Đọc “Trong bóng tối lịch sử”

 

- Phần I -

 

Nguyễn Văn Lục

 

 

 

Cách đây vài năm, tôi không nhớ rơ, trong một bữa tiệc cưới, tôi có gặp tác giả Lê Nguyên Phu.

 

Biết ông là một cựu đại tá nha quân pháp có thể đă có vai tṛ trong các vụ án chính trị của ṭa án Mặt trận hay ṭa án Quân sự như các vụ án xử Vương Văn Đông, vụ án xử các người có liên can đến vụ binh biến ngày 11/11/1960 và nhất là vụ án xử Ngô Đ́nh Cẩn, tôi có dè đặt yêu cầu ông viết lại để cho hậu thế biết rơ sự thật như thế nào. Ông đă nhẹ nhàng từ chối viện lư do tuổi già, hoặc không trực tiếp là thành phần xử án ông Ngô Đ́nh Cẩn và nay quá khứ ấy không c̣n nên không muốn nhắc nhở tới nữa.

 

Tôi hơi thất vọng về ông sau một vài lời đề nghị không thành.

 

Không ngờ và không khỏi ngạc nhiên, ông viết cuốn sách “Trong Bóng Tối Lịch Sử” như một trăn trối lại đời sau những ǵ ông biết được, những ǵ ông trực tiếp là nhân chứng với một giọng văn rực lửa, đôi khi không tránh khỏi sự bực dọc quá đà ở một người đă trên 80 tuổi.

 

Ông vốn xuất thân là thẩm phán, dạy học và do thời thể đẩy đưa bị trưng dụng ở Ṭa án quân sự, pḥng Công tố 2. Cũng do phụ trách pḥng Công tố 2 nên ông nắm giữ hồ sơ vụ phản loạn B́nh Xuyên, ngồi ghế công tố đối đầu với các luật sự biện hộ cho các bị can như các luật sư Vũ Văn Hiền, Trịnh Đ́nh Thảo, Trương Đ́nh Du, Vũ Văn Huyền.

 

Sau đó, ông được ông Diệm chú ư đến và cử giữ chức Giám Đốc Nha Hiến Binh toàn quốc. Với chức vụ đó, ông thường vào họp Hội đồng an ninh quốc gia với TT Ngô Đ́nh Diệm vào các sáng thứ ba và sáng thứ sáu cùng với một số tướng lănh khác như Nguyễn Văn Là, Phạm Xuân Chiểu.v.v..

 

Để chứng tỏ việc ông viết lại là khách quan, ông tự nhận và xếp ḿnh vào loại người có sự độc lập tư tưởng, không lệ thuộc vào ai, ngay cả ông Diệm, không theo bất cứ đảng phái nào và cũng không lệ thuộc vảo bất cứ tôn giáo nào.

 

Ông chỉ tuân theo lẽ phải và công bằng mà viết.

 

Mặc dầu ông nói vậy, nhưng cơ duyên đă đưa đẩy đến chỗ sau này ông coi ông Diệm như người lănh đạo đáng tôn kính nhất, một người đạo đức và là một người quốc gia chân chính. Đúng hơn là một lănh tụ lo cho dân, cho nước. Ông không che dấu và bày tỏ một cách lộ liễu tất cả ḷng ngưỡng phục mà ông đă dành cho ông Diệm trong thời gian thời kỳ Đệ nhất Cộng Ḥa và cho măi đến bây giờ, sau gần nửa thế kỷ.

 

Đọc ông, tôi có cảm tưởng, ông không ngại ngùng bày tỏ cái niềm kính trọng gần như vô biên đối với cá nhân ông Diệm. Và cũng v́ thế, ông khá nặng lời đến không cần thiết khi nói đến đám tướng lănh hay đám công chức cao cấp như nói về Nguyễn Ngọc Huy trong vụ Ba Ḷng mà ông gọi là đám “đối lập cuội” (trang 81), Nguyễn Chánh Thi trong vụ biến động 1960, “mặt nạ lưu manh” của y. Huỳnh Văn Lang với những láo khoét gian dối (trang 175), văn chương ngớ ngẩn, nên t́m đọc hồi kư của y tập 3, từ trang 106 (10 trang tất cả) mà mỗi ḍng là là một sự láo khoét, trắng trợn, bỉ ổi (trang 177).

 

Ông không ngại nặng lời với những người ông không ưa. Giá ông bớt cho những ḍng vừa trích dẫn trên th́ hay biết mấy và khả năng thuyết phục hẳn là cao hơn nhiều.

 

Ông tin tưởng một cách không lay chuyển được vào những điều ông viết như có sức nặng của sự thật lẽ phải nên ông cho rằng,

“Cái sức mạnh của tôi để chống với những áp lực vừa kể là tấm ḷng không tham luyến danh vọng và bất vụ lợi của tôi, chỉ muốn bước ra khỏi hoạn trường và trở về với nghề dạy học hoặc làm luật sư mà tôi cho là những nghề cao quư có thể tạo đức cho đời.”

(“Trong Bóng Tối Lịch Sử”, Mai Thạch Lê Nguyên Phu, trang 222)

 

Và khi hoàn thành xong cuốn sách, ông viết:

“Tôi nghĩ sau khi đă làm xong trách vụ này, tôi sẽ t́m lại được sự an ủi giữa ḷng đời, sự b́nh thản trong ḷng tôi và nhất là sẽ giúp gây lại ḷng tin tưởng ở nhân phẩm và đạo đức của một dân tộc xưa nay vẫn thuờng tự hào là có lương tri, nghĩa khí, biết tôn trọng lẽ phải và không bao giờ chối bỏ sự thật.”
(Ibid., trang 11)

 

Mong vậy thay.

 

Giới thiệu cuốn sách

 

Cuốn sách gồm 507 trang, nhưng tác giả đă dành gần 400 trang nói về giai đoạn Đệ nhất Cộng ḥa, c̣n lại hơn 100 trang nói về Đệ nhị Cộng ḥa. Điều đó cũng hiểu được, v́ ông là một thứ nhân chứng tích cực ở giai đoạn thời ông Diệm. Thời Đệ nhị Cộng ḥa có thể ông đă quay về dạy học hay làm luật sư.

 

 

 

Nguồn: Mai Thạch Lê Nguyên Phu

 

Cuốn sách “Trong Bóng Tối Lịch Sử” c̣n có một phụ đề là Khảo luận về Ngô Đ́nh Diệm, tác giả Mai Thạch Lê Nguyên Phu, sách đă được đăng kư và nộp bản ở Thư Viện Trung Ương, thành phố Montréal, tháng 11, 2008 [ISBN: 978-2-9810906, Thư viện và thư khố Quốc gia Quebec – Bibliothèque et Archives nationales du Québec – DCVOnline]. Cuốn sách tôi có trong tay là một ấn bản đặc biệt, in giới hạn, không đề giá bán.

 

Có thể sau này, tác giả phổ biến rộng răi hơn chăng?

 

Đọc ông như đọc một cuốn biên niên sử thời đại với không biết bao nhiêu nhân sự xấu tốt có cả. Nhưng xấu nhiều hơn tốt. Xấu hay tốt đối với ông tùy thuộc vào thái độ chính trị đối với thể chế và đồng thời có được một nhân cách không thể chê trách.

 

Cứ từ nguyên tắc đó ông phân biệt kẻ chính người tà.

 

Kể cũng khá khắt khe và độc đoán mặc dầu thực tế họ đều có thể là như thế: thiếu tài, thiếu đức lại ưa xu nịnh hoặc hống hách.

 

Ông dị ứng với các nhân vật chính trị mà phần đông xuất phát từ các đảng phái. Điều đó cũng hiểu được.

 

Hầu hết các đảng phái Quốc Gia đều có nguồn gốc từ thời Pháp thuộc như Việt Nam Quốc Dân đảng, Đại Việt Quốc Dân đảng, Đại Việt Duy Dân, v.v.. đặt trên t́nh tự yêu nước mà mục tiêu là chống thực dân. Thực tại đất nước đă thay đổi, nhưng thực trạng đảng phái vẫn vậy. Tổ chức đảng thường lỏng lẻo nên phân nhánh đảng thành những nhóm, bè phái, phong trào, mặt trận, v.v.. Chẳng hạn Mặt trận cứu nguy dân tộc, Mặt trận quốc gia dân chủ xă hội.. Hoặc thành những Phong trào như Phong trào Phật giáo Xă hội, Hay như Lực lượng Quốc Gia Tiến bộ. Tính chất phân nhánh, cục bộ, lỏng lẻo tổ chức biến các đảng mang tiếng là “xôi thịt”, “bất lực”. “chia rẽ” nhau và chia rẽ người quốc gia. Chỉ nhằm nắm chính quyền, lo đưa người vào nắm Quốc Hội hay Thượng Viện. Nắm không được th́ bất măn, t́m cách chia rẽ.

 

Những h́nh ảnh tốt đẹp về đảng phái như cuộc Khởi nghĩa Yên Báy 1930, cuộc Khởi nghĩa Lạng Sơn chỉ c̣n là dư âm của một thời.

 

Gần như tất cả những khuôn mặt nổi bật nhất từ các người tham chính, các người làm chính trị, các tướng lănh, các đảng phái đều được ông nhận diện gần như không thiếu người nào như các ông: Nguyễn Ngọc Thơ, Trần Văn Hữu, Nguyễn Cao Thăng, Nguyễn Văn Ngân, Nguyễn Văn Ngăi, Bảy Viễn, Ba Cụt, Trịnh Minh Thế, Nghiêm Xuân Thiện, Phạm Hữu Chương, Nguyễn Lưu Viên, Trần Văn Đỗ, Phan Văn Giáo, Trương Tử Anh, Nhất Linh, Vũ Văn Mẫu, Trần Văn Chương, Trần Văn Hương, Phan Huy Quát, Phan Quang Đán, Hoàng Xuân Tửu, Nguyễn Xuân Chữ, Nguyễn Tôn Hoàn, Hoàng Cơ Thuỵ, Đinh Xuân Quảng, Phan Bá Cầm, Vương Văn Đông, Thân Trọng Thuận, Huỳnh Văn Lang, Nguyễn Lương, Nguyễn Đ́nh Thuần, Vơ Văn Hải, Nguyễn Trân, Nguyễn Văn Lực, Nguyễn Văn Mầu, Nguyễn Mộng Bích, Nguyễn Văn Lượng, Trần Trung Dung, Nguyễn Phương Thiệp, Trần Quốc Bửu, Đoàn Thêm, Phan Khắc Sửu, Vương Hồng Sển.

 

Cạnh đó là các tướng lănh như Lê Văn Tỵ, Trần Thiện Khiêm, Mai Hữu Xuân, Tôn Thất Đính, Đỗ Mậu, Dương Văn Minh, Trần Tử Oai, Phạm Xuân Chiểu, Nguyễn Văn Là, Nguyễn Khánh, Lê Văn Kim, Nguyễn Văn Vỹ, Nguyễn Cao Kỳ, Trần Văn Minh, Dương Văn Đức, Nguyễn Ngọc Lễ, v.v..

 

Phần đông những nhận định phê phán các nhân vật nêu trên đều căn cứ vào những hành động, những điều họ đă làm và phần chính xác là có.

 

Tôi tin như vậỵ. Chỉ có điều khác biệt, mỗi nhân vật trên tùy theo ngôn ngữ ông xử dụng mà trở thành kẻ thậm tệ xấu, xấu vừa hay tốt. Chẳng hạn khi ông gọi tướng Trần Tử Oai là “đồ vô lại” th́ cũng không xa sự thật là mấy chăng? Khi nhận xét về Vương Hồng Sển th́ tôi thấy quả đúng như vậy. Đọc “Nửa Đời Hư” của Vương Hồng Sển, tôi nh́n ra nhiều điều bất cập không phải như người đời thường tâng bốc ông.

 

Có nhiều nhân vật như Trần Văn Hương nay đọc ông th́ tôi thấy rơ hơn.

 

Kết thúc cuốn sách, ông Lê Nguyên Phu cho biết “cháy nhà ra mặt chuột” và ông đă t́m ra được 15 con chuột, trong đó gồm 11 quân sự và 4 dân sự trong đám người vừa kể trên.

 

Trong phần giới thiệu cuốn sách này, tôi sẽ không đề cập lại những phần bài viết ông nói về cá nhân ông Ngô Đ́nh Diệm trải dài suốt cuốn sách mà có thể nhiều tác giả khác đă nói tới nhiều. Hoặc là ông viết theo trí nhớ mà nhiều tài liệu mở ngày nay phong phú, chính xác và đầy đủ hơn nhiều. Chẳng hạn như về cuộc di cư 1954-1955, biến cố Phật giáo 1963, về cái chết của hai ông Diệm và Nhu, về vụ án ông Ngô Đ́nh Cẩn mà ông không đề cập tới.

 

Hiện nay, trong giới ṭa án mới chỉ có bài viết của luật sư Vương Văn Quan, người đă trách nhiệm đứng ra biện hộ cho ông Ngô Đ́nh Cẩn. Rất mong rằng sau này sẽ có một vị luật sư, chánh án ṭa án quân sự hay công tố viện như ông Công tố viên Đức theo gương luật sư Vương Văn Quan hay ông cựu đại tá Lê Nguyên Phu dám viết lại như một chứng nhân những dữ kiện pháp lư trong các ṭa án quân sự ở Việt Nam.

 

Lịch sử cần được viết lại và viết trung thực.

 

Ở đây, tôi chỉ đặc biệt xin giới thiệu những trường hợp liên quan đến ṭa án mà chính ông là người trong cuộc. Sự tiết lộ của ông ở đây rất là quư giá v́ giúp nhiều sự kiện lịch sử đă bị che mờ, hiểu sai, ngay cả xuyên tạc được nh́n lại một cách công bằng.

 

Và tôi nghĩ, đây là những đóng góp không nhỏ của cuốn sách đối với lịch sử miền Nam trong 21 năm qua.

 

Vụ án Ba Cụt với Nguyễn Ngọc Thơ

 

Theo tác giả, ông Nguyễn Ngọc Thơ đang làm đại sứ ở Nhật th́ được gọi về giao cho nhiệm vụ đi chiêu hàng Ba Cụt, v́ Nguyễn Ngọc Thơ đă từng làm tỉnh trưởng tỉnh Long Xuyên, nơi Ba Cụt trú đóng. Nhưng trong cuốn “Những Biến Cố Lớn Trong 30 Năm Chiến Tranh Tại Việt Nam” 1945-1975 của Nguyễn Đ́nh Tuyến, trang 42 có ghi là “Tướng Dương Văn Minh [thật ra là Trung tá – NVL], Tư lệnh chiến dịch Rừng Sát của chính phủ Diệm, bắt được tướng Ḥa Hảo Ba Cụt Trần Quang Vinh [Lê Quang Vinh – DCVOnline]. Ba tháng sau, vào ngày 13/07/1956, Ba Cụt bị xử tử h́nh.”

 

Chiến dịch Nguyễn Huệ (mở ngày 1 tháng 1 năm 1956) để tiêu diệt quân Ba Cụt nhưng vẫn không thanh toán được. Sau đó Ngô Đ́nh Diệm chỉ đạo cho Nguyễn Ngọc Thơ âm mưu giả vờ thương thuyết, chấp nhận cho Ba Cụt về hợp tác với chính quyền, phong thiếu tướng, rồi vào phút cuối trở mặt, bắt ông. (Nguyễn Ngọc Thơ quen với ông giáo Hoành – cậu ruột Ba Cụt, người đă dạy Ba Cụt học tiểu học và rất được Ba Cụt kính trọng.) Nguồn: wikipedia.org

 

Tôi nghĩ rằng giả thuyết Nguyễn Ngọc Thơ t́m bắt đuợc Ba Cụt được nhiều nguời công nhận hơn.

 

Nguyễn Ngọc Thơ hẹn được với Ba Cụt tại “Chắc Cà Đao” để thương lượng. Ba Cụt đến nơi hẹn với 5 hộ vệ th́ bị phục kích và bị bắt tại chỗ ngày 13/04/1956. Nguyễn Ngọc Thơ đưa Ba Cụt ra xét xử và tuyên án tử h́nh Ba Cụt ngày 11/06/1956. Ba Cụt chống án. Ṭa Thượng thẩm Sài G̣n họp phiên đại h́nh lưu động tại Cần Thơ ngày 28/06/1956 tuyên phán y án toà Sơ thẩm Cần Thơ. Cả hai Toà sơ thẩm Cần Thơ và Thượng Thẩm tại Sài G̣n họp tại Cần Thơ, chỉ xử dụng những vụ phạm pháp thường tội của Ba Cụt, c̣n những tội trạng liên quan đến an ninh quốc gia th́ giao cho ṭa Toà án quân sự Sài G̣n thụ lư. Ṭa án quân sự Sài G̣n xử lưu động tại Cần Thơ cũng tuyên án tử h́nh Ba Cụt ngày 04/07/1956. Cả hai bản án tử h́nh của các ṭa án dân sự cũng như quân sự được thi hành ngày 13/07/1956.

 

Điểm đáng nói trong vụ án Ba Cụt là địa điểm xét xử và người ngồi ghế công tố của Toà án quân sự Sài G̣n trong vụ này. Ṭa án quân sự Sài G̣n, lúc bấy giờ là tỏa án quân sự duy nhất có thẩm quyền địa hạt (Compétence territoriale) trên toàn miền Nam, nhưng chỉ xử cố định ở Sài G̣n. V́ thế, ṭa án quân sự không thể xử lưu động bằng cách kéo nhau xuống Cần Thơ xử án. Cho nên, ông Nguyễn Ngọc Thơ đă làm một việc phi pháp không có pháp luật nào cho phép ông thiết lập ṭa án lưu động ở Cần Thơ để xử án.

 

Thứ đến, ông Nguyễn Ngọc Thơ đă đ cử đại tá Mai Hữu Xuân, giám đốc Nha an ninh quân đội thi bấy giờ ngồi ghế công tố. Mai Hữu Xuân không rành pháp luật lại không có tư cách pháp lư để trở thành thẩm phán công tố.

 

Có thể trước sau ǵ Ba Cụt cũng khó mà thoát án tử h́nh. Nhưng thủ tục tố tụng đă sai trái mà cứ b́nh thường có phản bác th́ có thay đổi được ǵ không? Theo như ông Lê Nguyên Phu viết:

 

“Nhưng tôi biết rơ vụ xử án Ba Cụt là một hành vi bất hợp pháp do Nguyễn Ngọc Thơ chủ trương.”


Nhưng lúc bấy giờ, Nguyễn Ngọc Thơ mới chỉ là bộ trưởng kinh tế, tư cách ǵ cho phép ông ta chỉ định ghế Công tố Viện cho Mai Hữu Xuân? Quyền hạn nào cho phép Nguyễn Ngọc Thơ cho phép thiết lập ṭa án lưu động ở Cần Thơ để xử án?

 

Theo ông Nguyễn Cần, vốn là một cựu thẩm phán, bây giờ là một nhà báo có cho tôi biết, những chứng luận của ông Lê Nguyên Phu không vững. Bởi v́ những lư lẽ sau đây: Vụ án xử Ba Cụt có đến 3 phiên ṭa, 2 phiên ṭa dân sự và một phiên ṭa quân sự.

 

1. Ṭa Dân sự – Ba Cụt bị truy tố về các tội giết người, hăm hiếp, cướp của, v.v..

·        Phiên ṭa sơ thẩm đại h́nh Cần Thơ và đồng bọn, bị tuyên án tử h́nh. Ba Cụt kháng án.

·        Ṭa Thượng Thẩm Đại H́nh: Lúc đó miền Nam chỉ có hai toà. Nhưng ông Diệm muốn xử ở Cần Thơ cho dân chúng dưới đó coi vào ngày 14/06/1956. Ông Diệm đă ban hành Dụ số 33 thành lập Toà Thượng Thẩm Cần Thơ để tái thẩm. Ṭa y án tử h́nh của Ṭa Sơ thẩm.

 

2. Ṭa án quân sự

 

Ba Cụt bị xét xử và truy tố v́ chống đối lại quân đội Quốc Gia. Toà án quân sự không có phạm vi quản hạt như Ṭa án dân sự. Và nếu quả thật có trở ngại, ông Diệm đă ban hành một đạo luật thiết lập Ṭa án quân sự như ṭa Đại H́nh rồi. Ông không làm v́ không thấy có trở ngại pháp lư ǵ. Ngày 04/07/1956, Ṭa án quân sự đă lên án tử h́nh Ba Cụt. Như vậy, Ba Cụt bị hai lần án tử h́nh do hai ṭa khác nhau..

 

Trên đây là ư kiến của ông Nguyễn Cần tŕnh bày như một ư kiến khác để tiện đường dư luận về vụ án Ba Cụt. Mong nhận được những ư kiến xây dựng về vấn đề này.

 

Vụ hăm hiếp người rồi giết người dấu xác để phi tang

 

Vụ này xảy ra tại Trung tâm huấn luyện Quang Trung. Một sĩ quan chỉ huy trưởng Trung tâm đă hăm hiếp một cô đầy tớ gái. Cô này đă kháng cự lại mănh liệt. Viên Sĩ quan này nổi nóng giết chết cô gái nạn nhân, sau đó t́m cách dấu xác để phi tang. Hiến binh Quang Trung nghe tin có án mạng mở cuộc điều tra. Mai Hữu Xuân muốn che chở cho sĩ quan thân tín của ḿnh muốn ém nhẹm nội vụ, ngăn cản không cho hiến binh đến điều tra. Ông Lê Nguyên Phu ra lệnh cho hiến binh phải tiếp tục điều tra dù cho Mai Hữu Xuân có là tướng cũng không có quyền ngăn chặn cuộc điều tra tư pháp.

 

Mai Hữu Xuân phạt tiểu đội trưởng điều tra 15 ngày trọng cấm và hồ sơ đưc chuyển về Bộ Tổng Tham Mưu. Thiếu ttướng Chiểu, tham mưu trưởng tăng phạt lên 20 ngày trọng cấm. Hồ sơ được chuyển lên đại tướng Tỵ, Tổng Tham Mưu trưởng, và nay h́nh phạt tăng lên gấp đôi, 40 ngày trọng cấm.

 

Trước sự việc như vậy, ông Lê Nguyên Phu phúc tŕnh lên Bộ Quốc Pḥng. Ông Trần Trung Dung vốn cũng là một luật gia xem hồ sơ phúc tŕnh, nh́n nhận các tướng lănh đă lạm quyền khi xen vào địa hạt tư pháp và ra lệnh hủy bỏ lệnh 40 ngày trọng cấm… Mặc dầu vậy, tướng Chiểu lại gọi cho ông Lê Nguyên Phu trách, “Làm mất uy tín của quân đội.” Ông đă trả lời cho tướng Chiểu:

 

“Uy tín các tướng lănh là phải xử sự cho đúng khuôn phép chứ không tiếp tay nhau hành hạ một hiến binh vô tội. Cái uy tín Thiếu tướng đặt sai chỗ rồi.”

 

Ch rất tiếc, ông Lê Nguyên Phu vốn ở trong ngành quân pháp hiểu rơ hơn ai hết thế nào là một tội phạm, khi viết về vụ án khá quan trọng này, Đây là một vụ án h́nh sự, có thể can tội cố sát, ông đă không cho biết kết quả vụ án giết người bịt miệng sau đó đi đến đâu? Ông sĩ quan đó bị kết án bao nhiêu năm tù? Ông đă nêu ra vụ án oan ức của người con gái xấu số và bênh vực người hiến binh điều tra nội vụ. Nhưng ông đă không cho biết tên cái ông sĩ quan đă ám hại đời cô gái là ai? Gia đ́nh cô gái đă được bồi thường ra sao? Hay là vụ án sau đó bị cho ch́m xuồng? Đă minh bạch th́ xin minh bạch cho trót.

 

Nếu vụ án sau đó bị cho ch́m xuổng và nạn nhân chết oan uổng th́ phải nói tới một thứ ṭa án ở Việt Nam đă bị các thế lực biến thành một cơ chế ṭa án bất công, thối nát. Nếu ông viết cho rơ ràng vụ án này th́ lời kết án của ông mới có cơ sở, c̣n nếu không làm được như vậy th́ thật là đáng tiếc, vẫn chỉ là những lời kết án suông.

 

Sự thiếu sót này làm cho một người đọc b́nh thường như tôi cảm thấy ông chỉ muốn đổ trách nhiệm cho những sĩ quan cao cấp trong quân đội VNCH muốn che đậy vụ án hơn là bạch hóa một vụ án. T́nh trạng đó cũng xảy ra trong nhiều trường hợp khác mà ông đă chỉ nêu sự việc mà không nêu đủ những yếu tố cấu thành một tội phạm như trong trường hợp vụ buôn lậu vé số của bà Đức Âm.

 

Việc nêu ra mà thiếu cơ sở pháp lư, thiếu một phiên ṭa với những lời buộc tội và bản án làm cho vụ việc được nêu ra thiếu thành tố pháp lư, tội phạm biến thành một lời kết án vu vơ chăng?

 

Đây là một thiếu sót tôi t́m thấy rải rác trong toàn bộ cuốn sách của ông.

 

Riêng ông bà tướng Chiểu th́ tôi có gặp đôi ba lần, không ngờ tướng tá ḿnh lại như thế? Ông Chiểu c̣n dính dáng đến vụ ông Thiếu tướng Hồ Văn Tố mả tôi muốn viết lại đây cho những người trẻ thế hệ sau này rơ chuyện. Tướng Hồ Văn Tố, chỉ huy trưởng trường Vơ bị Thủ Đức có bồ là một cô gốc Tàu, bán hàng tại Câu Lạc bộ tại trường Vơ bị. Ông tướng thuê một biệt thự ở Gia Định làm chỗ đi về với t́nh nhân. Trong cuộc mây mưa, chẳng may tướng Tố chết trên bụng cô gái. Tướng Chiểu muốn ém nhẹm vụ này gọi điện thọai cho giám đốc hiến binh, ông Lê Nguyên Phu, xin bỏ qua. Ông Lê Nguyên Phu từ chối vẫn cho hiến binh điều tra, giảo nghiệm cả những vết tinh trùng trên nệm gối, trên quần áo.

 

Tướng Chiểu đành chịu, ấm ức không làm ǵ được, đành để tướng lănh mất mặt. Vụ tai tiếng này rồi cũng đến tai ông Diệm. Dĩ nhiên, ông Diệm khó tha thứ cho tướng lănh trong vụ x́ căng đan này. Giá ông Diệm c̣n sống th́ tôi xin phép được vào thưa tŕnh với tổng thống là “Họ” c̣n tổ chức mạt chược lén ở Thủ Đức và kể cho tôi nghe, mỗi vị đều có một em vũ nữ nữ hầu cạnh, chẳng có em nào có mảnh vải che thân cả. Chẳng biết khi nghe kể xong, tổng thống thăng cho tôi làm chức ǵ?

 

Vụ án “Thượng Mă Phong”, xét về mặt pháp lư không lấy ǵ làm quan trọng. Và cũng như trong các cuộc điều tra của Hiến binh dưới quyền tác giả, ông đă không cho biết là vụ việc cuối cùng đi đến đâu? Theo tôi được biết, vụ tai tiếng này đến tai ông Diệm, ông khá tức tối và cấm không cho cử hành các nghi lễ tống táng thông thường dành cho một vị tướng? Dù sao, đó cũng chỉ là những lời đồn tôi nghe được lúc đó không lấy ǵ làm chắc chắn.

 

Vụ đầu cơ vé số của bà mẹ vợ ông Huỳnh Văn Lang

 

Phải thưa là tôi có quen biết với ông Huỳnh Văn Lang trong phạm vi văn học, báo chí. Thỉnh thoảng ông có liên lạc, trao đổi về những vấn đề liên quan đến tờ Bách Khoa, hay cho mượn tài liệu để tôi viết bài.

 

Sự liên hệ giữa hai người chỉ có vậy thôi. Không thành kiến, không yêu, không ghét. Trước đây tôi có viết hai bài với nhan đề “Từ Huỳnh Văn Lang đến Lê Ngộ Châu” và bài thứ hai “Nh́n lại một số vấn đề của Bách Khoa”. Cả hai bài tiếng là bàn chuyện văn học, nhưng cũng nhằm “hạ nhiệt độ” cuộc tranh căi khá sôi nổi về Ai là người “chủ” chính thức của tờ Bách Khoa. Và tôi đi đến kết luận: Kẻ có công, người có của. Ông Huỳnh Văn Lang là người có của, Lê Ngộ Châu là người có công xây dựng tờ Bách Khoa trong suốt chừng ấy năm trời.

 

Ít ra sau đó th́ không c̣n ai mất công tranh căi về truyện Bách Khoa nữa.

 

Nhắc đến việc viết hồi kư, tôi nhận thấy có hai người viết hồi kư khá “nổ” là ông Huỳnh Văn Lang và ông Vơ Long Triều. Nhưng mỗi ông mỗi cách. Vơ Long Triều viết nổ ra cái vẻ ta đây, Huỳnh Văn Lang viết nổ tàng tàng ra chiều khinh miệt người khác.

 

Riêng trong sách của ông Lê Nguyên Phu, tôi có cảm tưởng tác giả dành cho ông Huỳnh Văn Lang một chỗ khá đặc biệt, đến hơn 10 trang sách, trong đó nói về truyện ông Huỳnh Văn Lang sạo sạo chứ chẳng có bằng cấp ǵ.

 

Đây là một vấn đề, thiển nghĩ, có nên viết vào trong cuốn sách không? Tôi được biết, ông Huỳnh Văn Lang nhờ có quen biết với Tổng Giám Mục Ngô Đ́nh Thục từ trước 1950. Sau đó, ông được sang Pháp học, ri một hai năm sau sang Canada, thuộc tỉnh Québec vào năm 1952. Ông thuộc lớp sinh viên đầu tiên sang Canada du học. Nhưng tôi chỉ biết vậy. Sau đó ông sang Mỹ học và ở đây có bằng về “Tiến sĩ kinh tế”. Kịp khi ông Diệm về nước th́ có cho gọi ông về làm “thống đốc ngân hàng”, rồi ông hoạt động trong nhóm cơ sở của đảng Cần Lao của ông Nhu.

 

Chuyện bằng cấp theo như lời tác giả Lê Nguyên Phu th́ ông Huỳnh Văn Lang, v́ không có tú tài nên chẳng học được ǵ và đỗ đạt ǵ cả. Vấn đề này không mấy quan trọng và xin bỏ qua và để tự ông Huỳnh Văn Lang nếu thấy cần, đối chất với tác giả Trong Bóng Tối Lịch Sử.

 

Chúng tôi chỉ xin tóm tắt lại phần bài viết của ông Lê Nguyên Phu nói về vụ vé số chợ đen của bà mẹ vợ ông Huỳnh Văn Lang. Đáng lẽ ra cũng chỉ nên nói về vụ chợ đen vé số do bà Đức Âm chủ mưu và không cần nhắc nhở ǵ đến ông con rể là Huỳnh Văn Lang mới phải. Ở đây th́ bà Đức Âm chỉ được nói tới vài ḍng, phần c̣n lại dành cho con rể bà theo kiểu “mẹ vợ làm, con rể chịu”

 

Theo ông Lê Nguyên Phu, chính phủ có ban hành sắc lệnh 7/62TTP trừng trị những kẻ đầu cơ vé số chợ đen. Thoạt đầu các vụ điều tra nạn đầu cơ vé số do Công An và Cảnh Sát thụ lư. Nhưng sau TT Ngô Đ́nh Diệm gọi ông Lê Nguyên Phu vào dinh và ra lệnh cho Tổng nha Công an và Cảnh sát phải chuyển giao hồ sơ qua Hiến Binh Quốc Gia. Ông Lê Nguyên Phu ra lệnh cho thiếu tá Nguyễn Văn Minh, đại đội trưởng Hiến binh quân khu thủ đô thi hành các biện pháp pháp lư cần thiết. Thiếu tá Minh t́m ra hai thủ phạm chính là ông Nguyễn Lương, Bộ trưởng Tài chánh, cũng là chủ thầu, và Nguyễn Quang Nhạ, giám đốc Nha ngân khố. Vé số được đấu thầu, ai trả giá cao nhất th́ được trúng thầu. Chẳng hạn, người trả giá cao nhất là 8 đồng một vé. Lời 2 đồng. Nhưng 2 đồng kia phải chia cho ông Nguyễn Lương và Nguyễn Quang Nhạ. Không lẽ mua 10 đồng lại huề vốn 10 đồng. V́ thế có nạn bán chợ đen. Đáng lẽ phải đưa đi tù các ông Nguyễn Lương ăn chặn 2 đồng, người ta lại chi bắt giam những kẻ bán chợ đen.

 

Đó là cái nguyên cớ sâu xa của việc tham nhũng.

 

Ngoài hai người trên xem ra vô tội, Hiến Binh lại bắt bà Đức Âm và một số bà khác để điều tra… Hiến Binh giữ bà từ sáng đến chiều để điều tra. Ông Huỳnh Văn Lang được báo tin đă vội vă đến văn pḥng điều tra tư pháp la lối, đ̣i họ thả bà mẹ vợ về ngay. Ông Lê Nguyên Phu đă yêu cầu ông Huỳnh Văn Lang đi ra ngay và đừng la lối. Biết không làm ǵ được, ông Huỳnh Văn Lang đành bỏ ra về.

 

Cũng theo ông Lê Nguyên Phu, sau này viết hồi kư, ông Huỳnh Văn Lang đă viết khác như sau:

 

“Huỳnh văn Lang – Từ một chàng thanh niên quê ở tỉnh nhỏ của miền Nam, có cơ hội được Giám Mục Ngô Đ́nh Thục hướng dẫn để đi tu thành linh mục nhưng sau đó bị đuổi khỏi trường. Lên Đà Lạt làm thợ hớt tóc, có dịp làm quen với Ngô Đ́nh Nhu và Ngô Đ́nh Diệm. Rồi đi du học Pháp, Canada và Mỹ. Khi Ngô Đ́nh Diệm làm thủ tướng, chàng sinh viên Huỳnh Văn Lang đang ở Hoa Kỳ đă được mời về tham gia chính quyền Đệ nhất Cộng ḥa với chức vụ giám đốc Viện Hối Đóai và kiêm luôn công việc tổ chức Đảng Cần Lao. Nguồn: Việt báo Online.

(…)

“Một chiều tối gió mưa tầm tă, khoảng 9 giờ tối, tôi đang dạy học ở trường Bách Khoa, Tôn Thọ Tường, vợ tôi vội vă ngồi xe đi rước tôi về ngay; cô ta khóc: Mợ bị hiến binh bắt, hiện bị giam giữ ở khám Nguyễn Du. Anh phải về lập tức. Xe về ngang khám cửa sau cũng trên đường Nguyễn Du, bỏ tôi xuống. Tôi lên từng nhà trên và xin gặp Tư lệnh Hiến binh Lê Quang Phu, Cần Lao của ông Cẩn đưa vào thay thế Nguyễn Quang Sanh, bạn tôi. Tôi sẵn không có cảm t́nh với đại tá Phu, tuy nhiên anh tiếp rước tôi hết sức chân t́nh và lễ phép, v́ anh cũng biết tôi là ai ở trong hệ thống Cần Lao.”

(Huỳnh Văn Lang, “Nhân chứng một chế độ”, tập 3, trang 96-97)

 

Đọc câu chót cho thấy ông Huỳnh Văn Lang quả thực cao ngạo quá chăng? Tội của ông chỉ là tội la lối và có phần phách lối với một ông giám đốc điều tra tư pháp. Giá ông nhẹ nhàng và biết điều một chút th́ nay vụ án chợ đen vé số đâu có dịp được lôi ra ánh sang và độc giả đâu có phải đọc những ḍng này?

 

Ông Lê Nguyên Phu đưa ra phản biện như sau:

 

·         Các cơ sở chính quyền đều đóng cửa lúc 6 giờ, làm sao có chuyện ông Huỳnh Văn Lang đến lúc 9 giờ tối được đón tiếp lễ phép?

·         Đón tiếp ở đâu? Nếu ở văn pḥng th́ văn pḥng ở tầng trệt? C̣n nếu đón tiếp ở nhà th́ cũng phải ở pḥng khách, không thể ở trên lầu v́ là pḥng ngủ?

·         Ông Huỳnh Văn Lang cho biết chẳng những gặp mẹ vợ và c̣n được gặp những người khác và ông đă ghi notes, tŕnh tổng thống, sau đó tổng thống đă ra lệnh thả hết.

 

Nhưng theo ông Lê Nguyên Phu, không thể có bất cứ ai có quyền lấy lời khai của can phạm ngoài những người có trách nhiệm điều tra. Nếu Tổng Thống tin Huỳnh Văn Lang th́ tại sao sau đó Huỳnh Văn Lang bị cách chức và giải tán kỳ bộ của Huỳnh Văn Lang vào năm 1957?

 

Nhưng cũng như những “vụ án” khác, tôi không hiểu vụ án này kết quả điều tra ra sao, ṭa án xét xử ra sao? Bà Đức Âm bị tù mấy năm hay cậy quyền thế con rể rồi cũng được thả về? Và có liên quan ǵ đến cá nhân Huỳnh Văn Lang. Đây là những vấn đề mà ông Lê Nguyên Phu cần làm sáng tỏ, nếu không, nó trở thành một vụ vu khống, nếu điều tra vụ vé số bà Đức Âm được trắng án?

 

Tôi hy vọng là những ḍng này được ông Huỳnh Văn Lang đọc và trả lời thích đáng?

 

 

(C̣n tiếp)


Nguồn: Bài đă đăng trên DCVOnline.net năm 2010

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính