30 tháng 4 – Đi t́m thời gian đánh mất

(Phần II)

 

Nguyễn Văn Lục

 

 

 

 

Cuối cùng cả miền Nam đều buồn.

 

Mẹ tôi không nói ra, nhưng có vẻ héo hắt đi. Đôi mắt hơm sâu thêm v́ những đêm không ngủ. Nụ cười úa tàn không c̣n oan oang như trước nữa. Bố tôi th́ bề ngoài thấy như vẫn vậy. Thói quen của mẹ dấu diếm những điều cho riêng ḿnh đă thành tật. Do đó, nó khoét sâu vào tâm khảm, đục khoét cơ thể lúc nào không hay. Người cứ nhẹ đi như bấc. Có những buổi trưa bất ngờ sang thăm mẹ. Mẹ ngồi ngủ gục, ẻo lả một bên. Tôi ngỡ ngàng kinh ngạc, xót xa. Con rể đi học tập, con trai lang thang, lếch thếch ngoài Vũng Tàu t́m đường đi. Con cả ở ngoài bắc vẫn biệt tăm, vẫn mù mịt, không biết sống hay chết. Đă mấy chục năm rồi sao chưa về. Nổi đau quá khứ trộn thêm nỗi lo hiện tại. Các con tứ tán. Mẹ vẫn không một lời ca thán. Mà mẹ biết trách ai bây giờ.

 

Chẳng bao lâu sau, mẹ từ giă cơi đời v́ gánh nặng cuộc đời không gánh nổi.

 

Mẹ tôi chết. Không c̣n cách ǵ cản quyết tâm phải ra đi của tôi nữa. Đúng là mẹ tôi ép tôi phải ra đi.

————————————-

Từ ngày Cách mạng vào đến giờ, tôi tự hỏi: đă có một ngày, đă có việc ǵ làm cho chúng tôi vui? Chưa. Chỉ có những chuyện buồn, hết chuyện nọ đến chuyện kia. Thế giới chia cách từ chỗ đó.

Trong vấn đề đi học tập này, chắc cần phải nói thêm cho rơ. Có vài người trong chính quyền mới là các ông Năm Xuân, Mai Chí Thọ và ông Tạ Bá Ṭng, Nguyễn Hộ, Vơ Văn Kiệt, ông Sáu Ngọc, giám đốc công an thành phố rồi Sáu Đức, tỏ ra nới tay đối với một số trí thức miền Nam. Không có mấy ông này th́ nhiều người cũng khốn khổ lắm. Theo ông Hồ Ngọc Nhuận, sau 30/4/75, lănh đạo đă cho ông một đặc ân là lên danh sách những người được đi học tập cải tạo riêng. Ông Nhuận có kể trưởng hợp Dương Văn Ba bị lọt sổ (DVB). Can thiệp mấy cũng không được. Ông Tạ Bá Ṭng th́ cứ nhất định phải đưa DVB đi học tập. Đến phút chót, ông Ṭng mới xét lại và miễn cho DVB khỏi đi học tập cải tạo tập trung. Có những anh đă được can thiệp như dân biểu Thạch Phen, đại uư quận trưởng, gốc Khmer hay Trần Ngọc Giao đă được miễn học tập tập trung… Nhưng về địa phương th́ lại khác, bị bắt, rôi được thả, rồi cả hai ông đều chết. Không có ông Mai Chí Thọ th́ ông Nguyễn Chức Sắc, chồng bà dân biểu Kiều Mộng Thu hay dân biểu Lê Tấn Trạng làm sao thoát cảnh tù đầy.

 

Cũng cần nhắc lại ở đây là thành ủy thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) đă đánh giá khá tích cực ba thành phần sau đây sẽ là những yếu tố thuận lợi sau này trong việc xây dựng, tái thiết và phát triển miền Nam. Bỏ qua ba yếu tố này sẽ là những bất lợi bất cập gây trở ngại cho việc tái thiết và phát triển miền Nam.
Đó là 3 thành phần cơ hữu của chế độ cũ cần được đánh giá đúng mức: Người Việt gốc Hoa, viên chức và sĩ quan chế độ cũ và khối người Thiên Chúa giáo.

 

Rất tiếc, sự đối xử phân biệt với người Hoa cũng như việc trục xuất người Hoa ra khỏi VN, việc đánh tư sản mà phần lớn là người gốc Hoa, việc bắt viên chức cũng như sĩ quan đi học cải tạo lâu ngày đă đưa đến thảm cảnh ‘boat people’ như mọi người đă thấy. Việc trục xuất khâm sứ toà thánh và các thừa sai ngoại quốc mà theo đề nghị của ông Nguyễn Cơ Thạch là nên duy tŕ ṭa Đại sứ Hoa Kỳ để cho việc bang giao quốc tế không bị gián đoạn.

 

Nếu đề nghị của ông Nguyễn Cơ Thạch, một người có kinh nghiệm về những bang giao chính trị trên thế giới, được chấp nhận, th́ đă hẳn có thể tránh được nhiều thảm họa cho đất nước.


Cơ hội xây dựng đất nước đă một lần để hụt tay

 

Một chuyện vui kể lại: Gia đ́nh tôi có dịp đón tiếp anh chị Kim, con nhà bác từ Hà nội vào. Anh chị cũng hiền lắm. H́nh như cũng không được khá giả ǵ. Anh có cô con gái là nữ ca sĩ nổi tiếng miền Bắc lúc bấy giờ. Giọng cháu lanh lảnh, thánh thót, sắc cạnh, cao vút, nhưng không truyền cảm lắm. Nghe vẫn chưa quen, thấy thế nào ấy. Thấy hay, nhưng vẫn không cảm được. Cho cái ǵ, anh chị cũng nhận mang về, tất cả chỉ là đồ cũ. Tôi có chai rượu Black and White để dành, nhân dịp đó mang ra đăi anh. H́nh như chỉ qua chầu rượu thứ hai, anh đă say mèm. Say rồi , anh chả giữ ư tứ, chả rào trước đón sau, chả nói theo bài bản nữa như lúc mới đến. Anh lộ nguyên h́nh hài là anh, con người thật. Anh chửi hăng quá, chửi cho đă như thể chưa bao giờ có dịp để chửi như thế, như thể đă nhịn nhiều năm. Anh chửi những nhân vật đời thường anh chỉ biết tụng niệm.

 

Xin đổi câu thơ này ra để tặng anh:

Sống ḿnh không được nói

Chết mới được ra lời.

 

Anh không chết, nhưng rượu vào làm anh chết giả và lúc đó anh mới sống thật với ḷng ḿnh. Tôi chỉ buồn cười. Cũng thương anh rồi d́u anh đi ngủ. Chị ấy th́ sáng hôm sau có vẻ rất băn khoăn khổ sở về bữa rượu hôm trước. Tôi th́ thấy thường quá, say nói lăng nhăng ai chấp làm ǵ. Từ đó, anh chị không bao giờ vào chơi nữa. Thật đáng tiếc.

 

12 tháng 6, 1975. Mỹ gửi đến ṭa Đại sứ Việt Nam một thông điệp

 

Thông điệp này do sứ quán Mỹ ở Paris gửi đến sứ quán của VN ở Paris: “Về nguyên tắc, Mỹ không thù hận ǵ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (VNDCCH). Đề nghị trên cơ sở đó tiến hành bất cứ quan hệ nào giữa hai bên. Mỹ sẵn sàng nghe bất cứ gợi ư nào mà phía VNDCCH có thể muốn đưa ra”.

 

Sau đó có buổi họp giữa ta và Mỹ, cấp bí thư thứ nhất ngày 10/07, giữa ông Đỗ Thanh và Pratt chủ yếu bàn về vấn đề MIA. Mỹ chấp nhận Việt Nam vào LHQ, Mỹ có thể đóng góp khôi phục lại Việt Nam bằng cách phát triển buôn bán, hợp tác kinh tế.

 

Và theo ông Trần Quang Cơ, nguyên thứ trưởng ngoại giao Công Hoà Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN0, năm 1977 ta đă có đủ khả năng để ta b́nh thường hóa quan hệ với Mỹ, nhưng ta đă bỏ qua. Thật là đáng tiếc.

 

Thứ bảy 14 tháng 6, 1975, thay đổi giờ thay đổi đời.

 

Kể từ sáng nay, giờ Hà nội (GMT-7) thay thế chính thức cho giờ ở Sài G̣n (GMT- 8). Đây là một thay đổi duy nhất mà người Sài G̣n không ai để ư tới. Chuyện thay đổi cả đời người c̣n chưa lư tới, một giờ th́ nhằm nḥ ǵ. Bây giờ là giờ của cách mạng hiểu theo nghĩa nào cũng đúng cả: Giờ của lịch sử, giờ của người chiến thắng.

 

Chỉ có kẻ thua trận là không có giờ và dĩ nhiên không có cả tương lai nữa.

 

Gia đ́nh tôi lại có dịp tiếp đón một ông chú bên nhà vợ. Mọi người gọi là chú Tiến. Nghe nói, h́nh như chú là thứ trưởng bộ kinh tế th́ phải. Tội nghiệp chú, các bà cô vợ tôi được dịp chửi rủa xả láng, nói bóng nói gió, chê bai đủ thứ. Chú chỉ cười. Chú chả thèm xin bất cứ thứ ǵ, có cho chắc cũng không lấy. Chú giầu chăng? Phần tôi, phải nhận tôi quư mến chú, dù ông chỉ hỏi thăm tôi một hai câu..

Giống anh chị Kim, ông chỉ tới thăm một lần và không bao giờ trở lại.

 

Dù sao, có bà con ở phía cách mạng cũng lợi, v́ có thể chửi mà không sợ đi tù.

 

Thứ ba, 17 tháng 6, 1975, tất cả các ngân hàng tư nhân đều bị đóng cửa.

 

Tất cả tài sản và tiền của các ngân hàng đều phải chuyển giao về ngân hàng quốc gia VN. Tất cả các hăng xưởng, nhất là của người Pháp đều rơi vào t́nh trạng tê liệt không hoạt động được. Đó là các hăng Citroen, các đồn điền cao su, các hăng nước ngọt vv. Họ phải chuyển giao hăng xưởng, tài sản tư nhân phải bán, ra đi với hai tay trắng. Lời hứa của tướng Trần Văn Trà, ủy ban quân quản thành phố vào ngày 8 tháng năm trước đại diện 120 đại diện báo chí ngoại quốc không c̣n ai nhắc tới nữa: “tất cả các tài sản của người ngoại quốc sẻ được bảo đảm tôn trọng”. Theo ông Duchemin đă được Mai văn Bộ trấn an: Người Pháp cứ việc yên tâm ở lại làm ăn.

 

Cái mà chính phủ nhắm tới là Người Tầu đang nắm giữ việc thương mại, buôn bán ở Chợ lớn. Nhưng chính phủ c̣n chưa ra tay. Mặc dầu vậy, những người Tầu có tiền của cũng đă chuẩn bị trong tay một giấy thông hành Đài Loan rồi.

 

Đừng quên rằng, sau những người Tàu Chợ Lớn, c̣n có cả một nước Tầu đứng sau họ.

 

Thứ bảy 21 tháng 6, 1975, giáo dục dưới mái trường XHCN.

 

Ngoài các trường công đă được hoạt động ngay những ngày đầu giải phóng, nay một số trường tư và trường chuyên môn dạy nghề được phép mở cửa, hoạt động trở lại. Đây là cái cửa mở đầu tiên được mở ra. Nhưng coi chừng, cửa chỉ mở hờ. Trường Regina Pacis nay không c̣n dạy giáo lư hay đọc kinh mà thay vào đó là những bài hát ca tụng Bác Hồ…

 

Các trường đại học cũng mở cửa lại, nhưng chưa có chính thức giảng dạy. Các chức Viện trưởng, khoa trưởng đều từ ngoài Bắc vào nắm giữ. Chuyên với hồng bắt đầu từ đây. Đây là keo thử thách nữa về sự phân biệt thế nào là chuyên, là hồng.

 

Đất nước tiến lên hay thụt lùi cũng từ cái khâu này.

 

Lại có vụ ám sát giết hai bộ đội sáng nay ở đường Trần Hưng Đạo. Họ bị cứa đứt cổ. Chẳng biết là thật hay giả. Dù sao, những tin tức kiểu đó cũng là món ăn giải trí và bổ đưỡng cho những kẻ thua trận.

 

Các giáo sư tuần tự đến trường đều đặn. Không bảo nhau mà trong trường chia ra phe phái rơ ràng không có quy ước và không có giới tuyến. Anh Hiệu trưởng cu ky một ḿnh. Anh kín đáo quá. Hiệu phó lăng xăng vẫn không che đậy hết cái gốc tư sản của anh. Mọi việc giao tiếp, xử lư, h́nh như anh đại diện hiệu trưởng lo liệu. Một anh trẻ tên Hùng, đang là đoàn viên, rất gương mẫu, rất kỷ luật, rất khe khắt với chính ḿnh và đồng nghiệp. Con mắt có vẻ soi mói mọi người, mọi chỗ. Anh cũng cu ky một ḿnh theo cách của anh. Sau này, anh t́nh nguyện đi lính sang Campuchia. Anh đă không có cơ hội trở về. Cùng lắm anh có Hương, một đoàn viên khác là bạn đồng hành. Nhưng tuy không nói ra người ta vẫn đọc được tâm sự ẩn kín của Hương. Ánh mắt lúc nào cũng gợi buồn, sự cố gắng đến mệt mỏi, nụ cười gượng gạo. Hoá ra, số phận Hương có thể c̣n khổ gấp đôi lần những người bạn đồng nghiệp. Một số nữ giáo viên lớn tuổi mà có thể chồng con đi học tập, họ làm việc, tuân thủ như cái máy không hồn. Một cuộc sống bất đắc dĩ. Một cuộc sống mơ về một cuộc sống ở một nơi nào khác.

 

Đa số giáo viên trẻ c̣n vui đùa hồn nhiên họp thành một đám. Hố thẳm rơi của những người cùng thân phận. Nhiều t́nh cảm nẩy nở giữa họ do cùng tâm trạng, cùng hoàn cảnh, cùng suy nghĩ. Ít lắm, có vài đồng nghiệp trẻ mà nhen nhúm quư mến nhau hết mực, trân trọng hết mực, bảo vệ nhau hết mực..cho măi đến về sau này.

 

Điều mà người ta không hề có, điều mà người ta không có dịp để sống trong những thời gian trước 75..

 

Thứ sáu 27 tháng 6, 1975, các tin đồn mỗi ngày mỗi nhiều.

 

Có bốn bộ đội canh gác ở ngay trong thư viện quốc gia bị giết. Hai bị đâm chết, hai bị cắt cổ. Trong ngày, nhiều tiếng nổ lớn được nghe thấy từ phía Tân Sơn Nhứt. Hai thường dân cưỡi Honda bị bắn hạ trước cửa toà lănh sự Pháp vào lúc 4 giờ. Đến 20 giờ tối, ba bộ đội bị bắn chết bởi hai người đi trên xe Honda ở góc Phan Thanh Giản, Phan đ́nh Phùng.

 

Tin đồn như thức ăn hằng ngày của dân Sàig̣n.

 

Mùng 10, tháng 7, 1975, tờ báo Công giáo và dân tộc: tiếng nói của chính quyền.

 

Sau đúng 10 tuần lễ, một tờ báo công giáo được xuất bản:

 

Tờ Công giáo và Dân tộc do nhóm Trương Bá Cần, hay nói ngược lại là Trần Bá Cường, Vương Đ́nh Bích, Phan KhắcTừ, Huỳnh Công Minh điều hành. Họ là người của Cộng sản. Xin ghi lại đây lời của Vương Đ́nh Bích: “Đảng Cộng Sản đă gây dựng 4 người chúng tôi làm đầu nảo mọi hoạt động của đảng trong giới Công giáo” . Phần Huỳnh Công Minh, khi được chọn làm đại biểu Quốc Hội đă phát thệ: “Phần tôi, tôi nguyện suốt đời phục vụ”. Trong một bài viết trên Tin nhà, số 43, 2000. Nguyễn Hữu Tấn Đức gọi bọn bốn ông này là Prêtres et commissaires. Linh mục và cán bộ. Thật ra tiền thân của nó là từ một tờ báo Công Gíao và Dân Tộc (CGDT) ở giáo xứ Paris, từ 69-75 do ông Nguyễn Đ́nh Thi đứng đầu. Nó có mặt từ đây cũng là do tiền của Nguyễn Đ́nh Thi tài trợ lúc ban đầu. Tất cả 4 người trên đều có dính dáng, liên lạc hay hoạt động với chế độ cộng sản từ trước. Tờ báo chỉ là nối kết những tổ chức tôn giáo nhà nước như trước đây ở Hànội. Chẳng hạn, ngoài Bắc có tổ chức với cái tên rất dài là: Ũy Ban liên lạc toàn quốc những người VN yêu tổ quốc, yêu hoà b́nh (UBLLCGTQ) Tờ báo CGDT ở Sài G̣n tọa lạc trên một toà nhà ba tầng gồm 50 nhân viên, trong đó có một vài tu sĩ. Vốn liếng tài trợ tờ báo là những hợp tác xă, cơ sở kinh doanh được nhà nước tài trợ như xí nghiệp làm bút bi, quạt trần, khách sạn Đại Kết, công ty Tinh Hoa, trường ngoại ngữ Nguyễn Trường Tộ, trường dạy nghề và máy vi tính Bạch Đằng..

 

Cho đến nay, tờ báo vẫn c̣n họat động đều đặn. Có lẽ đây là tờ báo duy nhất được sinh ra từ sau giải phóng và tồn tại lâu dài như vậy. Nó không thể chết, v́ nếu nó chết th́ cái đă làm nên nó chắc hẳn cũng không c̣n nữa. V́ có tính cách chính thức như tiếng nói của chính quyền nên nhiều người nghi kỵ và dè dặt. Người dân có cái nhạy cảm và dị ứng với cái ǵ chính thức, cái công quyền. Trước đây, các tờ Chỉ Đạo, Cách Mạng Quốc Gia cũng nhận được sự rẻ rúng của dư luận quần chúng. Đây là cái b́nh phong che chắn cho chế độ. Sau này, chính nội bộ của họ cũng tố cáo nhau như trường hợp giữa ông Nguyễn Đ́nh Đầu và ông Trần bá Cường tức Trương Bá Cần viết lộn ngược. Ông Vương Đ́nh Bích th́ đă viết thư hạch hỏi ông Phan KhắcTừ về tội lem nhem tiền bạc, về tổ chức, về chuyện một vợ hai con của ông. Tiền bạc vốn tài trợ ngoại quốc khoảng 150 ngàn Mỹ kim. Vốn vay để thêm thu nhập cho tờ CGDT như ở trên đă nhắc tới. Ông Bích hỏi ông Từ tiền lời lăi do xí nghiệp làm bút bi, quạt trần, đỡ đầu cho công Ty Tinh Hoa, vay vốn hai tỉ để lập nhà máy may và trồng 33 mẫu cao su, rồi đầu tư với công ty Singapore, đầu tư khách sạn Đại Kết, trường ngoại ngữ Nguyễn Trường Tộ, trường dạy nghề may và trường dạy vi tính Bạch Đằng là bao nhiêu, tiền đó bây giờ ở đâu. Tất cả đều do ông Từ đừng tên. Làm sao người dân biết được những chuyện làm ăn đó. Th́ cũng do chính họ tố giác nhau mà dân mới biết được.

 

Nhưng chuyện lem nhem của các ông th́ có liên quan ǵ đến chính quyền, miễn là tiếng nói của các ông vẫn theo một điệu nhạc đă sọan sẵn, bài bản được dàn dựng.

 

Sau này, Đức cha Nguyễn Minh Nhật, chủ tịch Hội đồng Giám mục (HĐGM) Việt Nam đă trả lời phỏng vấn trên tờ Églises d’Asie là: “người Thiên Chúa giáo hết tin tưởng vào Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo (UBĐKCG) và tờ báo Công giáo và Dân tộc”. Câu trả lời như thế có thể bị hiểu lầm là trước đây người ta vẫn tin, bây giờ mới hết tin.

 

Thứ tư mồng 9 tháng 7, 1975, vẫn lại những phụ nữ có chồng đi học tập.


Có một nhóm phụ nữ có chồng đi tŕnh diện học tập cải tạo đă tụ tập trước dinh Độc Lập cũ. Họ đ̣i hỏi cho biết tin tức về chồng con của họ. Bộ đội đă đến giải tán. Có những tin đồn cho biết, có 4 xe nhà binh chở bọn họ bị giết trên đường đi. Chế độ càng bưng bít, tin đồn càng nhiều. Sự lo sợ càng lúc càng gia tăng. Người ta bắt đầu đặt ra nhiều dấu hỏi về số phận những người đi học tập này.

 

Sau này, vào năm 1979, Việt Trần đă nhắc lại điều ấy trong cuốn sách của ông: J’ai choisi l’exil. nxb Seuil, 1979.

 

Hai chị tôi cũng nằm trong số những người đàn bà bất hạnh trên. Anh rể tôi, một sĩ quan đại uư an ninh quân đội. Một thứ sĩ quan bàn giấy mà suốt đời chỉ là đại uư. Chưa hề bao giờ biết bắn súng. Vậy mà anh đi biền biệt ra Bắc hơn mười năm sau mới trở về. Chị lớn tôi, một nách 7 đứa con, hai đứa lớn nhất c̣n ngồi ghế đại học, đứa út chập chững vào trung học. Chị nhỏ cũng không thua, 6 đứa. Gia đ́nh chị lớn trước đây sống bương chải nhờ có thêm hiệu hớt tóc ở đường Nguyễn Thiện Thuật. Cuộc sống đạm bạc qua ngày, chắt chiu và hà tiện để nuôi các con ra người. Chị tôi cùng lắm là loại đàn bà đảm đang, khéo thu vén như nhiều người khác. Nhưng nay chồng đi học tập. Gánh nặng đè trên hai vai các chị. Bỗng chốc hai chị tôi trở thành những người đàn bà phi thường. Một chị buôn bán kem. Một chị xông xáo, hàng ǵ cũng buôn, buôn đủ thứ. Đă hai lần, hễ cứ buôn bán có tiền là “xuất cảng” quẳng mấy đứa nhỏ ra biển. Hết lớp này đến lớp kia như lên cơn dồng. Hai lớp đă quẳng chúng ra biển đều thoát và không bị hăm hiếp. Nỗi lo, nỗi mừng cứ như sóng dồi. Các chị tôi như mê, như say điên cuồng không c̣n biết sợ là ǵ. Tôi sang trước, năn nỉ, lạy van các chị đừng cho các cháu đi nữa. Vẫn đi. Đi là đi. Đi xong tất cả chừng nấy đứa th́ chị nào chị nấy như cái khăn ướt vắt khô nước, cạn kiệt. Chị nhỏ tuổi gục xuống như cây chuối bị phạng ngang lưng như mẹ tôi trước đây, chưa kịp đi đoàn tụ. Bên này, tôi tức tưởi khóc lén một ḿnh. Chị lớn vừa sang ít lâu, gục theo không kèn, không trống. Gục xuống v́ công việc đă hoàn tất. Mission accomplie.

 

In memoriam những ḍng này cho hai chị tôi. Những người đàn bà bất hạnh trong một đất nước mà trời đất nổi cơn gió bụi, mà nước mắt như mưa sa, mà ḷng người độc ác vô tận, mà hận oán như trời đất bao la.


Dù sao th́ các anh rể tôi cũng may mắn hơn nhiều người đi học tập khác. Tôi có người bạn, anh Nguyễn Thanh Ty, anh nguyên là giáo sư biệt phái nên phải đi học tập. Mới đây anh có viết một cuốn sách và gửi tặng cho tôi đọc: Trong lao tù, CS, Trại Đá Bàn và A.30. Mấy tháng sau ngày đi học tập, anh đă nhận được thư vợ viết như sau: Nếu những ngày tới, em không c̣n cách nào kiếm được gạo nuôi con nữa th́ mẹ con em sẽ cùng uống thuốc chuột chết cho xong. Em và các con đă khổ quá rồi. Nỗi bất hạnh của anh không dừng ở đó, sau này anh biết vợ anh đă bỏ lại các con cho bà nội để t́m một bến đậu khác. Nào có thể trách ai bây giờ.

Một trích dẫn cuối cùng. “Hai mươi năm làm vợ lính thời chiến, 13 năm vợ tù cải tạo thời b́nh, là người con gái ở miền quê Bầu Trai. Tôi có làm ǵ đâu mà suốt đời chỉ sống với nước mắt” (Trích Người Bàu Trai. Tháng tư 2004.)

 

Qua những câu truyện kể trên, hễ mà một chính quyền hảnh dân, làm dân khổ th́ ta sẽ xếp hàng về phía những người cùng thân phận hay đứng về phía kẻ có quyền lực. Sự chọn lựa hẳn đă là rơ.

 

Một cảnh đời khác đang vẽ ra…

 

Trong khi đó th́ theo tin hăng France-presse cho biết, ở Hà nội nay có nhiều xe Honda từ Sàig̣n chạy trên đường phố. Xe gắn máy dần thế chỗ cho xe đạp. Một nếp sống mới đang thành h́nh. Người ta c̣n thấy nhiều loại nước uống sản xuất bởi hăng B.G.I cũng được bầy bán ở đây. Bát nước chè xanh nay thay thế bằng ly nước xă xị hiệu Con Cọp.

 

Sàig̣n th́ như một thành phố bị chiếm đóng và có nạn hôi của những người thua cuộc để khuân về Hà nội. Nhiều nhất là salon, tủ lạnh, quạt máy, máy hát, vải vóc, thuốc tây và ngay cả bột giặt. Nghĩa là tất cả những ǵ ở Hà nội không có. Những chiếc xe nhà binh chở lính vào th́ nay đầy nhóc những món hàng của kẻ thua cuộc để lại. Một cuộc vơ vét thẳng tay và khá trắng trợn.

 

Hăng giấy Cogido có 8.000 tấn giấy trong kho đă được lệnh chuyển ra Bắc. Tất cả những xe hơi mới của hăng Citroen, Renault, Peugeot cũng được lệnh chở ra Bắc. Hăng Engineco, có 165 xe được tân trang cũng chờ để được chở ra Bắc. Cách mạng bị mang tiếng nhiều về vấn đề này lắm. Những lời mỉa mai, bóng gió không thiếu qua cái câu chẳng thơm tho ǵ: Miền Nam nhận họ, miền Bắc nhận hàng này.


Hạt gạo miền Nam đă thiếu hụt nay lại phải cắn chia đôi, chia ba cho miền Bắc.

 

11 tháng 7, 1975, Tướng Trần Văn Trà: Mắt xích cuối cùng của cánh miền Nam

 

Tướng Trà , tác giả cuốn sách: Kết thúc chiến tranh 30 năm, bị gọi ra Bắc để trả lời và tŕnh bày về những rối ren, về t́nh trạng an ninh và nhất là t́nh trạng tham nhũng hối lộ. Vai tṛ của ông và mặt trận có dấu hiệu không c̣n nữa.

 

Cho đến lúc này, nạn tham nhũng trong thành phần cán bộ lănh đạo, trong chính quyền bắt đâu lộ dạng. Và kể từ đó đến nay, sau gần 30 năm, không có dấu hiệu ǵ có sự cải tiến. Đă có bao nhiêu nghị quyết? đă có bao nhiêu lần tuyên bố cương quyết diệt trừ tham nhũng?

 

Ở một nước Tự do th́ người dân sẽ có cảm tưởng chính quyền coi thường dân chúng. Có thể thế được chăng? Có thể kéo dài măi chăng?

 

11 tháng 8, 1975, tờ Tin Sáng với nhóm cựu dân biểu đối lập thời VNCH

 

Một tờ báo tư nhân đầu tiên đă được phép xuất bản. Tờ Tin Sáng mà một số người đứng đầu trước đây đều là những dân biểu đối lập trong chính quyền Ngụy. Đó là các ông Ngô Công Đức, Lư Quư Chung, Hồ Ngọc Nhuận, Nguyễn Hữu Hiệp, Hồ Ngọc Cứ, Nguyễn Văn B́nh, Hoàng Ngọc Biên, Trương Lộc, Phan Ba, Dương văn Ṭng.

 

Lư Quư Chung tin tưởng rằng với sự có mặt của tờ Tin Sáng cho thấy có sự hợp tác giữa chính quyền mới và những người trí thức chế độ cũ. Ông c̣n nói thêm, xưa làm báo như thể những người bửa củi, c̣n bây giờ làm báo như một người thợ nề xây cất.

 

Theo những người chủ trương tờ báo, họ hănh diện đây là tờ báo duy nhất không phải Cộng Sản trong ḷng một chế độ Cộng Sản. Tờ báo tồn tại được bao lâu? Đó là câu hỏi chưa có câu trả lời. Trong le Nouvel Observateur, mồng 4 tháng 8, 1975, Jean Lacouture viết:

 

“Ngô Công Đức n’est pas un conformiste. Le revoici à pied d’oeuvre. On verra dans la marge de liberté d!expression qui lui sera laissée un test décisif de L’esprit démocratique du nouveau régime”. Năm năm sau N. Chomsky trong Guerre en Asie viết: “Cinq années se sont passées. Le Tin Sáng de Ngô Công Đức et ses amis parait toujours. Le test est il positif?” Câu hỏi vẫn c̣n đó, câu trả lời th́ có rồi.

 

Sau này, ông Vơ Văn Kiệt trong một bài phỏng vấn vào ngày 30 tháng 4 năm 1980 cũng coi Tin Sáng như một biểu tượng hợp tác giữa chính quyền CS và trí thức miền Nam.

 

Nhưng chẳng bao lâu sau th́ tờ Tin Sáng bị đóng cửa, v́ “đă hoàn thành nhiệm vụ” (Tin sáng 1975-1980)


Tờ Tin Sáng ăn mừng:

 

Ông Hồ Ngọc Nhuận có ư tổ chức một bữa ăn “Đoàn Viên” trong nhóm bạn bè của ông, ở địa chỉ số 132, Lê Lai. Không biết ai trong số những người này đă thay chủ bút mời bữa ăn đó. Có thể là Nguyễn Xuân Lập, Trần Thị Huệ, Huỳnh Tấn Mẫm hay Dương Đầy. Chỉ biết là phường khóm không cho. Cuối cùng chỉ v́ một bữa ăn mà phải cầu cứu đến ông Tạ Bá Ṭng. Ông Tạ Bá Ṭng lại xin ở cấp cao hơn nữa. Nhận được giấy phép ở cấp cao hơn nữa rồi mấy người lu bu, tụ tập đầy đủ ở trên lầu. Phường khóm đă vác súng đến hỏi chguyện. Năn nỉ măi th́ cũng được thông cảm, sau khi xin lỗi và hứa lần sau rút kinh nghiệm hơn. Ông chủ tịch phường khóm khi ra về không quên nhắc: “Nên nhớ, thủ tướng cũng phải xin phép, nếu muốn làm ǵ ở đây…”

 

Thứ năm 7 tháng 8, 1975, Học Tập Không Ngày Về

 

Nay đă hơn 7 tuần rồi, quá cái giới hạn đi học tập một tháng rồi. Chính quyền cho biết nay những người đi học tập có quyền gửi thư về nhà một tháng một lần. Lại một hứa hẹn nữa nhằm xoa dịu đám vợ sĩ quan ở nhà. Chính sách học tập cải tạo là một lăng phí nhân tài, sức lao động sản xuất và nhất là gây hận oán trong bà con, thân nhân người đi học tập. Việc kéo dài thời gian đi học tập một cách không cần thiết làm buồn ḷng dân Sàig̣n và tạo ra sự mất tin tưởng vào chế độ. Có ai có đủ thành thật để cho biết họ đă học được ǵ? và đă cải tạo được như thế nào? V́ vậy mà thành phần những người đi học, dù sau này đă được sang đây vẫn canh cánh bên ḷng nỗi hận oán chế độ?

 

Nhân khi đọc bài này, tôi có người bạn là anh Lê Tấn Lộc, giáo sư Triết, nguyên Trưởng Khu Học Chánh 12 tỉnh miền Đông. Với chức vụ đó, anh phải đi tŕnh diện học tập cải tạo. Hai người bạn tù đă chết. Anh có kể rằng có một phái đoàn của Hội Ân xá quốc tế tới thăm trại học tập. Họ đă lùa các anh tù cải tạo vào trong rừng, chỉ để lại một số người làm c̣ mồi. Trong khi đó, trên tờ Tin Sáng, một trí thức tên tuổi có viết rằng: người đi học tập được ăn thịt gà rôti, nghĩ mát và chơi bóng chuyền. Vui và khỏe mạnh. Cũng ông, khi người con trai của ông làm nghĩa vụ sang đánh Campuchia.. Ông đă làm một bài thơ ca tụng những người thanh niên lư tưởng đă từ bỏ gia đ́nh ra đi giúp nước. Sau này, một số trí thức, trong đó có ông, đă kư tên trong một danh sách biện hộ cho đường lối của chính quyền trong vấn đề tù cải tạo, vấn đề người di tản vv.

 

Anh Lê Tấn Lộc có quyền bất nhẫn về chuyện đó như kẻ trong cuộc bị phản bội

Xin nêu danh tánh một số trí thức miền Nam đă đặc biệt đứng tên ủng hộ chế độ mới, ủng hộ chính sách đi học tập cải tạo trong một lá thư gửi ra cho bạn bè người ngoại quốc. Họ không cần thanh minh với 3 triệu người VN di tản, mà chỉ biện bạch với người ngoại quốc thôi. Họ là Giáo sư Hồ đắc An. Ông Trương Bá Cần. Ông Vơ Đ́nh Cường. Thượng tọa Minh Châu. Nghệ sĩ Kim Cương. Dân biểu Lư Quư Chung. Bác sĩ Trần Văn Du. Nhà báo Ngô Công Đức. Bác sĩ Nguyễn Ngọc Hà. Nhà văn Vũ Hạnh. Giáo sư Trần V́nh Hiển. Ông Tôn Thất Dương Kỵ. Giáo sư Bùi Thị Lang, Luật sư Trần Ngọc Liễng, Thẩm phán Trần Thúc Linh, luật sư Nguyễn Long, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, giáo sư Châu Tâm Luân, sư Huỳnh Liên, ông Huỳnh Công Minh, Thẩm Phán Triệu Quốc Mạnh, giáo sư Nguyễn Vinh My, dân biểu Hồ Ngọc Nhuận, giáo sư Nguyễn Quang Nhạc, Giáo sư Chu phạm Ngọc Sơn, giáo sư Phạm Biểu Tâm, giáo sư Trần Kim Thạch, giáo sư Lê Văn Thới, Luật sư Ngô Bá Thành, giáo sư Lư Chánh Trung, ông Phan Khắc Từ, kỹ sư Lâm Văn Vạng, kỹ sư Đinh Xa.

 

Trong số những người này, đôi khi có người bất đắc dĩ có tên. Họ cũng muối mặt câm lặng, cũng có thể khổ sở lắm. Nhưng phần tôi, cũng bất đắc dĩ phải hài tên họ ra v́ trong tay tôi có tên tuổi họ và lá thư trên.

 

Đây là nội dung mở đầu tóm tắt của lá thư đó: Nous, intellectuels de l’ancien sud Viet Nam, profondément indignés par la bruyante campagne de calomnie et de dénigrement menée dans certains pays occidentaux contre la République socialiste du VN, notre patrie, estimons de notre devoir de publier la présente lettre”

 

Và quan điểm của các trí thức có tên tuổi ở trên trùng hợp với quan điểm của một vài nhà báo: “Ces camps ne sont ni des clubs de vacances ni des Goulag”. Ư kiến của R. Pic, tháng tư 1976. J. Lacouture th́ viết: “Ce n’est pas le Goulag apparemment- pas l’école des Roches non plus” tháng 5, 1976. Nói tóm một chữ: Chúng không phải những trại tập trung. Cũng không có cái bề ngoài của một trại diệt chủng. Đó là ư kiến của phóng viên đă đến thăm trại Nam Hà và đă gặp cựu đại tá Lê Thanh Hoà, cựu Trung Tướng Huỳnh Văn Cao, cựu nghị sĩ Ng. Văn Hàm.

 

Họ, những người trí thức có tên ở trên đă tự hạ ḿnh để nói gian dối che đậy cho chế độ.

 

Phần tôi, xin được phép kiệm lời khi nói đến số phận người tù cải tạo. Bởi v́ tôi không đủ tư cách, đủ lời để nói về điều ấy. C̣n quá nhiều người mà nỗi khổ, nỗi nhục của họ không thể cất ra lời. Chẳng biết văn chương nào có thể chuyển tải những nỗi đau làm người của kẻ thua trận. Tôi cùng lắm chỉ đứng ngoài mà nh́n vào. Chỉ biết rằng khi tôi đọc: Một nửa Việt Nam Cộng Hoà nối dài của Tạ Chí Đại Trường nhắc đến đoạn: một người đàn bà ngồi trên xe ba bánh trên một đoạn đường đất đỏ, bụi mù. Xe vừa lướt qua th́ thấy một đoàn người tù cải tạo đang lếch thếch trên đường về trại. Bà mủi ḷng hất bao bố củ sắn xuống và những người tù xấu số đă chạy xô đến tranh dành như một lũ chó đói. Người đàn bà trên xe Lambretta ba bánh thấy cảnh đó bèn vội ôm mặt khóc. Tôi cũng chẳng làm ǵ khác hơn người đàn bà bất hạnh ấy.

 

—————————–

Thành lập Hội Trí thức yêu nước

 

Bên cạnh việc cho Tin Sáng hoạt động trở lại, c̣n có một biến cố khá quan trọng không thể không nói đến ở đây: việc thành lập Hội Trí Thức yêu nước. Để có được cơ sở hoạt động, chính quyền đă lấy một cơ sở của các cha ḍng Đa Minh. Đó là câu lạc bộ Phục Hưng mà trước đây dành cho sinh viên có chỗ ăn ở. Cư xá này do cha Đỗ Minh Vọng, Cras thiết lập từ 1955. Đây chẳng những là nơi dành cho SV có chỗ ăn ở, nó c̣n là chỗ sinh hoạt của các tổ chức sinh viên công giáo, nơi đào luyện các trí thức trẻ trước khi vào đời. Sau Giải Phóng, như nhiều tổ chức khác tự động tan ră. LM Nguyễn Huy Lịch thời đó đă cho mượn trụ sở này. Người đến tiếp nhận cư xá Sinh Viên là ông Tạ Bá Ṭng, một người cư xử rất tốt với đám trí thức miền Nam. Ông Tạ Bá Ṭng đă giao cơ sở này cho Hội Trí Thức yêu nước mà đại diện là các ông Chu Phạm Ngọc Sơn và Lư Chánh Trung.

 

Tổng Thư Kư Hội trí thức yêu nước là ông Huỳnh Kim Báu, một đảng viên đảng Cộng Sản. Phần đông c̣n lại là trí thức cũ miền Nam, giới nhà văn và nhà giáo cộng với trí thức đi học tập về. Chẳng hạn như trường hợp Thế Uyên mới được thả ra từ trại học tập. Những người này đến Hội Trí thức như những người trú mưa dưới một cái dù che chắn cho khỏi ướt áo. Họ có mặt mà như thể vắng mặt, ch́m lẩn vào đám đông.

 

Trong số những trí thức cũ, có nhiều nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ trước đó đă theo mặt trận hoặc có cảm t́nh với Mặt trận và lúc này họ nổi bật lên như Lư Chánh Trung, Nguyễn Trọng Văn, Hà Thúc Huy, Nguyễn Đ́nh Đầu, Trần Văn Quảng, Huỳnh Ngọc Chênh, Phạm Hoàng Hộ, Chu Phạm Ngọc Sơn, Phạm Biểu Tâm, Châu Tâm Luân, Nguyễn Tân, Nguyễn Hữu Thái, Trương Th́n, Phạm Trọng Cầu, Hỷ Khương, Hoàng Điệp, Trần Long Ẩn, Miên Đức Thắng, Trịnh Công Sơn, Phạm Thế Mỹ, Đỗ Hồng Ngọc.

 

Sau này Hội có tổ chức những đêm văn nghệ hát nhạc TCS và được rất nhiều người đi nghe và tham dự. Thay vào tiếng hát Khánh Ly nay có nam ca sĩ Thanh Hải hát nhạc TCS. Nhiều người đi nghe cho rằng Thanh Hải có thể thay thế được tiếng hát của Khánh Ly.

 

Trịnh Công Sơn trong đêm Văn Nghệ đầu tiên này đang bận ở Huế đă không vào được. Măi đến năm 1979, TCS mới bỏ Huế vào Sàig̣n. Nhưng anh đă có gửi hai bài hát của anh vào nhờ nhạc sĩ Miên Đức Thắng hát dùm. Hai bài hát của TCS có tên là:

 

Gánh rau ra chợ và Máy kéo nông trường.

 

Chị Trần Tuyết Hoa, vợ anh Nguyễn Hữu Thái trong dịp này đă khuyên TCS không nên sáng tác những loại nhạc như thế. Không biết Miên ĐứcThắng hát như thế nào và hát làm sao. Hát gánh rau ra chợ, hát máy kéo nông trường đă hẳn không phải là dễ. Tự nhiên MĐT lại gánh cái trách nhiệm nặng nề này. Đây là hai bài hát lỗi nhịp nhất trong cuộc đời sáng tác của họ Trịnh. Biết để mà hiểu, không phải để ghét. Bằng vào hai bản nhạc này, người ta tự hỏi TCS có c̣n là TCS nữa hay không.

 

Thái Kim Lan, với bài: “Trịnh Công Sơn; nơi vùng ưu tư thành tiếng Du ca” đă viết như sau:” Cả một công tŕnh sáng tác mười mấy năm đang bị đe dọa phải chối bỏ, kiểm soát, tự phê b́nh…Không có bàihát nào của Sơn trong quá khứ được cho lọt sổ. Nhạc Sơn bị cấm phổ biến..Tôi có cảm tưởng đau đớn là Sơn đang tập đi lại những bước nhạc ấu trĩ trong sự nghiệp sáng tác của ḿnh, như kiểu ḱa một đàn vịt đang bơi dưới ao hồ…” Sau này, t́nh h́nh khá hơn, chế độ lỏng tay hơn, TCS sáng tác được mấy bài khác đỡ hơn như Một ḥn bi xanh, Ở trọ, Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui… Ḥn bi … xanh là có vấn đề rồi. Không có lập trường. Riêng bài Ở trọ, tôi nghĩ đấy chỉ là một bài hát rất tôn nghiêm. Tôi nay ở trọ trần gian, mưa nắng cũng ở trọ để rồi khoác áo chân như, bước tới hư vô. Bài hát rất người, rất tôn nghiêm, rất mùi đạo. Cuộc đời như một ở trọ. Đến bài Tôi chọn một niềm vui. Mỗi ngày, tôi chọn một niềm vui, cùng nhau ca hát.. Tôi chọn nơi này, để thấy tiếng cười rộn ră bay. Tôi chọn một lần thôi, tôi chọn nắng đầy.. Nhưng mổi ngày, tôi chọn ngồi thật yên để nh́n rơ quê hương, ngồi nghĩ lại ḿnh, v́ sao tôi sống, v́ đất nước cần, một trái tim. Hay và ngậm ngùi. Nhưng lại bị hiểu xuyên tạc, bị phản bác là đất nước nay đă thống nhất, thiếu ǵ niềm vui, hà cớ ǵ anh lại phải chọn niềm vui. Cắc cớ nữa, tại sao anh lại chọn ngồi thật yên. Anh phải nhúc nhích di chớ. Hà cớ ǵ lại chọn ngồi thật yên.. Có vấn đề, có vấn đề rồi.

 

Nhưng biết được hai bài này và những bài sau mới hiểu được thân phận người trí thức dưới chế dộ CS, hiểu đuợc nỗi ḷng của họ Trịnh. Cũng như sau này, tôi được biết rằng, họ Trịnh than thở với một người bạn thân của ḿnh là làm bài kiểm thảo đưa cho Hoàng Phủ Ngọc Tường (HPNT) xem trước, HPNT đọc xong cũng chê là viết chưa đạt yêu cầu, phải viết lại. HPNT đang cố lấy điểm để có được cái thẻ đảng. Tôi vẫn bực ông chưa hết và tôi biết rằng viết những ḍng này những bạn bè chung quanh ông mà tôi dược biết họ, một số sẽ không vui. Nhưng tôi đành ḷng trích một bài viết của tôi vào tháng 12, 2002: Về chính sách của Hànội và thái độ của một số nhà văn miền Bắc đối với văn học miền Nam qua cuốn Chân Dung Và Tác Phẩm của Trần Đăng Khoa: “Trong cuốn kư, chốc lát, thái độ của ông trở thành hung hăn, côn đồ. Ông xách mé gọi người lính Cộng Hoà là thằng lính Ngụy, thằng Diệm, thằng Thiệu. Những người CS thứ thiệt gọi như vậy c̣n nghe được. Nhưng ông, một trí thức miền Nam, được ăn học, được đào tạo, có cái nếp sống văn hoá của miền Nam, thật khó mà chấp nhận cái ngôn ngữ chợ cá như vậy. Chắc không phải là ông quá.”. Ông vẫn chứng nào tật ấy, trên Nét Cố Đô, 2005, vào cái giờ này của hơn 30 năm sau, qua lời phỏng vấn c̣ mồi của Nguyễn Xuân Hoàng (Không phải NXH, giáo sư triết, nhà văn) ông cũng vẫn miệt thị gọi: bọn ngụy. Bọn ngụy là ai. Là tất cả bạn bè của ông, là tất cả họ hàng, bà con thân thuộc của ông ở ngoài Huế.

 

Đấy là nỗi khốn khổ thứ hai của họ Trịnh bị bạn bè ép. Ép mà phải cắn răng chịu.

Viết đến đây, tôi có điều để thưa. Trước hết cám ơn anh chị Nguyễn Hữu Thái, cựu sv kiến trúc, cựu sv tranh đấu Sàig̣n cũ, người đă có cái hân hạnh đứng… bên cạnh tướng Dương Văn Minh, kư giấy đầu hàng CS. Mặc dầu, tôi đă có đôi lần viết hơi nặng lời với anh, anh vẫn không giận, vẫn hỏi thăm rồi gửi cho tôi bài viết của chị Trần Tuyết Hoa, vợ anh và chị đă thẳng thắn tiết lộ hai bài hát sáng tác bất hủ của họ Trịnh. Xin dùng mấy ḍng chữ này cám ơn anh chị thay độc giả.

Phần những người được coi là bạn thân của họ Trịnh. Nhiều người chẳng hề tiết lộ hai bài hát này và những bài sau kế tiếp. Ngay cả mới đây, những người viết kỷ niệm 5 năm ngày TCS mất cũng né tránh. Viết thật mới là yêu mến TCS. Ở trong chế độ CS, đừng ai nói hay. Làm người b́nh thường đă là khó. Huống chi là người hùng.

 

10 năm sau, Hội Trí thức yêu nước này kể như không c̣n sinh hoạt ǵ đáng kể nữa. Một phần người ta lo sinh kế, lo t́m đường đi nước ngoài. Phần khác cán bộ đảng nhà nước ngoài Bắc vào nhiều. “Sự có mặt của họ kể như những thành phần Indésirable”.

 

Trong số những hội viên hội trí thức yêu nước có Nguyễn Văn Trung. Ông chưa tham dự được bao nhiêu buổi hội họp th́ đă bị bắt vào hồi 18 giờ 30, ngày 14 tháng 6, 1978. Với tội danh được ghi trong biên bản: can tội Phản Cách mạng. Biên bản ghi tiếp. Sau khi bị can bị bắt, vợ của bị can là Trần Thị Minh Chi đă cùng đi với chúng tôi khám xét nhà ở th́ thấy có những vật kê dưới đây, nghi có liên can đến vụ án (19. tội phản cách mạng):

 

– Một giấy chứng nhận của trường Đại Học Văn Khoa.

– Một số sách báo, tài liệu cắt báo và chép tay

– Một máy đánh chữ

– Một chứng nhận được giữ sách báo cũ.

 

Trên đây là những tang vật liên quan đến tội phản cách mạng. Tôi cũng đọc lá thư của Bà Chi gửi vào cho chồng, đă qua kiểm duyệt của Ban Chấp pháp như sau: “Về tả bố, chẳng khác nào như trong truyện được săn sóc nuôi cho ăn uống mập thiệt là mập, trước ở nhà xanh vàng, mặt có những vết nhăn. Bây giờ thấy tṛn quay, những vết nhăn biến đâu, trắng..

 

Bà Trung đă phải viết như thế đấy. Không viết không được. Viết như thế rồi cũng lộ ra những chỗ viết thật thà trong một lá thư khác như: Lưng quần tây của anh rộng nhờ ai khâu bớt vào hai bên.

 

Và trong hoàn cảnh cô đơn, tuyệt vọng như thế. Ông Trung có lúc tưởng ḿnh không có hy vọng sống c̣n. Ông đă viết một lá thư như chúc thư để lại ngày 26-11-1978 trong đó có đoạn như sau: “Đối với họ hàng. Cho Bố gửi lời thăm chào từ biệt họ hàng nội ngoại. Xin tha cho Bố những điều đă làm mất ḷng và xin hăy thương yêu giúp đỡ nhau, coi những tỵ hiềm là nhỏ mọn. Gia đ́nh Đào chịu khó tiếp tục chăm sóc ông nội. Đối với bạn bè quen thuộc. Chuyển lời Bố xin mọi ngưởi tha thứ những điều đă làm cho buồn phiền và cầu nguyện cho Bố.” Nguyễn Văn Trung 26-11- 1978.

 

Xin đọc với tâm t́nh chia xẻ về cái khốn khổ trong lao tù Cộng Sản.

 

Và đến gnày 21 tháng 12 năm 1978. Ông Trung nhận được giấy tạm tha với nội dung: Căn cứ kết quả cuộc điều tra. Không ghi chữ nào cả. Xét thấy: Sức khoẻ bị can quá yếu (bệnh tim)… Trong khi chờ kết quả cuộc điều tra và quyết dịnh di lư.. Kư tên. TL Giám Đốc Công An, Trưởng pḥng chấp pháp: Ngô Văn Dần.

 

Tội vẫn c̣n đó. Vẫn thế. Chỉ tạm tha thôi.

 

Cả hai Lư Chánh Trung, Nguyễn Văn Trung đều là trí thức thành phần thư ba. Viết cũng nhiều, ảnh hưởng cũng không ít. Ngưởi tham gia tích cực bằng hành động, người tham gia chỉ bằng ng̣i bút. Một dân biểu, một đi tù. Tôi chỉ xin tóm tắt sự nghiệp của các ông bằng cách trích dẫn điều họ viết.

 

– Đối với Lư Chánh Trung, sự nghiệp viết lách của ông tóm tắt trong câu này: “Về một môn học mà thầy không muốn dạy và tṛ không muốn học”.


– Đối với Nguyễn Văn Trung, có thể tóm tắt trong lời phát biểu sau đây của ông: “Tham gia Cách Mạng là tham gia vào một quá tŕnh tự tiêu diệt sau này”.

 

Về cái hội này, xét về mặt nhân đạo, nó cũng là nơi che dù cho nhiều trí thức miền Nam sau khi đi học tập về khỏi cảnh vùi dập đi kinh tế mới, hoặc khỏi bị phường khóm làm khó dễ, hoặc đỡ đần bao gạo khi túng đói. Sau này, hội trí thức giải tán và dổi ra thành Hội Liên Hiệp Khoa Học Kỹ thuật do Chu Phạm Ngọc Sơn làm chủ tịch. Hội này hoạt động bằng cách mở các lớp dạy sinh ngữ và các sinh hoạt khoa học kỹ thuật. Cuối cùng, ḍng Đa Minh đă làm đơn đ̣i lại cơ sở này qua TGM B́nh chỉ hai tháng trước khi ngài qua đời. Sau nhiều năm chờ đợi, nhà nước đă trả lại cơ sở này cho ḍng Đa Minh ngày 22-12-2003.

 

Coi như một món quà Noel của nhà nước.

 

Thứ năm 14 tháng 8-1975

 

Có lẽ cái đụng chạm đến người dân miền Nam nhiều nhất vẫn là miếng ăn.

 

Cơm áo không biết đùa và không đùa với bất kỳ ai, bất kỳ họ là trẻ con hay người lớn. Sống trước đă, có cái ăn trước đă. Không có ăn là không được.

 

Đời sống mỗi ngày mỗi khó khăn, cái ǵ cũng trở thành khan hiếm, dĩ chí từ một hạt muối, th́a bột ngọt. Các giáo chức được phát một kỳ một gói bột ngọt, sau xuống mười th́a cà phê bột ngọt, nửa kư thịt trong một tháng, một tút thuốc lá (10 bao), sau xuống một bao rồi đến nửa bao Sàig̣n Giải Phóng. Tôi nghiện thuốc lá, nhưng nay một bao thuốc lá mua hợp tác xă bán ra có thể thêm tiền chợ một ngày. Tôi bỏ hút thuốc lá từ đó.

 

Nhờ Giải phóng, tôi bỏ được tật xấu hút thuốc.

 

Giá thức phẩm gia tăng. Cái ǵ cũng khan hiếm đến không hiểu được. Muối là một sản phẩnm quá rẻ, không đáng nói tới cũng trở thành đắt. Một kílô muối tăng từ 50 đồng đến 500 đồng. Một bao quẹt tăng từ 20 đồng đến 40 đồng.. Giá cả tăng đến 80%. Dân chúng bắt đầu phải xếp hàng để đến các hợp tác xă. Đợi chờ cả nửa ngày cho nửa kư sà bông, nửa kư đường. Có những điều trước đây cứ có tiền là mua được, nay trở thành chế độ, xin cho của chính quyền. Chính quyền cho cái ǵ th́ được cái nấy. Nghĩ lại câu nói của một kinh tế Gia Anh nói không sai:”Kẻ nào nắm giữ hầu bao là kẻ đó có quyền”.

 

Gạo bán ở tổ dân phố không ăn được. Hoặc mốc, muối mọt, hoặc có rất nhiều sạn. Chúng tôi bán đi để mua gạo ăn được. Nay tôi có thêm nghề chạy kiếm các mối bán thực phẩm. Lúc rảnh, tôi chạy xe Vespa ra tận Phú Lâm đón các xe hàng về để mua gạo lậu từ các bà buôn lậu. Họ dấu gạo ở bất cứ chỗ nào có thể dấu được, ngay cả chỗ kín bụng dưới. Đó là những xe thồ di động nơi những người đàn bà dị h́nh, dị tướng.

 

Cả nước nay chỉ lo có một chuyện: Lo ăn.

 

Về lỗi lầm lịch sử của chính quyền Cộng Sản để dân đói, xin được trích dẫn lới chứng của ông Trần Quang Cơ, trong Hồi ức như sau: “Là nhân chứng của lịch sử và cũng là người trực tiếp tham gia các hoạt động ngoại giao này với tư cách là vụ trưởng Vụ Bắc mỹ bộ ngoại giao, trực tiếp tham gia đàm phán về b́nh thường hoá quan hệ với Mỹ ở Paris năm 1977, rồi Nữu Ước 1978, tôi thật sự đau xót v́ ta đă bỏ lỡ mất cơ hội củng cố thế đứng của Việt Nam trong ḥa b́nh…” Trong tập hồi kư của ḿnh “From Third world to first”, Từ thế giới thứ ba đến thế giới thứ nnhất, Lư Quang Diệu đă nhận xét: “Năm 1975, TP Hồ Chí Minh có thể sánh ngang với Bangkok. Nhưng nay, năm 1992, nó tụt lại đằng sau tới 20 năm.” Là người Việt Nam, đọc lời nhận xét này của Thủ Tướng Lư Quang Diệu, ai mà không đau xót, v́ Việt Nam đă bỏ lỡ cơ hội. Chính quyền Carter thực sự muốn b́nh thường hóa quan hệ với Việt Nam qua lời tuyên bố của ngoại trưởng Cyrus Vance: “Việc tiến tới b́nh thường hoá quan hệ Mỹ-Việt Nam phù hợp với lợi ích của hai nước.”

 

Nhưng Việt Nam cương quyết đ̣i Mỹ giải quyết “trọn gói” 3 vấn đề. B́nh thường hóa quan hệ ngoại giao, giải quyết vấn đề MIA và viện trợ 3 tỉ 2 như đă hứa. Mỹ bị quốc Hội bó tay trong vấn đề bồi thường. Đến lúc ta quyết định rút bỏ đ̣i hỏi Mỹ phải bồi thường chiến tranh viện trợ 3,2 tỉ và nhận công thức, “b́nh thường hóa quan hệ không điều kiện của Mỹ th́ đă quá muộn”.

 

Việc b́nh thường hóa quan hệ với Mỹ và việc gia nhập khối Asean, măi ngót 20 năm sau, 1955, ta mới thực hiện được một cách khá chật vật. Nếu chấp nhận b́nh thường hoá với Mỹ th́ ta đă có thể Không phảỉ một ḿnh đối đầu với Trung Quốc trong cái chiến tranh “dạy cho một bài học”

 

Đó là cuộc sống bất đắc dĩ.

 

Ở một góc cạnh khác của đời sống, xin kể là tôi có người bạn là anh Đặng Ngọc Thiềm, giáo sư trường Trần Lục. Không biết có phải v́ phẫn chí, v́ bất măn hay có thể bị điên mà anh đă ra nông nỡi này.

 

Anh có lối sống mà tự bản thân đời sống nó là một lời tố cáo chế độ mới. Đời sống của anh là gián tiếp bôi nhọ chế độ: Chính các anh làm tôi ra nông nỗi này. Từ quần áo dơ bẩn, lôi thôi, từ phong cách thái độ, từ cách ứng xử, từ cách phát ngôn, từ cách thức làm việc, từ chiếc xe đạp cà rịch cà tàng, từ cách cho điểm, từ cách giảng dạy, từ nụ cười châm biếm chế nhạo.

 

Đến nỗi nh́n qua anh, nh́n ra chế độ. Anh chính là chế độ ấy.

 

Anh cố t́nh ăn mặc dơ dáy đến hôi hám, đến bẩn thỉu. Một giáo sư tự trọng, dù nghèo không thể ăn mặc như thế trước mặt học tṛ. Mỗi lần lĩnh nửa cân thịt, anh treo ṭng teng ở ghi đông xe cho mọi người thấy. Anh để lên bàn giáo sư cho học sinh thấy. Anh dơ lên khoe với học tṛ anh được nửa kí thịt. Học tṛ im lặng nghe ông thầy làm xiếc, đóng kịch. Anh luôn luôn dùng đủ cách để khen chế độ đến lố bịch.

 

Anh tố cáo chế độ chỉ bằng những lời khen quá lố. Thông minh và xỏ lá.

 

Ban Giám hiệu là cấp lănh đạo ở ngoài vào cũng như trên Quận, Sở đều không có một lời phê phán trực tiếp hay gián tiếp về anh. Họ cư xử thật đúng mực. B́nh thường là phải để anh nghỉ việc.

 

Việc dạy học và cho điểm của anh cực kỳ phi lư và lố bịch. Cột điểm Sử địa của anh bao giờ cũng có ba cột điểm trong một tháng. Hăy coi bằng cách nào anh đă nghĩ ra lối cho điểm quái gở đến như thế. Tỉ dụ học sinh A: Anh cho 3 cột 9 điểm, 8 điểm và 7 điểm. Học sinh B, anh đổi vị tŕ điểm theo thứ tự như: 8 rồi 7, 9. Học sinh C là 7,8,9. Học sinh D là 7,9,8, E là 8,9,7. G là 9,7,8. Rồi anh cứ cho điểm xoay tua như thế.

 

Anh không chấm bài, anh không cho điểm hay cho điểm đồng loạt là một cách miệt thị nền giáo dục ấy.

 

Anh Hiệu trưởng xem và không nói ǵ cả? Việc cho điểm của anh rơ ràng ngầm ngụ ư không đánh giá học tṛ, không đánh giá việc dạy học, phủ nhận vai tṛ thầy giáo và phủ nhận luôn việc dạy học.

 

Đây là một thứ phản đối tối thượng (Ultimate protest). Mang chính bản thân ḿnh ra làm đối tượng diễu cợt.?

 

Nếu không có cuộc đổi đời, anh Thiềm sẽ là một giáo sư như thế nào? Trước đây, anh trịnh trọng, áo sơ mi là ủi dài tay, thắt cà vạt, dáng người to lớn, dềnh dàng, không thiếu trịnh trọng trong đi đứng, ăn nói, xử thế. Vài ba năm sau, tôi ra khỏi nước, được tin anh đă mất.

 

Tiếc cho một người tính t́nh lúc nào cũng vui cười với óc hài ước rất cao đă t́m cách tự hủy nhân cách ḿnh dần dần một cách cố ư. (Suicide prolongé et intentionnel ) Cố ư tự hủy, cố ư sa đọa hoá nhân cách và con người như thể không c̣n là con người nữa.

 

Đó là lối tự hủy của người có học, của trí thức bầy tỏ một nhân cách lộn ngược, bất cần đời thường thấy nơi một số nhà văn, nhà trí thức, người hiểu đời, hiểu thế sự…

 

Thứ sáu 15 tháng 8-1975, giám mục Seitz, địa phận Kontum-Pleiku bị trục xuất khỏi Việt Nam

 

GM Seitz cùng với 9 người khác gồm 6 linh mục và ba nữ tu đă bị trục xuất khỏi VN. Các tu sĩ trên đă bị quản thúc tử tháng 3-1975 ở trên cao nguyên. Vài ngày trước đấy, họ được lệnh dời khỏi cao nguyên. Sau khi bộ đội lục soát hành lư của họ, họ được chở bằng xe che mui kín về Sàig̣n và giam giữ ở khách sạn Caravelle, sau đó được dẫn ra phi trường. Đừng quên là sau này vào ngày 7-7-1976, những linh mục ḍng tên cuối cùng cũng đă dời Việt Nam (gồm hai Pháp, 2 Y Pha Nho, một Gia Nă Đại và một Ư). Ḍng tên c̣n lại khoảng 30 lm người Việt Nam.

 

Một số người Pháp vẫn tưởng rằng họ được chính quyền mới ưu đăi hơn các người ngoại quốc khác. Thực tế không phải vậy. Giám đốc đồn điền IPH và Chủ nhân hăng Michelin cũng phải cuốn gói. Chẳng những mất tài sản mà chính phủ Pháp qua đại diện c̣n phải đứng ra bảo lănh những món thuế c̣n thiếu của các công ty này. Giám đốc CARIC cũng được phép dời VN để t́m sự trợ giúp tài chánh nơi chính phủ Pháp cho những công tŕnh đóng tầu biển. Nói chung, các công ty này tự dâng hiến toàn bộ cơ sở vật chất, tài sản bất động sản mà vẫn c̣n nợ thuế chưa trả được.

 

Khi về lại Pháp, GM Kim có viết một cuốn sách nhan đề: “Le temps des chiens muets” (Thời của những con chó câm). Ông viết: “Les chiens muets, ce sont ceux qui ont peur de dire la vérité, qui n’osent pas aboyer” (Những con chó câm là những con chó sợ nói sự thật và không dám sủa).

 

Xin trích bản thông cáo lư do trục xuất các người ngoại quốc như sau: Communiqué du service d!information et de la culture de la province de Kontum.

Les étrangers qui viennent d!être expulsés le 12 aôut 1975 et dont les noms suivent: Paul Seitz. André Marty. Léon Dujon. Marcel Arnould. Josep Curient. Gabriel Brice. Olivier Deschamps. Edirc Baker. George Christian. Raphaelle Cormier. Marie-Renée Legal. Cécile de Boissy ont commis des crimes suivants:

Họ phạm 8 tội tất cả. Tội nào cũng đáng lănh án chung thân hay tử h́nh như trong bản thông cáo nói: crimes qui méritent l!emprisonnement et la peine de mort. Vậy mà họ chỉ bị trục xuất mà c̣n bất măn phản đối đ̣i ở lại.

 

Tội nặng như thế, trục xuất là phải rồi.

 

Phần tôi, tôi chỉ mong muốn thay thế chỗ của Paul Seitz để được trục xuất sang nước Pháp mà không được.

———————

 

Số phận Tổng Giám Mục (TGM) Thuận đă được an bài

 

Cũng trong ngày 15 tháng 8 này, Phó TGM Nguyễn Văn Thuận rời thành phố Sài G̣n đi tù suốt 13 năm. Sau này, một trong số những người chống đối việc bổ nhiệm của Đức Cha (ĐC) Thuận như ông Nguyễn Văn Chín, đại diện phong trào Công giáo Dân tộc và là LM Thanh Lăng (TL) đă viết lời xin lỗi trong một lá thư di chúc vào ngày 28/11/1988 như sau: Tôi xin công khai sám hối với Chúa và Hội Thánh Toàn cầu và VN. Lạy Chúa, xin tha thứ cho con mọi lầm lẫn và ban cho con ḷng tin ḷng trông cậy và ơn tha thứ. Tôi xin công khai sám hối xin lỗi đức Cha Nguyễn Văn Thuận, xin Chúa ǵn giữ và trả công cho đức Cha.

 

Ngày 28 tháng 11/1988. Đinh Xuân Nguyên, Thanh Lăng (TL). LM TL sau đó qua đời ngày 17/12/1988.

 

Về cái chết của TL, có dư luận nghi ngờ v́ có sự ám toán mờ ám. TL có viết gửi nhà nước một thư ngỏ để bênh vực quan điểm của giáo hội về việc phong thánh. Bức thư được in ra nhiều bản chuyền tay nhiều người. Có một số sinh viên (SV) văn khoa đến xin được gửi bức thư ra Hải ngoại để được phổ biến rộng răi. Ông đă tiếp họ trong trạng thái b́nh thường và vui vẻ. Thế rồi Công an quận Tân B́nh mời lên gặp và qua ngày hôm sau, ông bị trúng gió và qua đời trong sự bán tin bán nghi của nhiều người.

 

Cũng trong cái tinh thần xám hối ấy mà sau này vào tháng 8/1988, một nhóm LM và giáo dân đă họp ở trụ sở báo ĐMHCG thuộc ḍng Chúa Cứu Thế (CCT) soạn thảo hai bức thư, một gửi cho TGM Nguyễn Văn B́nh, một gửi cho HĐGMVN vào ngày 15/8/1989 để yêu cầu đ̣i can thiệp cho TGM Thuận trở lại Sài G̣n.

 

Hai lần họp. Hồi 1975 tụ tập ở toà khâm sứ và toà TGM đ̣i trục xuất TGM Nguyễn Văn Thuận để ủng hộ chính quyền. 12 năm sau, tụ họp đ̣i cho TGM Thuận trở về, chính thức chống đối chính quyền.

 

Ngày 16 tháng 8/1975, một lá thư chung của Toà Giám Mục… ra quá chậm

 

Giáo hội thường được gọi là thầm lặng miền Bắc do Tổng Giám Mục (TGM) Trịnh Như Khuê đợi đến hơn 3 tháng sau, hôm nay mới chính thức ra thông tư, mà nội dung hoàn toàn đạo giáo, không nhắc ǵ đến ngày 30 tháng tư cả. Người kư thay Giám mục là LM Trần văn Mai.

 

Nội dung lá thư có những câu như: “cố gắng làm người công giáo tốt, người công dân tốt. Công giáo tốt th́ cầu nguyện cho họ chóng được lên Thiên đàng, công dân tốt th́ mừng Quốc khánh cách long trọng.”

 

Giọng điệu không có ǵ là hồ hởi, lại c̣n có vẻ lờ đi cái ngày trọng đại thống nhất 30 tháng tư nữa.

 

Trong khi đó lá thư trong Nam của cha Đức Cha (ĐC) B́nh đề ngày 2/9/75 có những đoạn: “trong ḷng của tín hữu, cơi trần gian và cơi trời không c̣n cách biệt, không c̣n phân ly, nhưng đă hoà đồng và vươn lên măi dưới sức tác sinh của Thánh Thần Thiên Chúa. Sống niềm tin ấy trong những ngày lịch sử này của dân tộc, chúng ta không c̣n lư do ǵ để không vui mừng đón nhận những giá trị của Cách Mạng.”

 

Hai lá thư chung của hai TGM ở vào hai thời điểm khác nhau cho biết thái độ của họ đối với chính quyền như thế nào.

 

Hơn 20 năm sau sống dưới chế độ được mệnh danh là “giáo hội thầm lặng”, h́nh như những vị lănh đạo Thiên Chúa giáo miền Bắc vẫn chưa nuốt nổi món ăn CS và mối quan ngại đối với chính quyền Cộng sản vẫn c̣n.

 

V́ thế, không lạ ǵ cuộc an táng ĐC B́nh, khác hẳn cuộc an táng của Hồng Y Trịnh Như Khuê. Đám tang TGM B́nh vào ngày 3/7/1995 được tổ chức trọng thể. Báo Sài G̣n Giải Phóng (SGGP) ra ngày 4/7/1975 cho biết rơ tên tuổi một số cơ quan và nhân vật tham dự. Đặt ṿng hoa có: Ông Đỗ Mười, Tổng Bí Thư, ĐCSVN. Ông Lê Đức Anh chủ tịch nước CHXHCNVN. Ông Nông Đức Mạnh, chủ tịch Quốc Hội. Đến viếng có ông Nguyễn Văn Linh, Vơ văn Kiệt và các Đoàn Đại biểu Uỷ ban Trung ương Mặt Trậ.n Tổ Quốc (UBTUMTTQ). Đoàn Đại biểu Dân Vận trung ương, Đoàn Đại biểu thành uỷ, Hội Đồng nhân dân TPHCM vv..

Cáo phó đăng hai lần liên tiếp trên tờ SGGP vào ngày mùng 2 và 3, tháng 7, trên trang nhất, góc dưới bên phải, chỗ thường chỉ để dành riêng cho các lănh tụ Đảng và nhà nước từ trần mà thôi.

 

Và đây là một vài lời chia buồn của các viên chức nhà nước. Ông Lê Khắc B́nh chủ tịch UBMTTQ Tp HCM ghi: “Vĩnh biệt cụ TGM Phao Lồ Nguyễn Văn B́nh, đă góp phần vào việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân”. Ông Vơ Trần Chí, bí thư thành uỷ dẫn đầu đă ghi vào sổ tang: “Vô cùng thương tiếc cụ Phao Lồ Nguyễn Văn B́nh, TGM giáo phận tp. HCM đă tận tụy suốt đời kính Chúa yêu nước, góp phần vào sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc” Trong khi đo th́ ông Trần Bạch Đằng nói lén nhân một buổi hội nghị, TGM B́nh là một ông cù lần nhất trong ba ông cù lần.

 

Có lẽ lời nhận xét trung thực nhất là cụ B́nh là người luôn luôn chịu đựng, đứng mũi chịu sào và đồng thờĩ vừa phải t́m cách hợp tác với chính quyền mới.

 

Nhưng chẳng nên nh́n mấy cái bề ngoài phô trương của đảng này để xét đoán con người. Hăy nhớ lại những lời phát biểu của TGM trước khi chết như một chúc thư cho người ở lại qua lời phỏng vấn của Trần Bá Cường: ‘Nhưng với tôi, 20 năm qua, cảm tưởng sâu đậm của tôi là đă phải sống một thời gian dài nhất của đời người’. Hiểu câu này như một lời trối trăn để hiểu nỗi khổ tâm của một người chủ chiên ở trong một hoàn cảnh đất nước đă phải cam chịu trong 20 năm qua.

 

Thứ ba, ngày 19 tháng 8/1975, những món quà ư nghĩa

 

Ngày kỷ niệm nắm chính quyền của Việt Minh vào năm 1945. Chính quyền đă gửi đến cấp lănh đạo Thiên Chúa giáo bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của người có đạo. Nhưng người ta cũng chưa quên được việc trục xuất mới đây GM Kim và các thừa sai người Pháp.

 

Món quà thứ hai cho dân thành phố là việc phóng thích 200 người trong các trại học tập cải tạo. Con số quá ít ỏi, nhưng cũng cấy được một chút hy vọng mỏng manh nơi các gia đ́nh có người thân c̣n trong trại học tập cải tạo. Niềm tin đó đă kéo dài lê thê trong nhiều năm sắp tới.

 

Món quà thứ ba đến từ Liên Xô. Một tầu dầu của Liên Xô đă cập bến Sài G̣n mang theo 31 vạn tấn dầu.

 

Trong những món quà khác, Hội Hồng Thập (HTT) Tự Quốc Tế đă gửi bằng đường biển đến VN thuốc men, dụng cụ y khoa. Điều đặc biệt là Hội Hồng Thập tự đă nhận được một giấy đ̣i thuế cho những món quà tặng đó. Số tiền là 36 vạn đô la mà Hội HTT phải trả. Hai bên đă thương lượng rất nhiều lần mới đi đến được thỏa thuận. Quà đă tới, đă trao làm sao thu hồi lại được. Vấn đề là làm sao trả bớt thuế. Cho quà mà c̣n phải đóng thuế, họa chăng chỉ có người VN.

 

Rút kinh nghiệm quà phải đóng thuế, cho phải trả tiền, một chuyến tầu khác của Hội Hồng Thập Tự đang trên đường đến VN đă được lệnh đổi hướng đến một nước khác biết điều hơn.

 

Thứ ba 26 tháng 8/1975, tờ Tin Sáng loan tin

 

Tin ở đây là chính quyền đă kiểm soát và làm chủ đến 70% các cơ sở xí nghiệp ở miền Nam. Trong đó có hăng Denis Frères của Pháp. Nhân công sau đó bị cho nghỉ việc mà không được bồi thưởng một đồng xu nào.

 

Các ngân hàng tư là những nạn nhân đầu tiên. Tiền bạc, tài sản đều đuợc chuyển giao về Ngân hàng Quốc Gia

 

Ngoài việc chiếm các cơ sở thương mại, các cán bộ cao cấp chính quyền mới c̣n chiếm các biệt thự, các dinh thự cũng như các tài sản ở trong đó. Mặc dầu có thông cáo ra lệnh:không có bất cứ tổ chức nào, không có bất cứ đơn vị quân đội nào có quyền trục xuất những người ở trong các biệt thự đó cũng như tịch thu tài sản của họ.

 

Có lẽ cùng lắm chỉ có dinh thự của ông Hannon, giám đốc CARIC là không ai đụng tới. Cũng v́ vậy, chẳng mấy chốc mà những cán bộ cao cấp trong đảng trở thành triệu phú như ông Lu nhận xét. Ông Lu His-Ying, môt thương gia tiếng tăm và có thế lực của người Tàu, một người theo chủ nghĩa Mao cười nói rằng Trung Quốc rất chú ư đến ư nghĩa cuộc chiến thắng này, đồng thời đến số phận những người Trung Hoa như ông hiện nay. Có tất cả 1 triệu rưởi người Trung Hoa như ông Lu và đó là con số đáng kể. Sau đó, ông cho rằng những người của Hà nội ông có thể mua được dễ dàng. Lại cười.

 

Cái cười của người Trung Quốc.

 

Lời nói tiên tri của ông Lu phải chăng mở đầu cho một cơ cấu chính quyền tham nhũng như hiện nay.

 

Trong khi đó báo chí tuyên truyền, rỉ rả cho ngày lễ Độc Lập sắp tới. Để chuẩn bị cho ngày đó, 1000 nhà sư đă tụ tập đến rạp Rex vào ngày 27 tháng tám để học tập. Ngày hôm sau, cũng khoảng con số như thế những tu si Ki Tô giáo đến rạp này cũng để học tập.

 

Các nhà sư, các ông cha quen làm thày dạy người khác, quen giảng, quen thuyết pháp. Lần đầu tiên trong đời, họ trở thành những cụ, những quư vị LM, tu sĩ, những quư vị Thượng Tọa, đại đức trở thành các tỳ kheo, các học tṛ ngoan ngoăn như học tṛ nghe người khác dạy.

 

Nào trước đây ai đă dạy được các cha, các thày, các thuợng toạ, đại đức. Gớm thay cho người Cộng Sản.

 

Đó là những buổi học tập bất đắc dĩ để mừng một ngày lễ. Kể từ dây, hễ có lễ lạc là phải học tập. Bất đắc dĩ phải nghe, bất đắc dĩ để mừng.

 

Thứ bảy 30 tháng 8/1975, câu chuyện về các nhân vật chế độ cũ

 

Ông Trương Vĩnh Lễ (TVL), nguyên chủ tịch Quốc Hội VNCH thời đệ nhất, chủ nhân nhà in Sài g̣n ấn quán. Hồi c̣n chế độ Ngô Đ́nh Diệm, mỗi lần có dịp lễ lạc ǵ trên Viện Đại Học Đà Lạt, tôi đều nhận thấy ông có mặt. Có thể, ông đă không thiếu một buổi nào. Trông ông hiền lành như ma sơ. Một người như ông, hiền lành như bụt, chắc làm chính trị là phải. Ông có cả hai cái hiền đó cộng lại. Về sau này, những Trương Công Cừu, Trần Văn Lắm chỉ có cái giả vờ hiền. Thua ông Lễ nhiều lắm. Trong những buổi lễ như thế, tôi cứ chú mục nh́n ba người, nh́n ông Lễ, nh́n ông Diệm rồi sau đó đó lại liếc sang nh́n ông Nhu. Thật chả giống nhau tư nào. Ông Nhu có cái nh́n xa vắng, tiết ra cái oai dễ sợ lắm, ngồi đó mà nghĩ đâu đâu, không nhếch mép một nụ cười. Không thèm chú mục tới bất cứ ai. Không để ư tới những bài diễn văn, những lời chúc tụng chung quanh ḿnh. Ông Diệm dễ mỉm cười, hơi tư đỏ mặt, có vẻ người bề ngoài là người phúc hậu, dễ gần, dễ cởi mở. Sau này, dư luận nói ông ác lắm, tôi cũng không tin. Ông Lễ th́ khép nép từ tốn, chắp tay cúi đầu khi lên chịu ḿnh thánh Chúa. Ông Diệm không c̣n là một Tổng Thống, mà là một ông cha. C̣n ông TVL, không c̣n là chủ tịch QH, mà là một con chiên.

 

Từ đó, tôi đă biết chọn, ai trong ba người là người làm chính trị. Tự thâm tâm, tôi đâm mê ông Nhu, tôi để ư cái lối ngồi bất động, bộ áo vét hơi nhầu nát, chểnh mảng, mái tóc hoa râm, cứng, thưa và hơi biếng chải, làn da mặt đồi mồi hơi xạm tối, cái vóc dáng trí thức khác người, hơn người của ông. Tôi không lần nào thấy bà Nhu ngồi gần, hay bà ngồi đâu xa xa, lẩn vào đám đông. Chỉ có vậy mà tôi đă nhớ ông suốt đời. Sau này, tôi có nguời bạn là NTV cũng nhắc lại một tâm trạng giống y như tôi… chúng tôi đều chỉ ngồi nh́n ngắm ông Nhu.

 

Kể từ đó, tôi không thấy khuôn mặt chính trị nào đáng nể nữa. Nhưng nhắc tới ông Nhu là nhớ tới ông Lễ như một phụ bản. Tôi nhớ đến ông TVL là v́ thế. Nay nhà in và toàn bộ máy móc của ông đă bị trưng thu kể từ tháng 7. Được tin ông bị bắt cùng với toàn thể gia đ́nh v́ có ư định trốn đi ra nước ngoài.

 

Tự nhiên, cả một quá khứ quay trở về. Tôi nh́n ra chỗ ngồi của ông TVL bên cạnh TT Ngô Đ́nh Diệm và cuối hàng ghế đầu, phía tay trái, chỉ c̣n một người ngồi nữa là hết dăy ghế, chỗ của ông Ngô Đ́nh Nhu, chỗ có vẻ khiêm tốn, khuất lấp. Thật ra chỗ của ông Nhu, ông muốn ngồi chỗ nào mà chả được.
Sau này, không biết số phận ông Trương Vĩnh Lễ ra sao.

 

Danh sách trí thức miền Nam ủng hộ chế độ mới — Đây là những trí thức trong thành phần thứ ba và nay ra hợp tác với chính quyền mới. Đây là danh sách cụt và ngắn gọn. C̣n rất nhiều người tham gia hợp tác khác mà chưa đủ nổi, chưa tiện nói.

 

Cao Thị Quế Hương, Chân Tín, Huỳnh Công Minh, Huỳnh Liên, Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Văn Giáp, Lê Văn Thới, Hồ Ngọc Nhuận, Lê Văn Nuôi, Lư Chánh Trung, Lư Quư Chung, Ngô Bá Thành, Ngô Công Đức, Nguyễn Duy Thông, Nguyễn Hửu Hiệp, Nguyễn Long, Phạm Biểu Tâm, Phan Khắc Từ, Thích Minh Châu, Tôn Thất Dương Kỵ, Trần Ngọc Liễng, Trần Thúc Linh, Triệu Quốc Mạnh, Trịnh Đ́nh Thảo, Trương Bá Cần, Vơ Đ́nh Cường, Vơ Thị Bạch Tuyết, Vương Đ́nh Bích.

 

Phần cụ chủ tịch Thượng Nghị Viện VNCH Nguyễn Văn Huyền — Cụ đă đứng ngoài danh sách trên. Sau này cụ đau nặng. Nhưng Ủy Ban Trung Ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam đă nhiều lần mời cụ tham gia vào mặt trận. Cụ đă từ chối v́ lư do sức khỏe. Trên tờ Đại Đoàn Kết, người ta nhắc lại với lời tán dương cụ là người đă biện hộ cho luật sư Nguyễn Hữu Thọ ở thời kỳ chống Pháp. Nhưng họ cũng không quên nhắc khéo cụ đừng có làm cao quá về lời mời tham gia vào Mặt Trận… vậy mà cụ đă vô t́nh lặng lẽ ra đi chưa kịp có một lời giă biệt. Mới đây tờ báo điện tử Chuyển Luân, bên Úc đă cố ư nói không tốt về cụ gián tiếp cho rằng cụ và nhóm Trần Văn Lắm đă làm áp lực lên Thủ Tướng Vơ Văn Kiệt đưa đến cái chết của TT Thích Thiện Minh ở trong tù. Một cái chết c̣n rất nhiều nghi vấn. Nhưng đưa ra một giả thuyết vô bằng như vậy quả là không nên.

 

Xin nêu ra vài nhận xét của Hồ Ngọc Nhuận về cụ Huyền. Kể cũng trớ trêu thật, cùng tên Nhuận mà mỗi người xét đoán sự việc mỗi người mỗi khác. Hoàng Nguyên Nhuận, trên Chuyển Luân th́ nghi can cho cụ có trách nhiệm vào vụ thảm sát TT Thích Thiện Minh. C̣n Hồ Ngọc Nhuận th́ lại nghĩ rằng, cụ là một trong những nhà chính trị hiếm hoi của VNCH là người đạo đức. Cụ cũng là người mà Cao Thị Quế Hương, một sv Phật tử tranh đấu hết ḷng bày tỏ sự biết ơn, v́ thời gian ở tù, cô vẫn được cụ tới viếng thăm và giúp đỡ. Hồ Ngọc Nhuận đă viết như thế này: Không biết cụ lấy đâu ra từ trong con người ốm yếu của cụ cái chất giọng trầm, sắc, chắc, khoẻ, to và cái hơi dài như vậy. Hăy xem cảnh cụ Huyền điều khiển Thượng Viện dưới ng̣i bút của Hồ Ngọc Nhuận:

Như trên đă nói, tôi muốn nói ǵ cứ nói, tôi muốn đao to búa lớn với hành pháp thế nào cũng được, như trong vụ dân biểu Trần Ngọc Châu bị bắt và trong nhiểu vụ khác… Nhưng khi tôi vừa cất giọng hướng mũi tấn công về cụ Lương coi như đồng lơa của hành pháp… th́ nhanh như cắt, cụ Huyền chộp lấy cái búa gỗ… Hẳn cụ chủ tịch TV cho rằng cụ chủ tịch Hạ Viện là khách danh dự của cụ, nên cụ phải bảo vệ, không để ai động đến. Nhưng tôi đâu nỡ để cho cụ ‘búa’ mất sức lắm… và cảnh vờn nhau thầm lặng không kém phần quyết liệt giữa một già, một trẻ như vậy tại Hội Trường không chỉ diễn ra một lần, khiến nhiều đồng viện để ư theo dơi cũng phải bật cười.

 

Sau gần 20 năm sống thầm lặng, cụ bỗng được mời vào Trung Ương MTTQVN. Là người sùng đạo, cụ Huyền cũng là người mực thước, đức độ và rất được cố TGM B́nh hết mực tin cậy. Cụ có người em gái là nữ tu ḍng kín. Đến lúc cuối đời, cụ vẫn sống khiêm tốn, giản dị, hàn vi trong ngôi nhà nhỏ ở gần góc Hồng Thập Tự- Bùi Chu, một phần nhà mặt tiền dành cho một người cháu hành nghề hớt tóc. Yếu nhiều, cụ nghỉ ngơi, làm việc ngay tại pḥng khách, cạnh giường luôn để sẵn cây gậy.

 

Một thời gian sau, cụ Huyền lặng lẽ ra đi. Mà không ai hay.

 

Tôi nghĩ viết như thế là đủ, khỏi cần tranh căi với Hoàng Nguyên Nhuận.

 

Thứ ba, mồng 2/9/1975, Kỷ niệm ngày lễ Độc Lập

 

Đây là buổi tập trung đông đảo người nhất kể từ 30 tháng tư. Buổi chiều có pháo bông. Tờ Giải Phóng cho biết có 10 triệu người tham dự buổi Mít tinh trên tổng số hơn 3 triệu dân thành phố.

 

Lại những con số ảo đến lố bịch. Có những con số làm phiền, có những con số ảo lố bịch và có những con số làm ta phát nản.

 

Cũng trong dịp này, thành phố Hà nội khánh thành khách sạn Thắng Lợi. Cũng là dịp để mừng 30 năm ngày tuyên bố Độc Lập. Khách sạn này là do tiền tài trợ giúp của nước Cuba anh em cho Việt Nam. Vật liệu xây dựng từ bao xi măng đến cái nắm cửa, cho đến thày thợ đều chở từ Cuba sang. Ở vào thời kỳ đó th́ khách sạn Thắng Lợi là niềm tự hào của hai nước và chỉ dành cho các khách sang, các nhà ngoại giao từ ngoại quốc đến. Ở đây cũng là kho lương thực cho các nhân viên đại sứ quán có thẻ lương thực mà tiêu chuẩn là một nửa lít sữa cho ba người một ngày và nửa kí lô đường cho một người trong một tháng.

 

Tiêu chuẩn lương thực như thế cũng chả có ǵ là hấp dẩn, nhưng đối với một người VN b́nh thường th́ quả là không dễ mà có được.

 

So sánh khách sạn Thắng Lợi với khách sạn Thống Nhất, c̣n gọi là hotel Métropole cũ th́ cũng khác xa nhau một trời một vực. Ṭa Đại sứ Ư (Italy)ưu tiên có được hai pḥng cho hai cố vấn ṭa Đại sứ với gia đ́nh họ ở khách sạn Thống Nhất. Toà đại sứ Iraq th́ chỉ được một pḥng, vừa làm văn pḥng, vừa làm chỗ ăn ngủ cho 3 nhân viên sứ quán. Muốn có máy lạnh th́ nhân viên sứ quán phải tự mang máy lạnh đến và khi dời khỏi khách sạn th́ phải hứa tặng lại cho khách sạn.

Các nhân viên sứ quán th́ bị hạn chế di chuyển và chỉ có chuột là tự do đi lại trong khách sạn. Nhân viên sứ quán Úc Đại lợi (Australia) nhận thấy nước máy quá dơ bẩn đă nghĩ ra được cách lọc nước máy đơn giản và hiệu quả. Buộc một chiếc bít tất vào ṿi nước. Vậy là xong.

 

Kỳ tết vừa rồi, tôi có dịp đi ngang qua khách sạn này. Nó chẳng c̣n như xưa nữa mà đi vào sự hoang phế chờ để được đập phá đi.

 

Tất cả đă thay đổi nhiều lắm

 

Có tin bệnh viện Grall đóng cửa — Bệnh viện tư duy nhất của người Pháp c̣n để lại. Phải đóng cửa, v́ thiếu thuốc men, mặc dầu có một số thùng thuốc được chở đến từ Singapore từ 22 tháng 7. Theo các bác sĩ trong bệnh viện, nhu cầu thuốc men cần cho bệnh viện lúc này là 20 tấn. Chuyện phải đến đă đến, mặc dầu Sài G̣n thiếu trầm trọng các bác sĩ, y tá cũng như thuốc men.

 

Tốt hơn hết trong lúc này là đừng có ốm đau ǵ cả.

 

Người ta có trhể nhịn ăn, nhịn mặc, nhịn nói, tại sao lại không có thể nhịn ốm được nhỉ?

 

Thứ sáu, 12 tháng 9/1975, Hội nghị Hiệp Thương thống nhất tổ quốc

 

Phái đoàn gần 100 trí thức miền Nam ra thăm miền Bắc đi tham dự Hội Nghị Hiệp Thương Thống Nhất Tổ Quốc.

 

Trong phái đoàn đặc biệt có Ni sư Trưởng Huỳnh Liên, luôn luôn mặc áo toàn vàng nghệ, theo phái khất sĩ, đầu cạo láng coóng. Thật chẳng giống ǵ với mấy sư ông miền Bắc toàn một mầu nâu, đầu quấn khăn. Bên cạnh theo phù tá là Nữ nghệ sĩ Kim Cương cũng láng coóng theo kiểu áo dài trong Nam..

 

Trong phái đoàn có một nhà báo kỳ cựu là ông Nam Đ́nh. Cho đến bây giờ, tôi vẫn không hiểu được tại sao ông lại có mặt ở đây. Trước đây trong Hồi kư Nam Đ́nh, hồi kư làm báo của ông, ông đă cực lực lên án phe đệ tam đă giết hại những người của phe đệ tứ như Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu. Ông là một trong những nhà báo nổi tiếng có một thư viện đồ sộ và những tài liệu quư báu ít ai có được. (Xem thêm, Nh́n lại sáu mươi năm tranh đấu cho Việt Nam. Hồ sơ đệ tứ, tập 3. Nhóm đệ tứ VN tại Pháp )

 

C̣n Chân Tín th́ trẻ con miền Bắc tưởng lầm là ông Liên Xô. Với vầng trán hói quá khổ và mái tóc dài thơa xuống ngang vai. Lúc đó, ông làm lớn lắm: Thứ nhất là Ủy viên Trung ương Mặt trận tổ quốc VN và phó chủ tịch Mặt trận thành phố. Mới đây, tôi gặp lại ông ở Sài G̣n th́ đầu tóc đă ngắn không c̣n dài như trước nữa. Chỉ ít lâu sau khi về lại thành phố th́ ông đă nói: Tôi được giải phóng rồi, nghĩa là mất tuột tất cả những chức vụ hữu danh vô thực trên. Lúc này th́ ông kêu gọi người Cộng Sản phải sám hối.

 

Ông bị cô lập và cuối cùng giam lỏng ở Cần Giờ. Những người bị giam tù thời VNCH như Huỳnh Tấn Mẫm, Nguyễn Huy Diễm hay Vơ Thị Bạch Tuyết, giám đốc Sở lao động thương binh và xă hội thành phố cũng thường rủ nhau tới thăm ông. Thăm như một trả ơn nghĩa lúc ông là sáng lập Ủy Ban đ̣i cải thiện chế độ lao tù tại miền Nam VN.

 

Nguyễn Ngọc Lan th́ cân cả quần, cả áo mới nặng được 33 kí lô sau khi ăn cơm xong. Ông tham quan Hà nội, 1975 về viết bài trên tờ Đứng Dậy, trước hồi VNCH là tờ Đối Diện. Bài báo nhằm giới thiệu Hà Nội một cách trung thực với nhan đề: Hà Nội tôi thế đó. Thế đó là thế nào. Nghĩa là nghèo xác xơ. Nói thế đâu có được. Nói thế là chửi xỏ xiên chế độ. Kết qua là Đứng Dạy đóng cửa và ít lâu sau, ông trở thành người đối lập chỉ trích nhà nước Cộng Sản trong: Những tin nhà.

 

Lại có thêm Lư Chánh Trung, người nổi bật nhất trong phái đoàn, có thói quen ngậm ống vố rất là cao sang và tự hào. Ông kể cho tôi là đi đến đâu, từ chị lái đ̣ đến anh công nhân đều đă đọc bài viết của giáo sư trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước. Như thế, tŕnh độ văn hóa của dân miền Bắc kể là cao hơn so với miền Nam. Nghe những truyện ông kể, tôi thật sự không vui. Tôi chỉ biết nói thế. Sau này mới đây gặp lại ông, h́nh như ông đă bỏ thói quen ngậm ống tẩu. Ông chỉ c̣n giữ lại được nụ cười nhếch mép cố hữu từ thời tuổi trẻ. Cái c̣n lại duy nhất của đời ông lúc tuổi xế chiều

 

Bà Ngô Bá Thành và Lư Quư Chung (cả hai đều đă măn phần) đều coi đấy là một vinh dự hi hữu của cả một đời người. Riêng Lư Quư Chung, trong Hồi kư không tên của ông cho hay, khi ba ông, ông Lư Quư Phát, bị đột quỵ và lúc tập nói được th́ câu đầu tiên ba ông đă nói với ông như sau: Tao không muốn gặp mày nữa, gia đ́nh mày đă ra thế này, cha mày đă ra thế này mà mày c̣n viết báo cho Cộng Sản, cha mày từ mày. Ông thú nhận là chưa bao giờ ba của ông đă nặng lời với ông như thế. Ông viết thêm về gia đ́nh ông: Cùng một lúc, tôi mất bảy đứa em, vào lúc này người vượt biển coi như không có hy vọng gặp người ở lại.

 

Nhưng câu thú nhận đau ḷng nhất vẫn là: Sau 30 năm, tôi vẫn là “người khách đặc biệt”, chưa bao giờ là một thành viên trọn vẹn của chế độ mới.

 

Sau đó th́ phái đoàn miền Nam được hướng dẫn đi tham quan một xă tiêu biểu là xă: Như Quỳnh, cách Hà nội 20 cây số trên đường đi Hải Pḥng, thuộc tỉnh Hưng Yên. Sau chuyến tham quan về th́ ông Hồ Ngọc Nhuận viết khác Nguyễn Ngọc Lan như thế này: Nhưng ngày nay th́ đă hoàn toàn khác hẳn. Đồng bào nông thôn của ta ở miền Bắc đă thật sự được giải thoát khỏi áp bức bóc lột. Họ đă hoàn toàn làm chủ đời sống của họ, vận mệnh của họ và do đó thật sự là những người chủ đất nước. Chủ nghĩa xă hội là con đường tiến lên tất yếu… Và chúng tôi nghĩ rằng, chúng tôi tin rằng Độc lập dân tộc và Thống nhất tổ quốc phải được gắn liền với chủ nghĩa xă hội.

 

Và sau 25 năm, chính ông Hồ Ngọc Nhuận đă viết lại như thế này: “Và tôi nữa, sau 25 năm, khi đọc lại chính ḿnh, tôi t́m thấy được bao nhiêu phần trăm của tôi hôm nay trong đó… Trong những ǵ ḿnh viết, suy nghĩ, khẳng định năm xưa.”

 

(Xem tiếp phần cuối)

 

Nguyễn Văn Lục

 

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính