CÁI CHẾT CỦA SỬ GIA PHẠM VĂN SƠN

 

Nguyễn Văn Dưỡng

 

 

Trước năm 1975, ở miền Nam, ông Phạm Văn Sơn là một trong rất ít những vị viết sử. Bộ sử được nhiều người biết đến nhất của ông là bộ Việt Sử Tân Biên.

 

Tôi hân hạnh được làm việc dưới quyền chỉ huy của ông từ năm 1958 đến 1960. Thời gian này ông mang cấp bậc Thiếu tá, giữ chức vụ Chỉ huy trưởng trường Quân Báo & Chiến Tranh Tâm Lư Cây Mai; tôi mang cấp bực trung úy, là huấn luyện viên và sĩ quan an ninh của Trường. Chính trong thời gian này, ông đă tu chỉnh bộ sử nói trên và cho tái bản. Những th́ giờ nhàn rỗi, tôi đă t́nh nguyện giúp ông. Tôi được ông giới thiệu đến gặp ông Lê Ngọc Trụ, công chức làm việc ở Thư Viện Quốc Gia - lúc đó c̣n nằm trên đường Gia Long - để nhờ hướng dẫn sưu tầm tài liệu.

 

Ông Lê Ngọc Trụ c̣n là một học giả, giảng sư Ngữ học của Đại  học Văn khoa Saigon, đă chỉ dẫn cho tôi t́m được khá nhiều tài liệu và sách viết bằng tiếng Pháp về thời Trịnh Nguyễn phân tranh. Các tài liệu này cũng như những tài liệu quí giá khác, giúp cho ông Phạm Văn Sơn tu chỉnh Việt Sử Tân Biên. Thời gian làm việc với ông, tôi đă học được ở ông nhiều điều về viết lách.

 

Năm 1961, trường Cây Mai đổi tên, chỉ c̣n là trường Quân Báọ Ngành Chiến Tranh Tâm Lư tách ra riêng, đuợc dạy riêng ở một trường của ngành này, mới thành lập, ở một địa điểm khác; do đó, Thiếu tá Phạm Văn Sơn cũng được thuyên chuyển về ngành Chiến Tranh Chính Trị.. Sau đó không lâu, ông được bổ nhậm vào chức vụ Trưởng Ban Quân Sử của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, thuộc Bộ Tổng Tham Mưu. Ông lần lượt được thăng đến cấp đại tá và giữ nhiệm vụ này cho đến ngày miền Nam sụp đổ.

 

Tôi nghĩ rằng, với khả năng của ông và dưới sự chỉ đạo của người viết sử sở trường và kinh nghiệm như ông, hẳn là Ban Quân Sử Quân Lực VNCH đă viết được những bộ sử chiến tranh VN cận đại quí giá, nhất là binh sử thời kỳ sau năm 1954 trở đi. Tôi nghĩ như vậy v́ tôi biết ông PVS rất thận trọng, không thể khinh xuất trong nhiệm vụ của ḿnh và càng không thể để cho thuộc cấp khinh xuất. Ngày trước ông thường bảo tôi : Phải cố gắng làm sao cho mức độ trung thực và chính xác cao chừng nào tốt chừng đó, như vậy th́ những điều ḿnh viết về sử mới mong có thêm một chút giá trị.  Việc sưu tập những sự kiện, chứng tích, tài liệu có độ xác tính cao nhiều chừng nào th́ việc so sánh, nghiên cứu, lượng giá, đối chiếu…dễ chừng nấy”. Đó là lề lối làm việc nghiêm cẩn, thận trọng của ông. V́ vậy sau này, năm 1972, tôi đă không ngạc nhiên khi chiến trường An Lộc c̣n đang sôi động với những trận đánh đối tuyến chỉ cách nhau có một con đường, giành nhau từng góc phố - giữa các đơn vị VNCH và quân CS Bắc Việt - khi những cơn pháo kích dữ dội của địch quân chưa giảm, khi không một chiếc trực thăng nào đáp xuống An Lộc mà không sợ tan xác, tôi đă thấy ông hiện diện ở chiến trường này để t́m hiểu sự thật viết về trận chiến khốc liệt đó.

 

Lúc bấy giờ, tôi là Trưởng Pḥng 2 của Bộ Tư Lệnh Hành Quân của tướng Lê Văn Hưng, đă cung cấp cho ông những tài liệu, sự kiện “sống” nóng bỏng, chính xác và đầy đủ. Tuy nhiên, muốn viết cho trung thực hơn, ông đă ở lại trong hầm chống pháo với tôi một đêm, thức trắng để nghe tiếng đạn pháo của địch quân rơi trên đầu ḿnh và xung quanh đâu đó, vừa hỏi tôi thật chi tiết về những sự kiện ghi trong nhật kư hành quân (mỗi pḥng của Bộ Tư Lịnh Hành Quân đều có) kể cả tài liệu, cung từ tù binh của địch bắt được trong các trận đánh trước ở đó.

 

Sau khi ông rời An Lộc, không bao lâu mặt trận được giải tỏa, tôi đến Bộ Tổng Tham Mưu để gặp ông th́ được biết ông đă ra Quảng Trị để làm nhiệm vụ như đă làm ở An Lộc. Như vậy ông và những sĩ quan thuộc cấp trong Ban Quân Sử đă hiện diện ở khắp chiến trường lớn để t́m sự thật viết về binh sử…

 

Tôi nêu lên những chi tiết trên đây mong các bạn h́nh dung được tư cách khả trọng của một người viết sử chân chính, ông PVS, một người đă thành danh trong giới trí thức VN, để rồi tôi xin kể lại những ngày cuối cùng bi đát trước cái chết thảm thương của ông trong lao tù, dưới chế độ bất nhân, tàn độc của CSVN.

 

Ngày 30/4/75, như mọi người đều biết, Dương Văn Minh, một tổng thống phi hiến định, tuyên bố đầu hàng CS Bắc Việt vô điều kiện, Quân Lực VNCH bị bức tử, buông súng, tan ră. Một số tướng lănh, sĩ quan cấp tá, cấp úy tuẫn tiết. Tất cả những sĩ quan c̣n lại ở miền Nam vào lúc đó, bị dồn vào các trại tập trung tạm trong lănh thổ miền Nam, cùng với các cấp chỉ huy cảnh sát, công chức cao cấp và các nhà hoạt động chánh trị trong các đảng phái miền Nam.

 

Một năm sau, CS đưa tất cả những người mà họ gọi là có “nợ máu” nhiều nhất với nhân dân miền Bắc, giam giữ và bắt lao động khổ sai ở những trại giam trong rừng sâu nước độc của Thượng du và Trung du Việt Bắc. Một số sĩ quan và công chức khác c̣n bị giam giữ ở các trại tù cải tạo miền Nam. Tháng 6, năm 1976, đợt tù nhân đầu tiên bị đưa ra Bắc, trong đó có tôi, bị dồn cứng dưới khoang của những chiếc tàu thủy cận duyên cỡ nhỏ. loại chuyên chở của quân đội CS. Sau 4 ngày 4 đêm, tàu cập ở Bến Thủy thuộc Vinh. Từ đó vào nửa khuya, chúng tôi bị chuyển vào bờ, lần này th́ bị dồn vào các toa tàu hỏa dùng để chở súc vật, lên phía Bắc.

 

Ngày 15/6/76 - ngày duy nhất mà tôi nhớ suốt 13 năm tù - đúng một năm sau ngày tôi đưa đầu vào cùm ở trường Don Bosco ở G̣ Vấp - trên chuyến tàu hỏa nói trên, qua một kẽ hở thật nhỏ của toa tàu, tôi đă nh́n thấy nhà thương Bạch Mai và ga Hàng Cỏ, những địa danh của Hà Nội mà tôi đă được đọc qua trong các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn, thuở tuổi học tṛ. 2 sĩ quan tù nhân cấp Tá đă ngộp thở chết trong toa chở súc vật, quăng giữa đường Việt Tŕ -Yên Bái.  Kể từ đó, có thêm hàng trăm tù nhân đi trên những chuyến tàu định mệnh này đă ngă xuống ở các trại tù miền Bắc, vĩnh viễn không c̣n thấy được những chuyến tàu xuôi Nam…Trong số những người này có Đại Tá Phạm Văn Sơn.

 

Một số tù nhân trên dưới một ngàn người trên các toa tàu này được đổ xuống ga Yên Bái, trong số đó có tôi.. Từ ga Yên Bái, bộ đội CS dùng xe quân sự Molotova chuyển chúng tôi theo đường bộ lên Sơn La giam giữ ở các trại giam dành cho quân nhân. Tôi ở đó được một năm rồi bị chuyển sang trại giam công an, cũng ở Sơn La, trong 2 năm nữa. Năm 1979, trước cuộc chiến ngắn ngủi giữa Trung Cộng và CSVN không bao lâu, tất cả chúng tôi - những tù nhân chính trị - ở những trại giam trên các tỉnh biên giới phía Bắc và Tây Bắc được chuyển về các trại giam vùng Trung Du và các tỉnh phía nam, tây nam Hà Nội, như các trại giam Tân Lập (Vĩnh Phú), Nam Hà (Nam Định), Thanh Phong (Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh),…

 

Sự chuyển dồn trại như vậy làm cho đời sống lao tù chúng tôi đă cơ cực càng cơ cực hơn, ăn đă đói càng đói hơn, mỗi người không có được đến 4 dm2 để có thể nằm ngửa, phải nằm nghiêng chen chúc lẫn nhau mà ngủ sau mỗi ngày lao động nặng nhọc, nên pḥng giam nào cũng hôi hám, thiếu ánh sáng, thiếu không khí đến ngộp thở, bao nhiêu chứng bệnh ngặt nghèo nguy hiểm đă bộc phát trong anh em chúng tôi, thuốc men không có để trị, mạng sống của mọi người cũng bị Tử Thần ŕnh rập từng ngày từng đêm. Đa số anh em chúng tôi được đưa về trại giam Tân Lập do công an quản chế, bây giờ đặt dưới sự chỉ huy của trung tá công an Nguyễn Thủy, một tên cán bộ chữ nghĩa viết chưa hết một ḷng bàn tay nhưng vẫn thích đọc thơ Tố Hữu và Huy Cận trước mặt anh em tù nhân, trong khi ḷng dạ lại hiểm độc vô lường…

 

Tân Lập là một hệ thống trại gồm một trại chính và nhiều phân trại thường được gọi là K, đánh số từ K1 đến K7, nằm rải rác hai bên bờ một nhánh sông bắt nguồn từ sông Lô, chảy qua xă Tân Lập, tỉnh Vĩnh Phú. Tôi đến Tân Lập ngày nào năm đó, đă không c̣n nhớ nữa, chỉ nhớ là lúc đó trời đă bắt đầu trở lạnh; dù vậy, sau mỗi buổi lao động vẫn phải theo mọi người ra những băi vắng trên sông này để tắm trước khi về trại.  Chính ở các băi tắm này chúng tôi mới thấy h́nh hài khốn khổ của nhau, v́ mọi người đều trần truồng. Trong khi số tù nhân từ Sơn La mới chuyển về người ngợm c̣n chút thịt da, th́, những anh em tù đă ở trại giam K2 Tân Lập từ mấy năm trước thân thể chỉ c̣n da bọc xương, đến 2 bên mông là nơi lư ra phải c̣n có chút thịt, cũng chỉ thấy có xương xẩu nhô hẳn lên, trông thật thảm năo. Khi tắm ai cũng rét run, v́ cái lạnh của trời và nước làm cho mọi người thấu buốt ruột gan…bởi trong người không c̣n năng lượng để kháng nào nữa. Tôi nói lên những điều này để chỉ rơ chế độ quản chế, đối xử với tù nhân chính trị của trại giam Tân Lập cay nghiệt hơn bất cứ trại giam nào mà chúng tôi đă trải qua trước đó, mặc dù chúng tôi biết rằng với chế độ tập trung cải tạo, trại giam là nơi CSVN giết người kín đáo nhất, ít đổ máu nhất, bằng áp đặt khổ sai vắt sức, bằng bỏ đói trường kỳ khiến cho tù nhân chết mỏi ṃn v́ kiệt sức, v́ bệnh hoạn hay v́ những lư do mờ ám khác nữa. Không một ai trong chúng tôi, lúc đó, thoát khỏi sự thách đố của định mệnh, của cái chết đến bằng nhiều cách ở bất cứ lúc nào.  Ở Tân Lập, bọn công an Nguyễn Thủy đă làm hơn những điều chúng tôi nghĩ, đă biết. V́ thế các tù nhân chính trị chết trong các phân trại Tân Lập nhiều hơn bất cứ nơi nào khác. Riêng ở phân trại K2, mấy tháng mùa đông cuối năm 1979, đầu năm 1980, mỗi ngày ít nhất cũng có 1 đến 2 tù nhân chết; con số tù nhân đến bệnh xá (không có một thứ thuốc men nào để trị bệnh), hằng ngày hơn 200 người, mục đích không phải là để xin trị bệnh, nhưng để được khám, chứng nhận là bệnh, để khỏi đi lao động, được ngày nào đỡ ngày đó, mặc dầu họ là những người bệnh thực sự cần phải được điều trị và miễn làm việc…

 

Tại K2 Tân Lập, trong hoàn cảnh chung như vậy, tôi đă gặp lại ông Phạm Văn Sơn. Tôi đă nh́n thấy tận mắt những ngày sống bi đát cuối cùng của đời ông.

 

Chừng một tháng sau khi đến K2, một buổi trưa, tôi và một người bạn tù khác cùng đợi đến phiên phải lên phạn xá gánh cơm về cho anh em trong đội ăn sau buổi lao động; trong khi chờ đến lượt ḿnh nhận cơm, tôi đă vơ vẫn đến bên ngoài hành lang của một căn pḥng nhỏ cạnh phạn xá, tôi thấy một người, đă nhận ra ông mà cứ ngỡ là đôi mắt ḿnh đă nh́n lầm. Ông chính là Đại Tá Phạm Văn Sơn, vị chỉ huy trưởng ngày xưa của tôi.  Ông chỉ c̣n là cái bóng âm thầm, một cái xác sắp mục nát, bất động, câm nín sau chân song sắt, bên trong cửa sổ của căn pḥng “cách ly”, duy đôi mắt hiền ḥa th́ vẫn tinh anh như thuở nào. Rơ ràng ông hiện hữu như một tĩnh vật có linh hồn sáng suốt, đang nh́n ngắm mọi sự vật đổi thay, quay cuồng điên đảo với những nhận định xuyên suốt, những ư nghĩ sâu sắc, cao xa nào đó một cách hữu thức, v́ chính đôi mắt nh́n lắng sâu, và sáng kia là “cửa sổ linh hồn ông”, cho tôi biết điều đó.

 

Tôi nh́n ông và ông nh́n tôi. Trong một thoáng, quá khứ như chỗi dậy; không biết v́ mừng rỡ hay v́ ngỡ ngàng xúc động, tôi chợt buột miệng gọi lên : – “Thầy” !

 

Chỉ một tiếng rồi lặng thinh. Tôi c̣n biết nói ǵ hay làm ǵ hơn khi mà ai cũng biết rằng ḿnh bất lực trước hoàn cảnh bất hạnh nào riêng của mỗi người. Mắt ông h́nh như sáng hơn, ông đă nhận ra tôi.  Trong gương mặt đă biến dạng, sần sùi của ông, với đôi môi khẽ chớp động, tôi đă nh́n thấy một nụ cười. Ông đă hiểu rơ tâm trạng của tôi, tuy ông lặng lẽ không nói một lời nào.

 

Không một dấu hiệu, ông rời song cửa sổ. Chỉ chưa đầy một phút sau, cánh cửa ra vào của căn pḥng nhỏ — đang khép hờ — mở rộng ra.  Ông đứng ở ngưỡng cửa, thẳng thớm như đứng giữa giang san của ḿnh, một giang san thu hẹp đến thật nhỏ nhoi, lạnh lẽo, cô độc… Với thế đứng vững vàng như vậy ông đă cho tôi ư nghĩ là, chính nơi này, nơi thật nhỏ nhoi này, là nơi ông đă t́m ra nguyên ủy, phương tŕnh giải quyết và kết luận cho một nan đề khó giải quyết nhất, hay ông đang ấp ủ một điều ǵ thật to tát trong tư tưởng của ông. Nhận xét của tôi không thể nhầm lẫn v́ ngày xưa nhiều lần tôi đă nh́n vào mắt và tư thế của ông mà đoán đúng những ǵ ông định ra lệnh cho tôi hay muốn nói cùng tôi.  Ở lần gặp lại này, tôi cũng linh cảm được ư nghĩ của ông như thuở đó.

 

Tôi định bước vào hành lang, tiến đến gần ông nhưng kịp thấy ông nh́n tôi khẽ lắc đầu.  Tôi dừng lại và ghi nhận đầy đủ hơn tín hiệu của căn bệnh ghê gớm đă và đang tàn phá cơ thể của ông. Ông đứng thẳng, hai tay chập lại để trước người, những ngón tay đan chéo vào nhau, chỉ nh́n tôi không nói một lời nào. Ngày đó, trời đă lạnh. Tuy nhiên, tôi nghĩ không phải v́ trời lạnh mà ông trùm kín đầu bằng một chiếc khăn lông trắng đă trở màu vàng, bẩn và lấm tấm những vệt máu, mủ. Ṿng khăn quấn kín cổ chỉ chừa có đôi mắt, mũi, miệng và một phần rất nhỏ ở 2 bên má. Ông trùm kín mặt như vậy có lẽ đă che bớt đi những vết lở lói trên mặt ḿnh, bởi chứng bệnh nan y của ông.

 

Thân thể gầy g̣ nhưng cộm lên v́ mặc nhiều lớp áo quần bên trong; bên ngoài, ông mặc một chiếc áo mưa màu nhà binh đă thật cũ, sờn rách một đôi nơi. Chân được bó lại bằng những mảnh vải quần áo cũ xé ra, dính đầy bụi đất và những vết máu, vết mủ. Chỉ có một phần mặt mũi và hai tay của ông lộ ra, các phần thân thể khác không thấy được. Và chỉ có vậy thôi, tôi cũng nhận ra rằng không phải ông mang chứng lở lói b́nh thường mà tôi đă từng thấy, từng biết. Mũi ông đỏ ửng, bóng; hai má cũng vậy, cộng thêm một số vết lở lói; lông mi ở mắt đă rụng. Hai bàn tay cũng có những vết lở tấy, nhưng các ngón tay đă co lại, móng tay nhiều ngón đă bị khuyết lại hay mất hết : ông bị chứng phong hủi (leprosy) ở thời kỳ trầm trọng. V́ không có thuốc và v́ điều kiện vệ sinh không thể có được trong tù nên bệnh của ông phát triển rất nhanh. Đó là lư do tại sao chỉ mới đi tù trong ṿng bốn năm năm ông đă trở thành người tàn phế, bị cách ly riêng biệt. Có lẽ người ta gán cho ông chứng bệnh lở lói là để tránh sự loan truyền căn bệnh cùi trong trại giam. Vả lại ông bị “cách ly”, chỉ được ra ngoài vào những giờ mọi người đă đi lao động, không c̣n ai trong trại, nên ít ai biết rơ. Nhưng chính ông, ông biết rơ bệnh trạng của ông.

 

Tôi nh́n ông thật lâu, trong ḷng xót xa, không biết phải nói ǵ, làm ǵ. Vị sĩ quan cao cấp chững mực với quân phục chỉnh tề trang nghiêm ngày xưa nay đă mang h́nh hài của một người tàn phế giống như một kẻ hành khất lở lói mà ai cũng có thể gặp ở đâu đó. Đôi mắt tôi nói rơ sự thương cảm của tôi đối với ông. Và một lần nữa ông cười, nụ cười nhăn nhún với một chiếc răng khểnh trong môi, như ông muốn nói với tôi rằng : “Tôi chấp nhận định mệnh của tôi, nhưng tư tưởng của tôi đă vượt khỏi thân xác nhỏ nhoi tàn phế của tôi rồi. Anh đừng thương hại cho tôi”.

 

Sau nụ cười là ánh mắt nh́n tôi sâu hơn. Trong ánh mắt đó của ông, tôi đă ghi nhận được sự thương xót của ông đối với tôi.  H́nh như ông đă nh́n thấy lại người sĩ quan thuộc cấp trẻ tuổi của ông ở những ngày xưa, c̣n độc thân, mặt c̣n non sữa, nhưng sáng sủa và nhanh nhẹn, đă từng lúc làm ông hài ḷng, cùng từng khi khiến ông phải chỉ bảo…Ngày nay, hắn ta đă trở thành một người cằn cỗi, gầy ốm, lam lũ với áo quần chùm đụp rách rưới, má hóp, mắt thâm v́ những ngày thiếu ăn, những đêm thiếu ngủ. Hơn thế nữa, hắn ta c̣n chưa biết phải làm ǵ trong cảnh tù đày và trong tương lai.

 

Tôi chưa biết nói ǵ thêm, làm ǵ thêm ở buổi gặp lại ông trong hoàn cảnh khốn khổ đó, th́ anh bạn cùng tôi đi lănh cơm, t́m được tôi, thấy tôi đang đứng “nói chuyện” với Đại Tá Sơn. Anh đến gọi tôi v́ cơm anh đă lănh xong để ngoài sân phạn xá. Tôi tần ngần một phút nhưng rồi cũng phải theo anh trở lại phạn xá gánh cơm về cho anh em ăn. Chúng tôi chào từ giă ông, không thấy ông trả lời. Tôi quay đi, mang theo nỗi buồn thật lớn. Anh bạn nói với tôi :

 

- Đại tá Sơn đó, ông ta bị chứng bệnh nan y, vừa bị suyển, bệnh tim, lao phổi.  Ông không hề nói chuyện với ai.

 

Tôi trả lời ngắn : “Xếp cũ của tôi!”

 

Suốt ngày hôm đó tôi thẫn thờ v́ những ư nghĩ miên man trong đầu óc tôi. Đêm đó cũng không thể ngủ được. Tôi suy nghĩ về ông và những ngày tù đày của chính bản thân tôi. Quả thật, trong lần đối thoại bằng mắt ở buổi gặp lại lạ lùng này, ông đă nói với tôi thật nhiều về thân phận của ông và tôi. Tôi biết rơ ông đă vượt khỏi cái thân xác bệnh hoạn yếu đuối nhỏ nhoi của con người, dẫn phần tâm linh của ông đến một cơi an b́nh nào đó, như một tín đồ công giáo tin tưởng sự an bài của Đấng Tạo Hóa về định mệnh của ḿnh. Hơn thế nữa, trong tư tưởng, ông không chỉ c̣n là một người viết sử b́nh thường, một sĩ quan b́nh thường, mà đă trở thành một triết gia lớn biết cả cội nguồn của dân tộc và tổ quốc. Tâm trí ông đă đi ra ngoài thân thể ông để đến một khung trời bao la nào đó, cao rộng, hay ít nhất cũng phủ trùm trên bờ cơi VN.

 

Rơ ràng ông đă t́m được cho ông một lối thoát, sau khi đă trải qua đau khổ đến tột độ : thể xác nứt nẻ, nhức nhối v́ bị gặm nhấm, rút tỉa bởi con máu độc hại của chứng bệnh nan y; bị bỏ đói khát lạnh lẽo, cô độc trong một nơi cách biệt đến trở thành câm nín. Bao nhiêu tháng ngày đau đớn oằn oại mà ông phải chịu đựng từng phút từng giây đó không đủ để ông trở thành một triết nhân hay sao, vả lại ông là một người thâm trầm, hiểu sâu học rộng…Dù sao th́ ông cũng đă vượt thoát được đau khổ và t́m ra cho ḿnh một con đường. Một ngày nào thoát khỏi gông cùm CS, nếu tấm thân tàn phế của ông c̣n hơi thở, th́ biết đâu khối óc phong phú và tĩnh đạt của ông sẽ không giúp ông trở nên bất tử trong ḷng mọi người, v́ những điều chứa đựng trong đó sẽ có thể cho chúng ta những hiểu biết về lịch sử VN — trong thế hệ chúng ta — một cách xác đáng nhất, tường tận nhất, đáng suy gẫm nhất v́ sao chúng ta đă đau khổ triền miên trong cuộc chiến tranh tàn khốc dai dẳng vừa qua. Hay xa hơn nữa, biết đâu ông cũng có thể cho chúng ta một triết lư nhân sinh rút tỉa từ kinh nghiệm bản thân ông, khả dĩ giúp được nhiều người t́m ra sự an b́nh trong tâm hồn ở cuộc sống nhiều đau thương này. Tôi yên tâm phần nào về ông, v́ tôi biết, dù ông là kẻ chiến bại trong cuộc sống, nhưng lại là người chiến thắng chính bản thân ḿnh.

 

C̣n tôi, ông đă nói cho tôi biết bằng ánh mắt, là ông thương cảm cho tôi, v́ ông đă biết rơ tôi đă và đang c̣n mù mờ, quờ quạng trong đáy ngục, trong lưu đàỵ Tôi chưa nghĩ ǵ cho hôm nay và cho ngày mai hơn là phải sợ lao động nặng nhọc sáng nay hay sợ bị đói lạnh chiều nàỵ Tâm trí, tư duy của tôi là một thứ bong bóng. Tôi phải gặp lại ông, tôi phải học tấm gương của ông, phải biết nhận chịu cái đau buốt tận xương tủy, để nghiền ngẫm về lẽ sống và t́m cho ḿnh một con đường thích hợp nhất mà bước đi.

 

Từ ngày đó tôi định bụng hôm nào thuận tiện tôi sẽ đi t́m ông, v́ ông ở pḥng “cách ly” không phải lúc nào cũng tự tiện mà dến được, bọn cán bộ cấm ngặt mọi tù nhân đến đó. Trong mấy ngày liền, sau các buổi lao động xong về trại, tôi đi theo các bạn lănh cơm lên phạn xá, lảng vảng đến gần căn pḥng cách ly mong nh́n thấy ông để đến gặp, nhưng lần nào cũng trở về không. Rồi một buổi chiều tôi trở lại đó, từ xa tôi đă thấy ông sau xong cửa sổ, mắt đang nh́n ra xa xôi cao hơn bờ tường rào của trại trước mặt ông. Tôi muốn nh́n ông cho rơ hơn nên bước thêm mấy bước nữa rồi dừng lại. Một chập rất lâu, ánh mắt ông vẫn thế, không thay đổi hướng. Ở hướng đó, mặt trời chiều đă xuống thấp, nắng đă nhạt, mấy áng mây thật mỏng, ráng hồng, c̣n vơ vẩn, rồi bị gió xé nát ra.  Tôi chợt thấy ông rùng ḿnh. Tôi tự nghĩ : Chẳng lẽ ḿnh nhầm hay sao khi nhận xét về ông ở buổi đầu tiên.

 

Không do dự nữa, tôi bước đến gần, đứng ngoài sân, trước hành lang, chào ông và khẽ hỏi :

 

- Chào Thầy, hôm nay Thầy có khoẻ hơn không ?

Ông quay lại nh́n tôi, nhẹ gật đầu nhưng không trả lời. Đôi mắt ông lại hướng về góc trời có một bóng mây vừa tan, một thoáng như mờ đi, như nghĩ ngợi, rồi chợt sáng hẳn ra nh́n thẳng hơn vào mắt tôi. Thôi, Thày ơi ! Tôi đă hiểu rồị Tôi đă hiểu trong ḷng Thầy nghĩ ǵ và Thầy muốn ǵ ở tôi. Ḷng tôi trong một phút cảm thấy đau điếng. Tôi có nên nói đến những điều này cho các bạn nghe hay không ? Liệu các bạn có tin rằng tôi nói bằng sự thật, bằng tấm ḷng của tôi hay không ? Thôi th́ tôi cứ nói. Ông đă cảm nhận được định mệnh của ông rồi.  Hơn ai hết, ông hiểu rơ t́nh trạng sức khoẻ của ông. Ông chỉ sợ ḿnh như ráng mây mong manh kia, sẽ phải tan ră mất đi vội vàng. Thời gian quí báu không c̣n nữa đối với ông, ngọn đèn hắt hiu trong tim ông sắp tắt, nhưng ngọn lửa lớn trong óc ông, đang rực sáng, không có chỗ thoát ra.  Bốn bức tường của nhà giam này thật cay nghiệt; cái hoài băo của ông, niềm ấp ủ đă h́nh thành trong tâm năo ông cũng sẽ tan biến mà thôi.  Ông không sợ bản thân ông bị tiêu hủy, ông chỉ sợ những điều đó bị tiêu diệt, tôi nghĩ như vậy. Với ánh mắt nh́n thẳng vào mắt tôi, tôi nhận ra h́nh như ông muốn ủy thác cho tôi một việc ǵ đó sau này — khi tôi ra khỏi 4 bức tường của trại giam — chẳng hạn như sẽ thay ông viết lên những ǵ mà ông muốn để lại cho những thế hệ tương lai. Nếu quả thật điều này tôi đoán đúng, tôi cam đành chịu sự thất lễ đối với ông. Dù tôi hiểu ông, nhưng làm sao tôi có thể hiểu tường tận những ǵ tách bạch định h́nh trong tư tưởng của ông. Ông đă nghĩ ǵ, ông đă biết những ǵ — hẳn nhiên là phải rộng lớn và khúc chiết  — ông muốn viết những ǵ, làm cách nào tôi có thể biết được. Vả lại, những thứ ấy là những điều mà ông phải phấn đấu thật cam go với bệnh tật, với chính ḿnh bao nhiêu năm trời, chịu đựng vô vàn đau đớn tủi nhục từ thể xác đến tâm năo mới có được. Nó là của riêng ông. Làm sao tôi có thể cảm nhận được hết, khi mức độ thương đau của tôi có hạn định; làm sao tôi có thể viết những điều ấy thành lờịi. Sở năng của ông là viết sử. Ngay ở công việc này, nếu tôi có hiểu biết một đôi điều, th́ với khả năng của tôi, tôi cũng không thể thay ông mà viết nổi hết cái cao xa rộng lớn của ông, cái sâu sắc phong phú của ông, cái chiết trung tinh túy của ông, cái kinh nghiệm dồi dào của ông về những ǵ phức tạp nhất, nhiêu khê nhất, khuất lấp nhất của lịch sử ở thời đại nhiễu nhương này.

 

Nếu tôi cần thời gian để có được những ưu điểm trên đây như ông, th́ sẽ bao lâu? Có lẽ suốt đời đến khi nhắm mắt, tôi cũng không có được. Hôm trước tôi gọi ông bằng “Thầy” để tránh tiếng gọi bằng cấp bậc đă trở thành “không thích hợp” nữa. Hôm nay, tôi cũng gọi ông bằng chữ đó, cùng nghĩa.  Xét cho cùng, tôi chưa đáng là học tṛ của ông trên nhiều phương diện. Tôi đành cam chịu sự bất lực rồi. Cái hy vọng giữ được cuộc sống của ông thật mong manh, cái hy vọng giữ sự hiểu biết trong trí năo ông cũng không thể có, rồi cát bụi sẽ trở về với cát bụi mà thôi…Bỗng nhiên tôi nghe mấy giọt nước mắt lăn trên má tôi. Ông nh́n tôi lặng lẽ thở dài rồi quay đi.

 

Tôi trở về pḥng giam của ḿnh với tâm trạng buồn bă, mệt mỏi. Tôi muốn làm vui ḷng cố nhân, muốn làm tṛn bổn phận với một cấp chỉ huy tôi quí trọng, nhất là khi ông đang ở trong hoàn cảnh khốn cùng, nhưng tôi biết tôi kém tài, thiếu khả năng để khả dĩ hoàn thành sự kư ủy của ông. Sau buổi chiều đó, lại một đêm và nhiều đêm khác nữa tôi mất ngủ. Dù ông muốn hay không, tôi cũng thương cảm cho ông, xót xa cho ông. Niềm trắc ẩn của tôi không ngoài việc tôi biết ông cảm thấy sức khoẻ của ông đă cạn, ông biết ông sẽ không thể — bằng cách nào đó, phổ cập được những ǵ đó thật hữu ích đă kết tinh trong năo tủy của ông qua những tháng ngày đau khổ. Niềm hy vọng cuối cùng là kư thác những điều đó cho một ai đó có khả năng, cũng đă bị giập tắt. Sự cô đơn của ông bây giờ đă hoàn toàn, tất cả đă quay lưng lại với ông. Bên ông có lẽ chỉ c̣n Thượng Đế là vị an ủi, là vị cứu tinh cuối cùng mà thôi.  Con người đă không c̣n trong tầm mắt và niềm hy vọng của ông nữa, măi măi…

 

Sau đó không lâu, một buổi tối, bọn cán bộ trại tổ chức buổi chiếu bóng ngoài trời cho tất cả tù nhân xem ở cái sân rộng lớn giữa trại. Đêm ấy, trời đầy trăng sáng trong sương đêm loang loáng của mùa đông. Hơn 1,000 tù nhân được xếp hàng ngồi theo đội của ḿnh trong sân. Tuy nhiên, mọi người khi cần thiết cũng có thể tách ra đứng lên đi tiểu ở một vài nơi mà CS đă chỉ định trước. Một nơi như vậy nằm bên trong bờ tường của phạn xá. Đây là cơ hội may mắn cho tôi . Khi phim chiếu được chừng một giờ — phim ǵ đó, tôi không c̣n nhớ — tôi đứng lên đi về phía ở bờ tường vào phạn xá, đến chỗ đi tiểu.  Nh́n không có ai, tôi bước thêm mấy bước nữa, dừng lại. Chỗ tôi đứng chỉ c̣n cách căn pḥng nơi ông ở không đầy 10 bước. Tôi không có ư định gặp ông, chỉ muốn nh́n thấy ông mà thôi, và tôi đă nh́n thấy.  Ông đứng bên trong cửa sổ, ở đó có ánh đèn le lói hắt ra, đang nh́n lên khung trời đầy ánh trăng bàng bạc trong sương. Giờ đó cũng gần khuya, ông vẫn thức, đứng nh́n trăng, nh́n trời. Tôi đă hiểu rơ hơn tâm sự của ông. Tôi đứng nh́n ông một lúc khá lâu, rồi sợ bị bọn cán bộ bắt gặp, tôi quay trở ra về chỗ ngồi của các ban cùng đội và không xem ǵ được nữa ở những thước phim tuyên truyền c̣n lại. Tôi lơ đăng ngắm nh́n những v́ sao xa xa, ngắm vầng trăng nhàn nhạt trên nền trời nhiều sương lành lạnh, diệu vợi, buồn man man. Đêm trăng là khung trời của Hàn Mặc Tử, vầng trăng và ánh trăng là thơ của Hàn Mặc Tử, không phải của ông. Ông không là một thi nhân, ông là một nhà viết sử. Trăng đă thức trong máu để Hàn Mặc Tử làm thơ và ngâm thơ. Trăng đă thức trong máu của ông, chỉ để ông thấy nỗi cô đơn của ông thấm đậm hơn mà thôi.

 

Hàn Mặc Tử, ở những ngày cuối cùng của cuộc đời, c̣n nói lên được, c̣n viết lên được những điều muốn nói, những điều muốn viết, trong sự yêu chiều an ủi của một người đẹp yêu ông. Ông ta thật có diễm phúc so với nhà viết sử Phạm Văn Sơn. Vị sử gia của tôi trong những giờ phút cuối cùng này c̣n có ai đâu.  Ông bị cách ly thân thể, bị chối bỏ t́nh cảm, tuyệt nguồn tâm sự đến trơ trọi cả linh hồn.

 

Ngày xưa, vua Hezekiah của Do Thái — trong Thánh Kinh — hơn mười mấy năm bị phong hủi cũng không cô đơn bằng ông, v́ ông vua này vẫn sống trong hoàng cung lộng lẫy với hằng trăm cung tần mỹ nữ hầu hạ. Có lẽ chỉ một người chịu sự cô đơn như ông là một vị bác sĩ nào đó — một nhân vật có thật — trong tác phẩm “Kẻ Độc Hành” (Man Who Walks Alone) của một nhà văn Mỹ, tôi đă quên tên, đă hy sinh suốt quăng đời đẹp đẽ nhất của ḿnh, t́nh nguyện đến một phương trời xa, phục vụ một trại hủi để chữa trị bệnh nhân bằng sự hiểu biết và ḷng tận tâm của ḿnh, cho đến một ngày chính ông ta bị truyền nhiễm chứng bệnh nan y này . Khi trở lại quê hương, ông lại bị hất hủi, bị bỏ quên, cô đơn như một kẻ độc hành trong cơi đời thường như hoang vắng. Dù sao vị bác sĩ đó cũng đă làm tṛn thiên chức của ḿnh, đă hưởng được sự tự do để suy gẫm về cái triết lư của cuộc sống. C̣n ông, nhà viết sử của chúng ta, ông đă cô đơn bốn bề ở kiếp con người; loài người dưới đất quên lửng ông, trăng sao trên trời xa lạ với ông. Ông là kẻ cô đơn nhất trong loài người…ở những giờ phút sau cùng.

Đêm trăng này hay bao nhiêu đêm trăng nữa sẽ cho ông nh́n thấy ǵ, hay ông chỉ nh́n thấy sự hoang mạc đến tận cùng của cuộc đời ông trong những ngày c̣n lại.  Hay hơn thế nữa, ông sẽ nh́n thấy nỗi tuyệt vọng vừa nhen nhúm trong tâm sự ông, về sự không thể làm tṛn thiên chức của ḿnh, sẽ lớn dần lên, sẽ c̣n đày đọa ông không biết bao lâu nữa. Đêm không ngủ dưới trăng kia có ích lợi ǵ cho ông không…

 

Th́ ra tâm sự con người thật phức tạp trước những sự kiện tưởng chừng như vô t́nh nhất, giản dị nhất.

 

Lần đầu tiên sau khi gặp lại ông, tôi tưởng ông đă yên tâm v́ đă t́m cho ḿnh được một con đường, một chân lư, đến độ khi nh́n ông tôi cũng cảm thấy yên tâm. Hôm nay, bởi những sự kiện mới mẻ tưởng như vô t́nh, tôi mới biết ông vẫn c̣n ưu tư khoắc khoải, nên ḷng dạ tôi xốn xang vô cùng. Tôi đă ngu muội và thật thà ở buổi chiều hôm trước, v́ vô ư thức, tôi đă đẩy t́nh trạng cô đơn của ông đến cao độ nhất, bởi sự phản ứng tự nhiên, chân t́nh bằng mấy giọt nước mắt dại khờ, non nớt, rơi không đúng chỗ, đúng lúc.

 

Một giọt nước đă làm tràn miệng bát. Đáng lẽ tôi phải tế nhị giữ nó lại, t́m cách an ủi ông. Biết đâu niềm hy vọng vẫn c̣n là ngọn lửa, tuy nhỏ nhoi, cũng sưởi ấm ḷng ông để ông cảm thấy ḿnh vẫn c̣n người tri kỷ, không cô đơn, c̣n có ư nghĩa với mọi người. Biết đâu như vậy sẽ làm cho ông yên tâm hơn. Dù cái chết có đến với ông, bằng cách nào đi nữa, ông cũng cảm thấy ấm cúng trong tâm hồn. Niềm trắc ẩn xốn xang này đă trở thành sự hối hận triền miên trong tôi suốt 15 năm qua, chưa có dịp bộc lộ cùng ai.  Tôi thật khổ tâm. Lúc đó, tôi thầm cầu nguyện Thượng Đế xui khiến cho những người CS thấy rơ chứng bệnh vô cùng hiểm nghèo, nguy ngập của ông mà tha cho ông ta, cho ông được trở về với gia đ́nh. Đó là con đường duy nhất cứu được ông, cứu được cái hoài băo mà ông từng ôm ấp bao nhiêu năm qua.

 

Tôi đă thất vọng, ư trời không phải là ư ngườị. Cộng Sản chỉ hủy diệt những nhân tài đối lập, không bao giờ nhẹ tay với một ai.

 

Rồi việc ǵ phải đến, đă đến.

 

Một ngày, chưa hết mùa đông, đầu năm 1980 (tôi không nhớ chính xác ngày tháng), buổi sáng sớm lất phất một cơn mưa phùn nhỏ, trời lạnh và đục, người ta đă đánh kẻng tập hợp tù nhân các đội ra ngoài sân để tuần tự cho xuất trại đi lao động như thường lệ.. Bấy giờ tôi ở trong đội cưa xẻ gỗ súc. Đội chúng tôi ra hiện trường làm việc — là hai dăy nhà lợp tranh, chỉ cách cổng trại vài mươi bước — trong ṿng mấy phút. Mỗi cặp cưa gồm 2 người, tự động vào giàn cưa của ḿnh và xẻ những thân gỗ lớn thành những tấm ván dày hoặc mỏng dùng để đóng bàn ghế, vách nhà, sàn nằm trong trại, hay đóng ḥm chôn tù nhân, chết bởi nhiều cách, đa số là chết v́ bệnh và kiệt sức.

 

Chừng chín giờ rưỡi hay mười giờ hôm đó, tôi đến nhận phần sắn phụ trội (đội cưa xẻ thuộc loại lao động nặng, có thêm một phần ăn phụ trội ở giờ giải lao, nhưng bất thường) vừa định quay về giàn cưa ḿnh th́ anh bạn hôm trước đi lănh cơm với tôi, hôm nay vừa đi lănh sắn ở nhà bếp, nói nhỏ vào tai tôi :

 

- Tin buồn !

 

Tin buồn có nghĩa là trong anh em của chúng tôi có thêm một người vĩnh viễn nằm xuống, cũng có nghĩa là đội của chúng tôi phải xẻ thêm những tấm ván để đóng chiếc ḥm tạm bợ bọc xác bạn bè, một điều không ai muốn, nhưng ai cũng t́nh nguyện làm để biểu lộ ḷng thương xót với người đă ra đi.  Biết đâu rồi ngày nào cũng đến lượt ḿnh. Tâm lư trái ngược đa đoan là thế đó.

 

Tôi nghe anh nói xong, định hỏi xem là ai, nhưng anh đă bảo tôi :

 

- Đi đi…!

 

Trở về chỗ, vừa ngồi xuống đă thấy anh theo đến, ngồi sát bên, nói vừa đủ cho tôi nghe :

 

- Đại tá Sơn, “xếp” của anh, chết rồi !

 

Tôi sững sờ, tưởng chừng như ai tạt một gáo nước lạnh vào mặt, hỏi lại anh :

 

- Anh nói…chết rồi, tại sao, hồi nào ?

 

Anh buồn bă thuật lại câu chuyện anh vừa nghe ở nhà bếp :

 

- Sáng nay, sau khi các đội đă xuất trại hết, “tụi nó” ra lệnh cho ông đem giỏ ra sân mang than đá vào bếp trại như những ngày trước. Không biết ông bưng vác đến giỏ thứ mấy th́ kiệt sức, hộc máu tươi, ngất xỉu bất tỉnh. Khi chúng hay được cho mang ông lên bệnh xá th́ mấy phút sau ông mất; cả người nhầy nhụa máu me, h́nh như bao nhiêu máu mủ trong các phần thân thể lở lói tuôn tràn ra hết…

 

Anh nói tiếp :

 

- Giờ này có lẽ họ đă đem ông xuống nhà xác rồi !

 

Anh lặng lẽ bỏ đi, không nói thêm ǵ nữa.

 

Tôi như một kẻ mất hồn. Tôi đă hiểu. Từ lâu nay, thỉnh thoảng chúng tôi thấy một chiếc xe tải chở vào trại loại than đá vụn vo thành viên tṛn to như những trái “poids” lớn, dùng làm chất đốt ở bếp. Mỗi lần như vậy, họ đổ than đá ở phần sân ngoài bức tường, trước cửa vào nhà bếp. Bọn cán bộ ra lệnh cho ông hằng ngày dần dà chuyển hết những đống than đá đó vào bếp, trừ trường hợp trời mưa, phải chuyển gấp chúng cho người phụ. Như vậy, một người bệnh trầm kha như ông vẫn bị chúng vắt sức lao động đến giọt máu cuối cùng. Hôm nay ông đă ngă xuống như trăm ngàn nạn nhân khác dưới chủ trương giết người siêu dă man này trong các trại giam của Cộng sản Việt Nam.

 

Sau buổi giải lao, tất cả anh em trong đội cưa xẻ đều biết về cái chết thảm thương của ông. Ông đă mất rồi về cơi thiên đường đă mang theo sự chịu đựng và hiểu biết của ông, vốn dĩ không hề tưởng là đă có trong con người mang nhục thể. Cái ǵ của Thượng Đế trả về cho Thượng Đế. Người ta ra lệnh xẻ gỗ đóng quan tài cho ông. Tôi nhận việc ấy với những giọt nước mắt chảy dài trên má. Chỉ c̣n một chút đáp đền này thôi, hỡi cố nhân ơi…

 

Nguyễn Văn Dưỡng

 

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính