ đó, chúng ta có một nhận thức mới, họ mù quáng trong khi chiến đấu, họ không mảy may hiểu về những căn nguyên cuộc chiến tương tàn này.”(7)

 



 

Tôi tự hỏi, cách ứng xử nào được coi là tốt đẹp nhất, nếu tôi là em của của cố thiếu úy Nguyễn Văn Uy!

 

Tôi cũng hỏi Nguyễn Văn Nhă, Nguyễn Văn Hương như thế. Tôi thật sự không hiểu được con người các ông Nhă và Hương. Họ đă có một người anh, một nhà văn, một người anh đă hy sinh ngoài chiến trường(8).

 

Khi Nguyễn Thái B́nh, một sinh viên du học ở Hoa Kỳ, ngày 1 tháng 7, 1972 trên đường về nước, âm mưu cướp máy bay và bị giết, xác ném xuống phi đạo th́ một số người trong HVKYNTC mà hai ông Hương và Nhă là thành phần lănh đạo đă định chiếm lănh sự quán của Mỹ ở Montreal để trả thù cho đồng chí/không tặc(9). Tôi lại tự hỏi, thế những người thân cộng đó và cả hai anh Hương và Nhă đă nghĩ ǵ và đă định làm ǵ khi biết chuẩn úy Nguyễn Văn Uy chết như thế nào bên một ḍng suối ở chân núi Tà Dôn vào ngày 8 tháng 1, 1969.

 

Biết cái chết của anh ḿnh do cộng sản cuồng tín sát hại một cách dă man, làm thế nào họ vẫn có thể nhẫn tâm cúi đầu làm tay sai cho cộng sản?

 

Tôi chỉ hỏi họ điều đó thôi. Điều mà tôi cũng đă hỏi tiến sĩ triết học Thái Kim Lan, cha bị Việt Minh sát hại lúc 5 tuổi chỉ v́ làm công chức bưu điện cho Pháp. Nghĩ tới cảnh mồ côi cha, biết bao thiệt tḥi, vậy mà cũng cúi đầu đi theo cộng sản?

 

Thật sự tôi không hiểu được họ, Tôi không thể nào hiểu được họ. Họ có đầu không, có trái tim không? Có một chút ḷng thương tiếc anh ḿnh không?

 

Và nhất là họ có c̣n bản tính người không? Nếu không, họ c̣n thua cả loài súc vật.

 

Hoàn cảnh miền Nam mà mỗi người mỗi phía là hoàn cảnh không tránh được. Phần tôi, tôi có một người anh ruột, bị tù cộng sản trên suốt 20 năm. Và tôi nghĩ rằng, tôi không cần biết họ là ai, là cộng sản hay không cộng sản. Kẻ nào ám hại anh tôi th́ tôi căm thù họ suốt đời.

 

Tâm trạng ấy, tại sao lại không có được nơi Nguyễn Văn Nhă, Nguyễn Văn Hương?

 

Sau đây, tôi xin ghi chép đầy đủ tên một số những thành viên của Hội Việt Kiều Đoàn Kết Tại Ca-na-đa.

 

  • Vĩnh Anh.

  • Vơ Văn Bang, đại gia ở Việt Nam.

  • Tạ Công Bằng, về Việt Nam và chết đuối một cách bí ẩn ở sông Trà Khúc.

  • Thục B́nh.

  • Phan Minh Dũng và vợ.

  • Trần Tuấn Dũng, Phân hội trưởng Phân hội Sinh viên HĐKVKTC, Phó Giám Đốc Vinamedic Inc., công ty xuất cảng dược phẩm và vải may mặc, thành lập năm 1981, thuộc nhóm Đổi Mới, có mặt ở Hà Nội năm 1988.

  • Phan Kim Điển, thành viên Hội đồng quản trị Q.T.K Express Inc và CIIC Internatioal Investment & Trade Corporation mà giám đốc là Nguyễn Văn Hương.
    Phí Thịnh Đức, giáo sư khoa kỹ sư Điện tại đại học Moncton.

  • Hoàng Hải Học, giáo sư trường Ecole Polytechnique, Montreal, không có mặt ở trong phiên họp tháng 10, 1988, nhưng được cộng sản giao trách nhiệm trong buổi họp giải quyết tranh chấp hai phe.

  • Nguyễn Mạnh Hùng, dạy khoa kinh tế đại học Laval, sinh hoạt văn học với bút hiệu Nam Dao.

  • Nguyễn Văn Hương, cựu chủ tịch HĐKVK đến năm 1986, giám đốc Q.T.K. Express Inc., và CIIC Internatioal Investment & Trade Corporation, em của nhà văn Y-Uyên. Nay th́ Nguyễn Văn Hương thường ở Việt Nam.

  • Lưu Liên, nhân viên quản lư của Laser Express Inc. Bị thất sủng và khai trừ ra khỏi mọi chức vụ.

  • Phí Thịnh Long, Toronto.

  • Nguyễn Xuân Lộc.

  • Tôn Nữ Thị Nga, Chủ tịch Vietimex.Inc, vốn là 98.000 đô la, Lưu Liên Phó chủ tịch, Huỳnh Hữu Tuệ, Phó chủ tịch và Lê Tiền Phong, Tổng thư kư.

  • Nguyễn Văn Nhă, Phân Hội trưởng, Phân hội Trí thức HĐKVKTC, Giám đốc Vietimex Inc. và Giám Đốc Vinamedic Inc. Nhă c̣n thành viên Mặt Trận tổ quốc. Nhă thuộc nhóm đa số thuộc Thành Viên Ban Thường Vụ. Nhă cũng có mặt theo sự triệu tập của Hà Nội năm 1988 để giải quyết tranh chấp giữa hai phe: Phe Thường vụ và phe Đổi Mới. Công ty Vinamedic của Nhă có những thùng thuốc gửi bằng Telex về Việt Nam. Có các thùng 55 đô la Mỹ, thùng 100 đô la Mỹ và thùng 200 đô la Mỹ. Có những thùng đặc biệt lên đến 220 đô la và 320 đô la.

  • Oanh, trong nhóm Thường Vụ.

  • Lê Tiền Phong, Thái Thị Khánh Hạnh, vợ Lê Tiền Phong; chồng về Việt Nam năm 1988, theo lệnh triệu tập của Hà Nội, ở trụ sở Ban Việt Kiều Trung Ương. Ông đứng về phe Thường vụ-Kinh doanh như trong hồ sơ Vixileaks của Trần Giao Thủy tiết lộ. Ông đă qua đời v́ ung thư phổi khi quay trở lại Canada.

  • Đinh Văn Phước và vợ.

  • Lương Châu Phước, nguyên Tổng Biên Tập (Chức vụ giống hệt như ở Việt Nam sau 1975) tờ Đất Việt, được trả lương, được cung cấp xe hơi. Đă mất job chủ báo từ năm 1987 nhưng cũng về Việt Nam năm 1988, thuộc Nhóm Đổi Mới. Hội Việt Kiều đoàn kết vỡ làm hai năm 1990, và hoàn toàn ngưng hoạt động sau 1991. Nay Lương Châu Phước lấy cửa chùa làm nơi nương tựa. Bỏ dao thành Phật.

  • Lê Phúc và vợ

  • Lê Hữu Phùng, bác sĩ tốt nghiệp ở Pháp. Chủ tịch ủy ban cố vấn HĐKVKTC, thành viên Hội Đồng quản trị Laser Express.

  • Dương Quư

  • Nguyễn Minh Sang, đại úy nha sĩ, đào ngũ. Chụp h́nh cùng vợ con, trên mặt bàn c̣n để chiếc mũ kêpi sĩ quan, nhưng đằng sau treo cờ giải phóng. Ở Toronto, đă cộng tác với tờ Đất Việt. Con trai y, cũng là nha sĩ, cũng đi theo vết chân lấm bùn của bố. Cha nào con nấy!

  • Đỗ Lâm Sinh.

  • Nguyễn Kỳ Toàn, dạy đại học Quebec tại Trois-Rivières.

  • Nguyễn Thị Thanh, vợ Lương Châu Phước.

  • Lê Quốc Trinh, kỹ sư khai khoáng. Tác giả Lời sám hối muộn màng, Đôi lời tâm sự và bài Yêu nước hay yêu tiền đă đăng trên DCVOnline.net

  • Vơ Văn Trương, giáo sư đại học Moncton.

  • Vơ Quang Tu, nhân viên của ṭa đại sứ Việt cộng năm 1979. Trong Hội Đồng Quản trị của công ty Laser Express Inc. thành lập tháng 7, năm 1980 cùng với Lê Hữu Phùng, Mai Tất Đắc, Nguyễn Cao Đàm, Nguyễn Như Thường. Trị giá cơ sở địa ốc của công ty là 239.900 đô la vào năm 1986.

  • Nguyễn Đức Tuấn.

  • Phạm Ngọc Tuấn, trong Hội Đồng Quản trị Vietimex Inc. Công ty này giải thể năm 1997.

  • Huỳnh Hữu Tuệ, giáo sư khoa kỹ sư Điện, chủ tịch HNVTC từ năm 1986, thuộc nhóm Thường Vụ, có mặt năm 1988 trong vụ tranh chấp giữa hai nhóm: Thường Vụ và Đổi Mới, hiện t́nh nguyện về dạy học tại trường Đại Học Quốc Tế trong Đại Học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh. Việt Nam.

  • Lư Thanh Tùng.

  • Nguyễn Quát Ti.

  • Quách Tinh Văn, có anh ruột là Quách Tinh Cần, đỗ thủ khoa sĩ quan Đà Lạt, khóa 20, ngày 20-11-1965. Quách Tinh Cần sau đó làm sĩ quan tùy viên cho đại tướng Cao Văn Viên. Đây là một hoàn cảnh bi kịch của miền Nam khi gia đ́nh chia hai, mỗi người đứng về một phía. Quách Tinh Văn, Phó Giám đốc Vietimex Inc., Phó Giám đốc Laser Express Inc., Phó Giám đốc Vinamedic Inc. chuyển hàng về Việt Nam.

  • Đỗ Đức Viên.

  • Phùng Kim Vy, vợ Nguyễn Văn Nhă, sang Canada năm 1975, là giám đốc Saigon Tours, Montréal, Giám đốc Khu du lịch Thiên Phú – Seahorse Resort Phan Thiết, Phó chủ nhiệm Câu lạc bộ Doanh nhân Việt kiều, hiện là Chủ tịch HĐQT The Cliff Resort & Residences (Khu nghỉ dưỡng Dốc Đá) ở Phan Thiết (B́nh Thuận), v.v.

 

(T) Cựu Thủ khoa Trường Vơ Bi Quốc gia Việt Nam - Khóa 20,  cựu đại úy VNCH Quách Tinh Cần (2010). (T) SV thân cộng, doanh nhân Quách Tinh Văn (2014). Nguồn: DCVOnline tổng hợp

(T) Cựu Thủ khoa Trường Vơ Bị Quốc gia Việt Nam – Khóa 20, cựu đại úy VNCH Quách Tinh Cần (2010). (P) SV thân cộng, doanh nhân Quách Tinh Văn

 

Trong số những người trên, có nhiều cấp độ tham gia: tham gia ít hay nhiều, tích cực hay không tích cực, tham gia như một cảm t́nh viên hay v́ ṭ ṃ.

 

Có nhiều người tham gia nhưng vẫn giữ được tinh thần tự trọng, có nhân cách.

 

Có người tham gia chỉ v́ tiền, v́ quyền lợi. Có những người bị lợi dụng. Có những người là nạn nhân. Có những người bị thất sủng, bị khai trừ. Có những người nay chỉ có tên mà thực sự họ đă tránh xa, không dính dáng với chuyện làm ăn của hội. Có những người chỉ có tiếng mà không có miếng.

 

Nói chung có một sự phức tạp ràng buộc trong cách thức tham gia vào Hội. Điều thứ hai, khi hội có liên hệ chặt chẽ với ṭa đại sứ cộng sản ở Ottawa th́ chỉ những thành viên nào tỏ ra ‘biết điều’ mới được tin dùng.

 

Như trường hợp bác sĩ Lê Hữu Phùng mà chức vụ chính thức là Chủ Tịch Ủy Ban Cố vấn! The President of UGVC’s Committee of counsellors. Ai cũng thừa hiểu rằng chức vụ đó chỉ có danh tước mà không có quyền hành ǵ trong nội bộ tổ chức. Và cũng chẳng chấm mút ăn được cái giải ǵ cả.

 

Một trường hợp khác, Trần Tuấn Dũng, Đỗ Đức Viên, Nguyễn Xuân Lộc. Cả ba đều làm cho một hiệu sách nhỏ có tên Librairie Hồ Chí Minh, ở số 72, đường Prince Arthur, phía Đông, Montreal. Họ đă bị bắt lầm trong sự kiện Khủng hoảng tháng Mười tại Canada (October Crisis, 1971) v́ đă có mặt ở một chỗ đáng lẽ họ không có mặt, nhà của một nhân vật trong danh sách cảnh sát cần bắt giữ. Họ không phải là mối quan tâm của chính phủ Canada và đă được phóng thích vài ngày sau đó.

 

Có trường hơp đặc biệt như trường hợp vợ chồng Nguyễn Tấn Phục và Hoàng Thị Vĩnh Thủy; cả hai đă t́nh nguyện về Việt Nam năm 1977. Đến năm 1979, biết rơ bộ mặt thật của chế độ và quyết định trốn được sang Mă Lai và nhờ có hai con có quốc tịch Canada nên được bốc đi ngay sang Canada.

 

Từ đó, họ chọn thái độ quy ẩn. Thái độ này, tôi cho là đáng trách. Đáng lẽ họ nên cho đồng bào ở đây biết rơ nguyên do nào họ phải liều chết trốn ra khỏi Việt Nam.

 

Họ c̣n sợ cái ǵ? Không lẽ bóng ma cộng sản vẫn chập chờn trong giấc ngủ của hai vợ chồng sau 40 năm? Cộng đồng người Việt ở đây rộng tay đón họ như thể đón đứa con trở về như một niềm vui, như xóa sạch nợ nần, ân oán!

 

Nợ nần ai làm người đó trả. Họ có làm ǵ đâu?

 

Nhưng thực chất những người vừa nêu tên tuổi trên kia họ là ai mới được?

 

Thưa đó là những thành phần có ăn học, được các chính phủ thời Đệ Nhất và Đệ Nhị cộng ḥa cho học bổng đi học tại Pháp, tại Mỹ, tại Tân Tây Lan và tại Đức, Thụy Sĩ và nhất là tại Canada. Trong đó có 40 người đi với học bổng của chương tŕnh Colombo vào năm 1964.

 

Ông Huỳnh Văn Lang, một sinh viên du học lớp thế hệ 1945-1955 đă nhận xét về thế hệ sinh viên du học của ông như sau:

 

“Phải nói ngay là số người ra đi rồi c̣n về làm được cái ǵ th́ thật ra quá ít ỏi… Xă hội Việt Nam đầu tư vào sinh viên Việt Nam trong thập niên 1945-1955 kể như hoàn toàn thua lỗ. Một tỉ dụ cụ thể: chiếc tầu Champollion của tôi đi đă chở theo 240 sinh viên mà sau đó 5, 6 năm, khi về nước, tôi chỉ gặp ba sinh viên học hành thành đạt và đă về làm việc ở quê nhà trong đó có anh Ngô Trọng Anh, Nguyễn Quang Lệ, Hoàng Anh Tuấn và không biết có ai khác nữa không. Thật là một mất mát quá lớn cho Quốc gia […] Nhưng dù sao đi nữa tỉ lệ người ra đi và trở về có thể phỏng định không quá 10% mà trong số 10% này c̣n phải kể là hết phân nửa chỉ trở về với một cái bằng nhảy đầm hay thợ rửa h́nh là cùng.”(10)


 

Ông Huỳnh Văn Lang c̣n nhận xét thêm là Pháp có ư viện trợ kỹ thuật và y tế cho Việt Nam vào năm 1961 là 12 bác sĩ đủ các ngành.


 “Trong khi đó, ở trong nước gom tất cả các bác sĩ tốt nghiệp y khoa Hà Nội và Sài g̣n và cả từ các trường y khoa bên Paris và Montpellier bên Pháp về th́ chỉ gom được 158 ông. Trong khi đó chỉ trong vùng Métropolitain Paris đă có đến trên 260 bác sĩ người Việt đang hành nghề, có nhiều bác sĩ chuyên môn. Thế th́ ai viện trợ cho ai ?”

 

Một nhận xét cuối cùng của ông Huỳnh Văn Lang:

 

“Ngoài những sinh viên làm chính trị, một số lớn sinh viên Việt Nam con ông cháu cha đi qua Pháp là để trốn lính và chơi bời hơn là học hành. Lúc bấy giờ xă hội Pháp c̣n nghèo nàn quá, các cô gái Pháp lại rất dễ dăi với sinh viên Việt Nam, v́ sinh viên Việt Nam rất hào phóng, đồng bạc Việt Nam ăn những 17 quan, những bao gạo trắng ba, bốn kư và nhất là những gói tiêu đen một hai kư là những món hàng thị trường Pháp đang đ̣i hỏi thật mạnh mà nhiều sinh viên Việt Nam sanh ra chuyên môn chợ đen hàng hóa, không kém ǵ chợ đen đồng quan Pháp.”(11)

 

Hoạt cảnh mà ông Huỳnh Văn Lang mô tả về giới sinh viên du học dưới thời Bảo Đại có phần bát nháo không phản ảnh thực trạng giới sinh viên thế hệ 1960. Nhiều sinh vên thế hệ 1950 được gửi sang Pháp là loại con ông cháu cha nên đă không học được.

 

Nhưng nó cũng hé lộ cho thấy một góc tối về một số sinh viên do những hoàn cảnh riêng đă không đáp ứng được đ̣i hỏi chung của tŕnh độ đại học ở nước ngoài. Cộng thêm những trở ngại về ngôn ngữ, cuộc sống cô độc thiếu sự nâng đỡ và chia xẻ khi gặp những khó khăn.

 

Bản thân người viết có biết một trường hợp một nữ sinh viên con nhà có một vị thế ưu đăi trong xă hội được gia đ́nh gửi đi du học. Có thể là v́ gặp những khó khăn trong việc học, cô đă sống cuộc sống ngoài khuôn khổ, rồi cặp với một sinh viên ngoại quốc và tụt sâu xuống một bực nữa, cô trở thành gái điếm đứng đường. Số phận kết thúc một cách bi thảm là cô đă bị bọn du đăng giết và vứt ra đường như xác vô thừa nhận!

 

Việc một số sinh viên trở thành thiên tả, xoay ra hoạt động chính trị có phần do những lư do chẳng có ǵ là chính trị cả.

 

40 sinh viên theo chương tŕnh Colombo đến Canada đáng lẽ phải về nước làm việc sau thời hạn bốn năm th́ hầu như đều t́m cách trốn ở lại.

 

Năm 1957, Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm có yêu cầu ông Huỳnh Văn Lang đi một ṿng thế giới t́m hiểu xem sinh hoạt, đời sống của sinh viên đi du học. Khi về ông Lang báo cáo với ông Diệm một kết quả thật phũ phàng là hầu hết sa vào chuyện đàn bà con gái. Đa số sống bất hợp pháp nên cũng lấy vợ đầm để hợp thực hóa. Ngay cả làm hôn thú với các cô gái ăn sương ở tiệm Rickshaw ( 力車, Lực Xa, Xe Kéo) ở phố Tầu Montréal nếu cần để được ở lại chính thức.

 

Cũng do t́nh trạng hôn nhân tạm bợ đó mà nhiều cặp đă đổ vỡ, nhất là từ năm 1975 có nhiều cô gái trẻ đẹp tỵ nạn mới tới!

 

Cũng cần nói thẳng là nữ sinh viên Việt Nam không muốn lấy mấy anh sinh viên thân cộng này.

 

Phần Tổng thống Diệm, sau đó đă cho thiết lập một quán cơm Việt Nam đầu tiên cho sinh viên Việt Nam tại Paris. Rất tiếc những ngươi có trách nhiệm quản lư quán cơm đă tham lam đến cuối cùng phải đóng cửa.

 

Những ǵ ông Huỳnh Văn Lang nhận xét là một thực tế nan giải.

 

Đă thế ở lại là trốn lính, là bất hợp pháp nên t́m cách biện minh cho việc ở lại mang một ư nghĩa chính đáng, cao cả. Không muốn về, v́ sợ chết rồi đổ cho đó là cuộc chiến phi nghĩa trong một xă hội tham nhũng!

 

Thế là trở thành kẻ phản chiến, thành phần thứ ba tạo cho họ một cái căn cước của những người sinh viên trí thức có chính nghĩa, có lư tưởng.

 

Thật ra bản chất thực sự của họ là hèn nhát, ích kỷ, ham sống sợ chết, phản bội lại miền Nam!

 

Ở đây, chúng tôi cũng không muốn nói tới các trường hợp các sinh viên ở Pháp, ở Mỹ như Cao Huy Thuần, Thái Thị Kim Lan (Munich, Đức), Nguyễn Ngọc Giao, Trương Hồng Quang, Vũ Quang Việt, Trần Hữu Dũng, Trần Văn Thọ (Nhật). Đây là loại sinh viên đă thành công, có bằng cấp và do những hoàn cảnh ngoài sự thẩm đoán của người ngoài cuộc đă trở thành những kẻ thiên tả, rồi lực lượng thứ ba.

  

 

Ca sĩ Joan Baez, một nhân vật phản chiến nỏi tiếng viết thư cho chính quyền CSVN yêu cầu tôn trọng nhân quyền 4 năm sau ngày  đợt soang người bỏ nước ra đi trốn cế độ cộng sản.

Ca sĩ Joan Baez, một nhân vật phản chiến nổi tiếng viết thư cho chính quyền CSVN yêu cầu tôn trọng nhân quyền 4 năm sau ngày đợt sóng thuyền nhân bỏ nước ra đi trốn chế độ cộng sản. Ảnh: Lisa Pacino.

 

Nói chung họ chỉ tả theo sách vở. Họ chỉ là lư thuyết gia sách vở không vượt ra khỏi khuôn khổ trường ốc. Họ cũng muốn đóng góp đôi chút ǵ, cũng viết cho Đảng đọc. Đảng không đọc, Đảng vứt sọt rác. Người có chút chữ nghĩa như tôi, đọc họ thấy nó thối um lên v́ là chuyện trên trời dưới biển. Tôi nói thật. Sắp tới đây, họ tổ chức Hội Thảo ở Munich. Bà Thái Kim Lan sẽ thuyết tŕnh về đề tài: 40 năm sau – Nh́n lại Văn hóa Việt trong viễn tượng Khai Sáng. Văn hóa, giáo dục Việt Nam hiện bây giờ là một cái băi rác, đi qua mùi hôi thối xông lên nghẹt mũi. Vậy mà có một chị từng được nhà nước vinh danh trong số 17 Việt Kiều có đủ can đảm bàn về giáo dục trong mối tương quan với chủ thuyết Khai Sáng.

 

Viết, thuyết tŕnh đề tài như thế chẳng khác ǵ chửi cha giáo dục và văn hóa của người cộng sản.

 

Trong tài liệu của tác giả Gendron, cuốn The Vietcong Front in Quebec (Mặt trận Việt Cộng ở Québec) trong lời mở đầu, họ đánh giá rất thấp tổ chức Việt kiều yêu nước – như một thứ băng đảng – một thứ bên lề như một số đảng phái tả phái đủ loại ở Canada với một tập hồ sơ buôn bán, chuyển tiền có bằng cớ do những người lănh đạo có đầu óc cộng sản thuộc loại bất trị(12).

 

Trong nhiều năm nay, ít lắm là 10 năm trở lại đây, nhiều người trong bọn họ đă chọn lựa thái độ ẩn náu, im lặng v́ biết việc ḿnh làm là bất nghĩa, bất nhân theo cộng sản. Tuy nhiên chỉ c̣n một vài người trong số họ vẫn muốn xuất đầu lộ diện v́ quyền lợi vật chất của họ có liên quan đến cộng sản bên nhà.

 

Đó là trường hợp như Quách Tinh Văn chẳng hạn. Đó cũng là lư do để tác giả Lê Quốc Trinh viết bài Yêu nước hay yêu tiền? Theo ông Lê Quốc Trinh trong số 22 người đại diện kư tên dưới Lá thư ngỏ gửi Ngài Andrew Scheer và các dân biểu không đồng ư với dự luật S-219, 30 tháng tư, Ngày Hành Tŕnh T́m Tự Do, người đi thu thập chữ kư phản đối tại Montréal là Quách Tinh Văn, từng là thành viên lănh đạo ṇng cốt của hội Việt kiều yêu nước. Quách Tinh Văn cũng từng là Phó Giám đốc Vietimex Inc., Phó Giám đốc Laser Express Inc., Phó Giám đốc Vinamedic Inc. chuyển hàng về Việt Nam.

 

Sau 1975, phần đông bọn họ lần lượt đă t́m đường trở về Việt Nam để xem t́nh thế, để kiếm một địa vị, để về giúp giảng dạy. Và cũng không thiếu kẻ quay trở về với áo mũ xênh xang, lợi dụng và tham lam nhiều thứ.

 

Tôi đă biết có những kẻ về thu mua tranh ảnh với giá vài chục đô la một bức tranh của những họa sĩ nổi tiếng đem sang đây để trục lợi. Mua một bán gấp trăm, gấp ngàn lần hơn. Mua đồ cổ chất đầy nhà, nạo vét cái ǵ c̣n có thể nạo vét được của triều đ́nh nhà Nguyễn của các gia đ́nh thuộc Hoàng tộc nay phải bán tống bán táng lấy tiền đong gạo.

 

Rồi c̣n về mua nhà, mua cửa, mua đất đai, mua một lời mười. Có nhà ở những khu quan trọng nhất, sang nhất Sài g̣n như một tiểu Cali giữa Sài g̣n!

 

Không ai quên được, mỗi người di tản phải ra đi là đă bị trấn lột đến không c̣n ǵ nữa. Mất nhà hay “hiến” nhà, gom góp tiền bạc đổi ra vàng để mua vé đi t́m tự do, mua băi với hàng trăm ngàn nỗi hiểm nguy.

 

Sang đến đất tự do, tiếng Tây, tiếng u nhiều người chưa rành đă cắm đầu cắm cổ đi làm – làm bất cứ nghề ǵ – lương tối thiểu từ 3 đồng đến 3 đô la rưỡi một giờ. Mỗi tháng trừ thuế c̣n được vài trăm bạc đă lo tích lũy để gửi các thùng quà 50 đô la cho đến 350 đô la về cho gia đ́nh ở Việt Nam.

 

Bọn Việt kiều yêu nước đă như những kẻ không tim, không óc, không có t́nh nghĩa đồng bào một lần nữa chúng trấn lột người di tản.

 

Tất cả bà con, anh em, vợ con những người di tản c̣n kẹt lại ở Việt Nam trở thành con tin của bọn tay sai cộng sản. Người di tản không c̣n con đường nào khác phải gửi tiền về Việt Nam nuôi béo bọn cộng sản. Kiều hối từ một vài tỉ lên đến mười mấy tỉ một năm.

 

Chúng ta thù ghét cộng sản chỉ muốn chúng bị xóa sổ. Nhưng thật mâu thuẫn, chúng ta đang tiếp máu, nuôi béo chúng. Cạnh cái tổ chức Việt kiều yêu nước làm tay sai trực tiếp cho cộng sản, nhiều chủ tiệm thuốc Tây của người Việt di tản ở Canada và cả bên Mỹ cũng làm giàu hốt bạc cũng vô t́nh làm trung gian gửi tiền cho bọn chúng.

 

Tôi có cần phải kể tên các hiệu thuốc Tây tại đây và bên Mỹ ra không nhỉ? Một số chủ tiệm thuốc tây người Việt ngay khi c̣n miền Nam cũng đă từng buôn lậu thuốc tây cho Việt Cộng. Họ là những người chỉ cần biết có tiền. Họ ăn nên làm ra nên các buổi gây quỹ, chống cộng phần đóng góp của họ có thể hậu hỹ hơn người khác!

 

Nghĩ mà chua chát.

 

Nếu nh́n lại miền Nam sau 1975 th́ quả thực các công ty làm ăn buôn bán của đám Việt kiều yêu nước tại Montréal đă tiếp máu cho chính quyền cộng sản v́ cộng sản đă rơi vào t́nh trạng cạn kiệt ngoại tệ.

 

Không có nguồn ngoại tệ chảy về duy nhất tập trung tại Canada th́ không biết số phận Việt Nam thập niên 1980 trở đi sẽ ra sao? Sụp đổ chăng?

 

 

T́nh trạng kiệt quệ của Việt Nam từ 1965-1985

 

Chúng ta cần ghi nhận rằng kể từ 1965 đến 1975, khi phát động cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam, chế độ cộng sản Hà Nội đă vận hành bởi một chế độ kinh tế thời chiến.

 

Các chỉ số văn hóa xă hội kinh tế như mức sống, tŕnh độ học vấn, nạn mù chữ, tŕnh độ học hết tiểu học, trung học, lợi tức đầu người năm, tuổi thọ trung b́nh, tổng số y sĩ phần trăm so với dân số, bao nhiêu đầu sách xuất bản đều là những thống kê vô nghĩa không cần xét tới. Mọi chuyện liên quan đến đời sống, đến phát triển kinh tế đến cải tiến xă hội đều tạm thời được xếp lại.

 

Nói chi những thống kê về mức tăng trưởng năm, mức đầu tư, mức lạm phát, mức sản xuất nông nghiệp, sản xuất kỹ nghệ. Mức nhập khẩu, xuất khẩu.

 

Không ai bận tâm tới những con số ấy. Đất nước ch́m đắm trong sự tŕ trệ, lạc hậu và không phát triển.

 

Mệnh lệnh quyết liệt, vắn gọn cho mọi người là tất cả cho tiền tuyến.

 

Hậu phương chẳng những cung cấp người cho chiến trường mà người dân c̣n phải hy sinh từ miếng ăn, miếng mặc nuôi quân đội. Sản xuất hầu như ngưng trệ.

 

V́ thế, khẩu phần ăn của người dân bị cắt đi một cách thảm bại. Gạo không đủ nuôi dân v́ nông dân phải bỏ ruộng nương, bỏ sản xuất xung phong ra chiến trường.

 

Khẩu phần ăn nay giảm xuống c̣n ¼ là gạo với ¾ là sắn hay khoai lang.

 

Sinh hoạt kinh tế nay giản lược vào thứ kinh tế mua chui, bán chui để có thêm phẩm chất cho khẩu phần. V́ không đủ thực phẩm cung cấp nên giá chợ đen cao gấp 6 lần giá chính thức.

 

V́ thế trong dân chúng có những câu vè chế diễu như sau:

 

“Đại cán biển thủ, trung cán chợ đen, tiểu cán cửa hậu.”

 

Hay những câu đại loại:

 

“Cán lớn ăn xoay, cán nhỡ truyền tay, cán nhỏ chực ngay cửa hậu”(13)

 

Bọn này trở thành giai cấp trung lưu thành thị sống bám vào một thứ kinh tế tiểu ngạch như một cái b́nh thông đáy. Của cải tiêu dùng giao lưu từ chỗ giá thấp chuyền đến chỗ giá cao kiếm lời theo đúng nguyên tắc nước ở hai b́nh thông đáy.

 

Đă thế, ngay sau 1975, viện trợ của Trung Quốc cho Việt Nam bị chấm dứt ngay. Khi có xung đột hai bên, nhiều cơ sở kinh doanh, nhiều công tŕnh xây dựng bị Trung Quốc bỏ dở, rút người về.

 

Các ngân khoản vay mượn Liên Xô cho nhu cầu chiến tranh bị cắt giảm hơn một nửa. Đồng thời Liên Xô cũng yêu cầu Việt Nam trả những món nợ trong thời chiến.

 

Thay v́ trả nợ, Việt Nam đă xuất cảng lao động mỗi năm 20.000 nhân công xuất cảng sang Liên Xô để trừ nợ.

 

Việc thống nhất Nam Bắc năm 1975 nhất thời đă trở thành một món bổng lộc trời cho.

 

Miền Nam với vốn liếng, kho hàng dự trữ, vật tư, tiền đô la vàng bạc, của cải đồ dùng ít lắm cũng nuôi cả hai miền được một hai năm trước khi nạn đói xảy ra.

 

Hàng hóa trong Nam ùn ùn được chuyên trở ra Bắc như tủ lạnh, tivi, quạt máy, xe gắn máy, Radio, cát sét, nồi cơm điện và đồ gia dụng.

 

Cả một thị trường tiêu thụ mới mọc lên ở miền Bắc.

 

Những chiếc quạt máy, xe đạp trong Nam đă loại ra khỏi thị trường các quạt máy của Tầu với giá rẻ.

 

Thời đó th́ ai ai cũng có thể mua một chiếc xe đạp giá rẻ (60 đồng so với 400 đồng trước dây) mà không cần đăng kư chờ đợi. Rồi thị trường thuốc tây, vải may mặc trong Nam ùn ùn ra Bắc đổi lại xăng dầu từ Bắc đổ vào Nam.

 

Tuy nhiên chỉ không bao lâu sau th́ nguồn hàng hóa ngay cả trong Nam cũng cạn kiệt. Nguồn ngoại tệ trong nước trở thành rỗng tuếch.

 

Chính quyền vội mang 16 tấn vàng c̣n để lại trong ngân hàng Quốc gia sang Liên Xô để đổi lấy một số ngoại tệ.

 

Sự bóc lột vơ vét của cải trong miền Nam từ việc đánh tư sản, đổi tiền, xuất khẩu người cũng chẳng khác bao nhiêu như câu chuyện cách đây 85 năm. Năm 1930, nhiều nông dân miền Bắc được thực dân Pháp mướn sang tân đảo Nouvelle-Caledonie làm phu thợ mỏ, giao kèo 5 năm với đồng lương chết đói. Hết hạn 5 năm bị cưỡng ép ở lại đến dần dần trở thành dân bản xứ.

 

Vậy mà bọn cộng sản cũng móc nối được và từ năm 1960, kiều bào có bao nhiêu tiền dành dụm trong bao nhiêu năm trời với mồ hôi nước mắt cũng bị khuyến dụ gửi tiền về cho ‘Bác Hồ’. Số tiền mỗi lần không nhiều – vài trăm ngàn Francs. Nhưng lại rất lớn so với đồng lương thợ mỏ. Kiều bào c̣n ngu dại nghe lời khuyến dụ bảo nhau gom tiền mua xe hơi Peugeot 403 từ Pháp gửi về Hà Nội biếu bác Hồ.

 

Bản chất cộng sản là thế đấy! Giàu họ bóc lột theo giàu, nghèo họ bóc lột theo nghèo.

 

  Một cửa hàng hợp tác xă tại Sài G̣n cuối thập niên 1970. Nguồn: http://static.talkvietnam.com/
Một cửa hàng gạo tại Sài G̣n cuối thập niên 1970.

  

Việc tŕnh bày tóm lược t́nh trạng kiệt quệ kinh tế của Việt Nam sau 1975 cho thấy nguồn ngoại tệ chảy về từ nước ngoài từ Mỹ, Canada, Pháp đă giúp Việt Nam thoát cảnh kiệt quệ ngoại tệ.

 

Người ta được biết năm 1981, Việt Nam c̣n tạm đóng cửa ṭa đại sứ Canada v́ không có đủ tiền trang trải chi phí.

 

Chắc hẳn công đóng góp của Việt Kiều hải ngoại trước 1975 và sau 1975 là không nhỏ.

 

Trước 1975 là một hỗ trợ chính trị cho công cuộc giải phóng miền Nam.

 

Sau 1975 đến 1990 là phong trào hỗ trợ kinh tế, cứu đói cho chính quyền cộng sản trong nước.

 

Trước 1975, những việc họ làm thời tuổi trẻ nay nh́n lại đă có ư nghĩa của một vấn đề lịch sử! Họ trở thành thứ tay sai cho cộng sản Bắc Việt. Đó cũng là trường hợp tiêu biểu của cựu sinh viên Ngô Vĩnh Long. Ngô Vĩnh Long từng hănh diện với thành tích là đă tổ chức được một nhóm sinh viên Việt Nam đột nhập và chiếm giữ ṭa Lănh sự của chính quyền Sài G̣n, tại New York trong lúc các nhân viên chính quyền Sài G̣n ra ngoài ăn trưa. Việc đột nhập này vào ngày 10.2.1972 và sau đó đưa ra những lời tuyên bố với thế giới về những đ̣i hỏi của nhân dân Việt Nam. Nhân dân Việt Nam là ai? Họ đ̣i hỏi ǵ? Hay chỉ là chính bọn họ, vỏn vẹn chưa tới mười người(14)? Sau này, trả lời phỏng vấn của đài BBC vào ngày 28.9.2013, ông Ngô Vĩnh Long nhận xét một cách chua chát: Đảng đang làm mất thời gian của nhân dân và và các giới trong xă hội.

 

Có lẽ đây là đóng góp có ư nghĩa nhất của ông. Và đă có bao nhiêu sinh viên ở Mỹ, ở Pháp, ở Canada hành động một cách “hồ đồ” như ông?

 

Chẳng những thế việc họ làm thời sinh viên nếu nh́n ở góc độ con người rơ ràng là một việc phản bội lại miền Nam Việt Nam. Nhiều người trong bọn họ ‘phản chiến’ chống chiến tranh mà thực chất họ trốn lính, muốn an thân. Điều này phơi bầy tính chất ngụy tín, phỉnh gạt của họ như trong bài báo của John G. Rogers, do Trà Mi dịch(15).

 

Theo thiển ư của tôi, nội dung bài báo của 45 năm về trước đă bóc trần sự thật, lột mặt nạ những kẻ vênh váo nhân danh lư tưởng mà thực sự chỉ là những kẻ đứng ngoài cuộc chiến!

 

Những việc biểu t́nh, tranh đấu, những lời tuyên bố như của cựu sinh viên du học Lương Châu Phước nói:

 

“Chúng tôi làm thế nào đó phải xây dựng được một cuộc sống tốt hơn cho người Việt Nam. Cuộc sống ở Sài G̣n nay đă trở thành điên cuồng. Nào là Cadillacs, Chryslers, tivi, máy rửa bát, nhưng ở nông thôn th́ chẳng có ǵ hết ngoài tàn phá và những điều bất hạnh.”(16)

 
Trong khi đó, bản thân Lương Châu Phước th́ visa đă hết hạn từ năm 1968. Phước ở ĺ Canada. Chính quyền Canada đă đưa ra ṭa, nhưng rồi cũng không có quyết định trục xuất Phước về Việt Nam. Cũng vậy Lê Phúc tuyên bố,


“Tôi không bao giờ có thể cho phép bản thân ḿnh tham dự vào cuộc chiến tranh phá hoại hay làm bất cứ điều ǵ liên hệ với chính quyền Sài G̣n tham nhũng!”

 

Trong khi đó, bản thân Lê Phúc là một công chức đào nhiệm trốn từ Mỹ qua Canada. Nguồn Washington Post, 14-6-1970.

 

Sau 1975, do hoàn cảnh Việt Nam bị Mỹ cấm vận. Mọi giao thương, liên lạc đều bị cấm cửa. Nhóm Việt Kiều yêu nước ở Canada đương nhiên có lợi thế, có đất làm ăn – một thứ làm giàu bất chính dựa trên mồ hôi và sức lao động của những người mới định cư ở nước ngoài.

 

Họ đă chẳng có chút ḷng giúp đỡ những đồng bào mới tới mà c̣n thừa dịp bóc lột từng đồng xu của họ. Lo giúp đồng bào mới tới như hướng dẫn, thông dịch, làm thủ tục giấy tờ, lo hướng dẫn t́m công việc làm đều do các sinh viên quốc gia t́nh nguyện đứng ra làm.

 

Bọn sinh viên Việt kiều yêu nước đứng ngoài. Bọn họ c̣n tuyên bố, các boat people đều là những thành phần người tỵ nạn kinh tế chứ không phải chính trị. Nay họ rất sung sướng gửi tiền về giúp bà con bên nhà một cách tự ư.

 

“The Committee purported to prove the validity of its viewpoint with a catalogue of statistics, dates and quotations indicating that Viet Nam shares the world–wide concern for its emigrants and has cooperated with the United Nations to resolve this problem from the outset and that most of those who leave Viet Nam do so because of severe economic conditions.”(17)

 

Thật đúng là những kẻ bất nhân.

 

Nguồn ngoại tệ hầu như chỉ có đường chuyển vận duy nhất nằm trong tay chính quyền cộng sản. Việc chuyển những số tiền lớn từ bên này gửi về Việt Nam đă bị Thượng viện Quốc Hội Mỹ mở cuộc điều tra về hoạt động bất hợp pháp chuyển tiền về Việt Nam.

 

Số tiền được nêu ra là 140 triệu đô la mỗi năm. McPhail cho rằng phần lớn số tiền 140 triệu đô la là tiền của cộng đồng tỵ nạn cộng sản tại Bắc Mỹ(18).

 

Phần suy nghĩ của tôi th́ có thể số tiền đó c̣n lớn hơn nhiều.

 

Họ đă có một thời như thế! Thời đảo điên và lừa lọc của cộng sản!

 

Họ tưởng là họ có lư tưởng, có chính nghĩa. Nói cho đẹp thế thôi, cùng lắm họ chỉ là những kẻ ảo tưởng có thời đi buôn mộng. Le marchand de rêve. Nhưng nhiều phần, nói cho rốt ráo, họ chỉ là những kẻ thời cơ, chụp giựt, không có căn bản đạo làm người ở đời, có trước có sau và có cội nguồn!

 

Cuối cùng họ trở thành những kẻ lưu lạc, kẻ vô thừa nhận từ hai phía.

 

Vào thập niên 1950-1960, đă có một lớp sinh viên thuộc thế hệ thứ nhất như ông Huỳnh Văn Lang sang học ở Đại Học Laval, Québec. Theo Hồi kư của ông, ông đă bỏ trốn từ Pháp sang học ở Đại học Laval năm 1951 và ông là người Việt Nam duy nhất ở đây. Ông đă học về ngành kinh tế trong ba năm từ 1951-1954.

 

Có những sinh viên khác như Phạm Nam Trường lại có học bổng của Nam Phương Hoàng hậu năm 1952.

 

Nữ sinh viên năm 1957 c̣n có chị Đỗ Thị Soi là một trong ba nữ sinh viên đầu tiên đang theo học ở Montréal.

 

Thời kỳ 1951, Việt Nam đă gia nhập Plan Colombo. Kế hoạch Colombo mà biểu hiệu là: Planning. Prosperity. Together.

 

Và từ đó mỗi năm sinh viên Việt Nam được gửi sang Canada, tỉnh bang Québec, học ở đại học Laval. Tôi có nói chuyện với một cựu sinh viên đại học Laval, nay đă lấy vợ đầm cho hay, thời đó sinh viên lo học và không có vấn đề chính trị, chính em ǵ cả.

 

Nhưng mốc điểm thay đổi sinh hoạt chính trị của sinh viên du học là khi có đợt 40 sinh viên Nam Nữ từ Sài G̣n sang Canada du học theo Plan Colombo niên học 1964.

 

Sau chương tŕnh 4 năm, 1964-1968, đáng lẽ họ phải về nước làm việc. Nhưng phần lớn đă chọn ở lại. Sự chọn ở lại này có thể có nhiều nguyên do: Nguyên do chính yếu là gia cảnh là đă lập gia đ́nh với người ngoại quốc. Thứ đến là do hoàn cảnh chiến tranh. Nguyên do này cũng được ông Huỳnh Văn Lang, một cựu sinh viên của đại học Laval nh́n nhận khi ông có dịp đi một ṿng các nước để kêu gọi sinh viên về nước làm việc theo lời kêu gọi của ông Ngô Đ́nh Diệm.

 

Tôi đặt giả thiết sự thành lập Hội Việt kiều yêu nước là do 4 người được nêu tên tuổi, h́nh ảnh và trả lời phỏng vấn trong bài Đứng ngoài cuộc chiến?

 

Tháng tư, 1970, Liên hiệp người Việt ở Canada ‘Union Générale des Vietnamiens au Canada’ (Union des Vietnamiens au Canada) Canada được thành lập. Trong đó phần lớn thành viên có xu hướng ngả theo cộng sản. Hay ít ra chịu ảnh hưởng sự tuyên truyền của cộng sản(19).

 

Cuối cùng th́ cuộc đấu đá nhau giữa các thành viên đă được triệu tập ngay tại Hà Nội. Những tiết lộ qua một cuộn băng đă công bố cho thấy nhóm cựu sinh viên Việt Kiều yêu nước chỉ là thứ tay sai cho Hà Nội.

 

Họ tỏ ra hèn nhát, khúm núm sợ hăi và kiểm điểm thú tội.

 

Tôi chăm chú, tập trung để đọc những lời nói của bảy thành viên Việt kiều yêu nước thưa bẩm, khúm núm với đại diện chính quyền cộng sản. Họ c̣n tự kiểm thảo, nhận khuyết điểm trước những ông chủ của họ. Họ c̣n xin sỏ như trường hợp Lương Châu Phước mong giữ lại chức vụ Tổng Biên tập tờ báo.

 

Những thành viên hoặc đă về Hà Nội dự phiên họp theo lệnh của cộng sản hay có liên hệ trực tiếp gồm có 3 phụ nữ và 14 đàn ông như sau:

 

Thái Thị Khánh Hạnh, Lê Thị Thanh, Oanh, Lê Tiền Phong (chết), Nguyễn Văn Nhă, Trần Tuấn Dũng, Lương Châu Phước, Vơ Quang Tu, Quách Tinh Văn, Hoàng Hải Học, Huỳnh Hữu Tuệ, Nguyễn Văn Hương, Phan Kim Điểm, Lê Hữu Phùng, Lưu Liên, Hoàng Bích SơnBùi Đức Lập(20). Hoàng Bích SơnBùi Đức Lập đại diện cho chính quyền Hà Nội.

 

Tuy nhiên chính thức chỉ có 7 người có mặt lên tiếng trong cuốn băng ấy.

 

Cuối năm 1989, hai công ty Vinamedic Inc. và Q.T.K. Express Inc cũng đồng loạt đóng cửa.

 

Riêng Laser Express Inc. tiếp tục hoạt động đến năm 1999, rồi tái hoạt động năm 2004, thêm được hai năm và đóng cửa lần cuối năm 2006.

 

Việc tiết lộ cuốn băng này hẳn làm cho nhiều thành viên của Hội Việt kiều yêu nước cảm thấy khó xử. Ít lắm th́ đối với bảy người có tên tuổi, có tiếng nói trong cuộc tranh căi này tại Hà Nội.

 

Nội dung cuộc tranh chấp này gay go hơn, kéo dài trong nhiều năm chỉ v́ bổng lộc chia không đều. Kẻ có ăn, kẻ không được ǵ. Bổng lộc thu tóm vào tay một vài người như Nguyễn Văn Nhă và vợ, Quách Tinh Văn, v.v...

 

Sau khi hết cấm vận, khi liên lạc giữa Hoa Kỳ và Hà Nội được b́nh thường hóa, tôi nghĩ rằng, Hà Nội đă đến lúc không cần đến bọn trung gian ở Canada nữa.

 

Hội tan ră và mạnh ai người đó kiếm sống.

 

Viết về giai đoạn này và những thành viên Hội Việt kiều này hầu hết đều chọn lựa thái độ quy ẩn.

 

Tôi không biết nên chọn lựa thái độ nào thích hợp nhất: Hoặc tội nghiệp cho họ hay khinh thường họ. Họ có ăn học, phần lớn có công ăn việc làm nơi xứ người, hà cớ ǵ phải rui rúi kéo nhau về Hà Nội nhờ phân xử, rồi khúm núm sợ hăi.

 

Thật sự, không cách nào tôi hiểu được họ.

 

Với tư cách người cầm bút, tôi có bổn phận tŕnh bày lại một giai đoạn đă qua. Và đă có một thời như thế. Một thời mà ngay những kẻ trong cuộc cũng tự cảm thấy có điều ǵ mà chính họ phải tự xét ḿnh và tự sám hối.

 

Lời sám hối dù muộn màng vẫn được mọi người trông đợi.

 

Cũng xin đưa ra đây một vụ giết người xảy ra vào 21 tháng 11, năm 1972 giữa 3 sinh viên trong Hội Viêt kiều Đoàn kết tại Canada. Tờ The Montreal Gazette đă đưa tin, Trà Mi lược dịch mà không có lời b́nh luận(21).

 

Vụ thứ hai như một cảnh báo đồng bào người Việt sinh sống ở Montréal cho thấy bàn tay cộng sản luôn luôn thọc vào nội bộ cộng đồng để phủ dụ, tuyên truyền, phá rối hù dọa, v.v...

 

“Bộ ngoại giao Canada công bố ra lệnh trục xuất Hồ Xuân Đích, đệ nhị tham vụ của Đại sứ quán nước CHXHCN Việt Nam trong ṿng 72 giờ phải rời khỏi Canada. Lư do: đă có những hành vi can thiệp vào sinh hoạt nội bộ của cộng đồng người Việt Nam tại Canada nhằm làm áp lực, gây ảnh hưởng về ư thức hệ và ḷng trung thành của cư dân gốc Việt tại Canda. Cảnh sát Liên bang Canada cho biết Hồ Xuân Đích đă đe dọa người Việt tại Canada sẽ trả thù thân nhân của họ c̣n sinh sống tại Việt Nam.”(22)

 

  

Báo Ottawa Journal, 30 tháng 5, 1979
 

Báo Ottawa Journal, 30 tháng 3, 1979, trang 5

  

Ngay sau vụ Hồ Xuân Đích bị trục xuất, HĐKVKTC lập tức mở cuộc họp báo biện hộ. Phó chủ tịch HĐKVKTC Lương Châu Phước, nói, “không có ǵ đáng trách trong việc tha thiết kêu gọi đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng Việt”. Thêm nữa, Lê Hữu Phùng và Nguyễn Văn Hương cũng đă gởi thư cho chính phủ Canada “mô tả một cách tốt đẹp vai tṛ của Đại sứ quán Việt Nam trong việc thúc đẩy t́nh đoàn kết và t́nh hữu nghị giữa cộng đồng của chúng tôi và người dân Canada” và yêu cầu chính phủ Canada “thể hiện thiện chí hơn trong mối quan hệ với Việt Nam”(23).

 

Nh́n lại bối cảnh sinh hoạt chính trị trong 40 năm ở Montreal qua không khỏi có những suy nghĩ.

 

·      Người Việt Nam hiện nay sinh sống làm ăn và đă hội nhập tốt đẹp nơi xứ người. Ngay từ 1975 th́ đă có tổ chức, hội đoàn nọ kia đủ loại. Cũng đă có chủ tịch cộng đồng được bầu bán và hoạt động cả 40 năm nay. Vậy mà chúng ta vẫn chưa có một cơ sở cho riêng cộng đồng, vẫn phải thuê mướn và lúc nào cũng ở trong t́nh trạng cheo leo về tài chánh.

 

·            Trong khi đó, Hội Việt Kiều yêu nước leo teo chưa tới trăm người đă ngay từ thập niên 1970 đă có một cơ ngơi rộng lớn khang trang để sinh hoạt, buôn bán và cũng là nơi đă mở ra nhiều cuộc hội thảo quốc tế cho các hội đoàn bạn.

 

·            Cộng đồng người Việt cũng có một tờ báo Quốc Gia chính thức, nhưng báo đă không đáp ứng được tâm tư, nguyện vọng của thành viên cộng đồng. Báo in ra không biết được bao nhiêu số, có bao nhiêu người đọc và hiện nay sự sống c̣n không biết nữa. Lỗi tại ai?

 

·            Càng ngày sinh hoạt cộng đồng càng mang tính h́nh thức, tổ chức một vài lễ lạc và ít có những sinh hoạt ngang tầm với một con số người Việt mỗi ngày mỗi lớn mạnh, mỗi ngày mỗi trẻ trung hóa. Ai cũng cảm thức được sự thiếu hụt một sự kế thừa vốn làm nên sức phát triển của cộng đồng. Bốn mươi năm rồi vẫn từng ấy khuôn mặt, từng ấy năo trạng vừa cứng nhắc, vừa thiếu nhạy bén, vừa tụt hậu. Ấy là sự đố kỵ chia rẽ, phân cách vốn làm nên căn tính người Việt.

 

·            Trong suốt những năm thông qua tờ báo Quốc Gia từ lúc nó có mặt, tôi không biết có lần nào, trường hợp nào, tác giả nào lên tiếng tố cáo một lần tổ chức Việt kiều yêu nước và những công việc họ làm tại ngay Montreal này không? Tố cáo nhau th́ có, có rất nhiều và không thiếu người là nạn nhân bị truy chụp của tờ báo Quốc Gia? Có cần tôi đưa ra bằng cớ không?

 

·            Rất may là cái tổ chức Việt kiều, v́ tranh dành quyền lợi, v́ chia chác không đều đă chia ra hai phe đấm đá nhau không cách nào ḥa giải được đă giúp cộng đồng người Việt Nam tạm thời bớt được một kẻ thù? Nhưng tương lai th́ sao?

 

·            Mới đây nhất cả những người quốc gia chống Cộng được coi là “có uy tín và thẩm quyền nhất” lên tiếng chống đối đạo luật Hành Tŕnh t́m Tự do trước và sau khi được Quốc Hội Canada phê chuẩn. Nhưng cạnh đó, Nhóm Việt Kiều yêu nước mà đại diện tiêu biểu là Quách Tinh Văn cũng đệ đơn phản đối đạo luật trên. Chưa kể chính quyền cộng sản đă gửi những công hàm ngoại giao chính thức của chính quyền Hà Nội phản đối công khai tinh thần đạo luật cũng như danh xưng của đạo luật. Điều này làm cho chúng tôi phải có thái độ ứng xử thế nào cho thỏa đáng? Đặc biệt là những người quốc gia lên tiếng phản đối cũng chỉ nhắm đích danh vào Thượng nghị sĩ Ngô Thanh Hải hoặc nhắm vào đả kích lẫn nhau và không đụng chạm ǵ đến nhóm Việt kiều yêu nước cũng như chính quyền cộng sản(24). Khi cộng sản cũng chống đạo luật ấy và người quốc gia cũng chống th́ sự thật phải được hiểu thế nào?

  

Trước khi chấm dứt bài này, tôi xin thú thực là tôi có cảm thức là đă làm xong một nhiệm vụ của một người quốc gia chống cộng sản.

 

Việc tôi nêu ra những khuyết điểm của cộng đồng th́ ai cũng đều biết như vậy. Đáng lẽ những người lănh đạo có trách nhiệm th́ phải có trách nhiệm sửa đổi. Nhưng xem ra chẳng những họ sẽ chẳng thay đổi ǵ mà c̣n có thể oán hận những người lên tiếng!

 

Thế th́ làm sao khá được? Và sau này rất có thể sự tồn tại của cộng đồng chỉ c̣n là vấn đề thời gian mà thôi!

 

 

Chú thích

 

(1) Michel Tauriac là nhà văn am hiểu đời sống và sinh hoạt của người Việt Nam. Ông là nhà văn có hơn 30 tác phẩm trong đó có cuốn La nuit du Tet ( Đêm Giao thừa). Nhân vật chính là Mạnh, sau này trở thành một bác sĩ, sinh sống và làm việc ở bên Pháp. Ông có đầy đủ tất cả, trừ người anh của ông bị cộng sản bắt cóc đi mất. Nỗi băn khoăn của Mạnh là giữ ǵn bản sắc người Việt, duy tŕ cội nguồn. Nhưng bị xâu xé, dằng co giữa hai nền văn hóa và lo sợ sẽ đánh mất cội nguồn và không c̣n có uy quyền trên con cái nữa!!

(2) Đại tá Châu Thái Hùng, Một cuộc đời đầy thử thách, trang 194.

(3) Bùi Xuân Quang, La troisième guerre d’Indochine, 1975-1999, Sécurité et géopolitique en Asie du Sud-est, Paris, Pharmattan, 2000, 821 trang.

(4) Tổ chức có ít lắm 4, 5 danh xưng tùy theo mỗi thời kỳ như Hội Đoàn kết Việt kiều tại Canada, Hội Người Việt Nam Tại Canada, Liên Hiệp người Việt Nam tại Canada, v.v.

(5) Lê Thiệp, Đỗ Lệnh Dũng, nxb Tiếng Quê Hương.

(6) Y Uyên, Tuyển truyện Thời chiến, trang 5.

(7) Lê Văn Chính (Sương Biên Thùy, bút hiệu sau này là Lê Mai Lĩnh) Núi Tà Dôn và dấu chân Uy, Thư quán Bản thảo, Tưởng nhớ Y-Uyên, 1943-1969, năm thứ 3, tập 18, tháng 2, 2005, trang 77-78

(8) Văn miền Nam, truyện ngắn, tập III, trang 1581. Truyện ngắn Băo Khô. Y Uyên, tên thật Nguyễn Văn Uy, sinh năm 1940 nhưng trên giấy tờ ghi 6-8-1943, tại làng Dục Nội, quận Đông Anh, tỉnh Phúc Yên, Bắc Việt. Trước 1975, ông có cho xuất bản nhiều tuyển tập truyện ngắn như: Tượng đá sườn non, 1966, Băo Khô, 1966. Quê Nhà, 1967 Ngựa tía (truyện dài), 1967 Chiếc xương lá mục, 1968. Đuốc sậy, 1969. Có loài chim lạ. Trần Phong Giao đă cho xuất bản tập Có loài chim lạ, Tân Văn, năm 1971 nhân ngày giỗ của anh. Nhà văn Y Uyên dạy học tại Tuy Ḥa (1964-68). Nhập ngũ khóa 27 Thủ Đức. Tử trận ngày 8-1-1969 trong trận phục kích, bên ḍng suối, dưới chân núi Tà Zon, gần đồn Nora, Phan Thiết.

(9) Trần Giao Thủy, Khủng bố hay anh hùng? DCVOnline, 27 tháng 2, 2015.

(10) Kư ức Huỳnh Văn Lang, nxb Tŕnh Bày, 2011, trang 363

(11) Ibid., trang 362

(12) Gilbert Gendron, B.A, The Viet cong Front in Quebec, C-FAR, 1987, trang 3

(13) Philippe Pépin, Parcours d’une nation, Hành tŕnh một dân tộc, bản dịch của Nguyễn Khánh Long (đă quá văng), các trang 130-135

(14) Ngô Vĩnh Long c̣n khoe đóng góp 300 bài viết. Chẳng hiểu có bài viết nào được chính quyền cộng sản dùng hay không?

(15) John G. Rogers, Canada – New Sanctuary for the South Vietnamese” Parade, June 14, 1970. Trà Mi dịch, DCVOnline.net, ngày 1/5/2015.

(16) John G. Rogers, Ibid., DCVOnline.net, ngày 1/5/2015

(17) Gilbert Gendron, Ibid., trang 37

(18) Trần Giao Thủy, Vixileaks, phần I, ngày 6-6-2015

(19) Họ chủ trương tập họp mọi người Việt Nam ở Canada trong những hoạt động chung.

  • Hợp tác với tất cả những phong trào ḥa b́nh cho Việt Nam, nhất là các phong trào tranh đấu cho ḥa b́nh ở hải ngoại, dân chủ, thịnh vượng và trung lập.
    Thực tế, họ đă hợp tác với phong trào phản chiến Bắc Mỹ được Edward Martin Sloan thành lập năm 1969. Edward Martin Sloan có nhiều quan hệ quốc tế rộng răi theo nhà báo Nick Auf Der Maur. Theo Maur, Martin Sloan có quan hệ Hội đồng Ḥa B́nh thế giới ở Helsinki.

  • Nhóm Liên Hiệp người Việt yêu nước ở Canada c̣n tham dự vào các sinh hoạt tả phái như các nhóm Old Left- Parti Communist, Ligue des Jeunesses Communistes, Vietnam Moratory Committee, The New Left, ngay cả The Troskytes Workers’ Socialist League dưới sự tài trợ tờ Combat.

  • Năm 1971, nhóm Việt kiều yêu nước chuẩn bị đón tiếp 5 thành viên của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, nhưng bị chính quyền Canada từ chối cho nhập cảnh. Sloan đă viết thư phản đối chính quyền Canada. Trong dịp này, nhóm Việt kiều yêu nước tổ chức mừng vụ Tết Mậu Thân đồng thời cho chiếu phim Chiến thắng Điện Biên Phủ sản xuất tại Hà Nội.

  • Ba năm sau, nhóm Việt kiều yêu nước lại tổ chức đón tiếp một “phái đoàn chính phủ Cách Mạng lâm thời miền Nam”. Một lần nữa Visa của họ bị từ chối. Một lần nữa Sloan rồi SUCO, Oxfam-Quebec, Amnesty international, the CEQ, CSN và FTQvv… đă cùng hiệp đồng lên tiếng phản đối chính quyền Canada.

  • Tháng hai, 1975, để phản đối chính sách đối xử với tù nhân chính trị ở miền Nam, luật sư Georges Le Bel với sự bảo trợ của nhà báo Nick Auf Der Maur, giám mục Guy Bélanger, thượng nghị sĩ Therese Casgrain và một loạt những tổ chức vừa nêu trên dưới danh hiệu Union des Vietnamiens au Canada.

  • Tháng 7, 1977, đại sứ cộng sản của Việt Nam, Trần Tuấn Anh đến phi trường Mirabel. Có khoảng 50 thành viên Việt kiều yêu nước ra đón tiếp, do một ủy ban tổ chức do Vinh Quy cầm đầu.

  • Ngoài ra, hội Việt kiều yêu nước c̣n tham gia vào nhiều những sinh hoạt Quốc tế như tham gia vào việc đoàn kết với dân tộc Uruguay năm 1978. Với đảng xă hội Chí Lợi, năm 1982, ủng hộ chính nghĩa Liban-Palestine.

  • Trụ sở của hội Việt Kiều yêu nước, số 1450 đường Beaudry thường được dùng để tổ chức những buổi hội thảo này.

 

(20) Trần Giao Thủy, Ibid., DCVOnline.net, 6 tháng 6, 2015.

(21) Trà Mi, Chuyện chém bay đầu trong nhóm sinh viên thân cộng tại Montreal, DCVOnline 21/6/2015

(22) Lê Quốc Trinh, Yêu nước hay yêu tiền của, DCVOnline, 30 tháng tư 2015. Chú thích của DCVOnline trích từ Gilbert Gendron, Ibid, trang 61. 

(23) Gilbert Gendron, Ibid., trang 33-34

(24) Đọc thêm Trần Giao Thủy, Về Dự luật “Ngày Hành tŕnh t́m Tự do” tại Canada, DCVOnline, February 15, 2015.

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính