Một chuyến về Nam với cái c̣ng số 8

 

Nguyễn Trăi

 

 

Tôi được chuyển từ Trại Mễ Phủ Lư vô trại A Hà Nam Ninh, Trại này được gọi là trại mẩu của Bộ Nội Vụ gồm có nhiều trại nhỏ hơn nằm xung quanh.

 

Cũng là thành phần “sứt càng găy gọng”, là thành phần bị bệnh khoảng gần một trăm người, nên chi được dồn hết vào buồng 8, một buồng sáng ra được mở cửa cho tù ra ngoài sân buồng, đến chiều th́ nhốt lại vào trong, không phải đi lao động.

 

Ở đây tôi được nhốt chung với nhiều Đại Tá, Trung tá, đặc biệt có cựu Trung Tá Thiết Giáp Bùi Thế Dung là Thứ Trưởng Quốc Pḥng trong Chính Phủ ba ngày của Dương Văn Minh. Tôi nằm sát cạnh ông trong cùng chiếc giường hai tầng.

 

Chúng tôi nằm tầng dưới chỉ có hai chiếc mùng (người Miền Bắc gọi là cái màn) ngăn đôi nằm sát bên nhau nên ông nói nhỏ vào tai tôi “Tôi nói cái này, mai kia nếu anh có về, anh nhớ nói lại cho đồng bào ḿnh biết một sự kiện bí mật trong Dinh Độc Lập của những ngày cuối cùng”.

 

Tiếng nói của ông th́ thào rất nhỏ làm như sợ người khác nghe được, càng tăng thêm mức độ bí mật của câu chuyện. Tôi cũng tự thấy ḿnh như có nhiệm vụ truyền tải lại mọi người.

 

Ông ta nói về lư lịch và nguyên nhân ông đi du học Hoa Kỳ khoá Cao Đăng Quốc Pḥng, năm 1974 về nước rồi ngồi chơi xơi nước. Ông ta bắt đầu vào chuyện Đại Sứ Pháp chuyển tin từ Trung Quốc muốn VNCH lên tiếng chính thức trên truyền thông quốc Tế yêu cầu Trung Quốc đưa quân vào đánh bật quân đội CS Bắc Việt đang tràn ngập Miền Nam. Ông Bùi Thế Dung nói về suốt một đêm thức trắng cùng ông Đại Sứ chọn vùng vẽ phóng đồ cho quân Trung Quốc đổ bộ.

 

Tôi không ngờ có một sự kiện lạ lùng ấy tưởng như là trong tiểu thuyết mà không có thực. Thế rồi ngày tháng đi qua với bao nhiêu sự kiện dồn dập xảy ra trong trại A Hà Nam Ninh, cho đến một này bọn cai tù thông báo “Các anh chuẩn bị hành quân” .

 

Thực ra khi biết được tin chính thức th́ trước đó cả buồng chúng tôi cũng đă nghe tin hành lang rằng mấy đợt trước họ đă chuyển vào Nam bằng xe lửa.

 

Lần này “Hành quân” như một niềm vui, v́ ít ra cũng trở lại Quốc gia của ḿnh, nếu có phải c̣n trong tù nữa th́ cũng thấy gần gũi người của ḿnh hơn.

 

Bản thân tôi nghe tin hành lang liền chuẩn bị may một cái túi bằng vải chiều dài 40 centimet, chiều rộng 20 centimet, vừa đủ để bỏ một cái mền làm đủ nặng để khi xe lửa chạy ngang sau lưng nhà tôi tại Nhatrang, tôi sẽ ném xuống.

 

Cái mền chỉ có công dụng làm nặng vật ném xuống, c̣n cái ǵ được ném báo tin cho gia đ́nh th́ sẽ viết sau khi lên tàu lửa.

 

Nghề của tôi trong tù ở trại Phủ Lư là chuyên viết thư trên vải, may vào áo rồi gởi ra khi thăm nuôi mục đích cho gia đ́nh biết sự thực trong tù. Tôi đă gởi nhiều lần đều trót lọt, nhưng cũng có một lần “suưt chết”.

 

Khi tập họp trước sân trại, “Ban Chỉ Huy Trại” chính thức công bố “Các anh sẽ chuyển vào Nam”, và nghiêm cấm những hành động vi phạm được ban hành, nào là tuyệt đối tuân thủ mệnh lệnh cán bộ trên tàu trong lúc di chuyển. Cấm tuyệt đối không mang theo viết giấy, họ đă lục soát rất kỹ “quân tư trang” từng người.

 

Tôi đă hiểu họ muốn ǵ và tôi cần làm ǵ, nên cái mền th́ đă có sẵn, vải để viết cũng đă xé sẵn, cái túi vải th́ làm như là vật dụng đựng đồ dùng cá nhân khi di chuyển, mấy miếng vải trắng trống trơn xem như khăn lau.


Họ xem chừng chú trọng đến bút viết, và nhắc đi nhắc lại nhiều lần cũng như khám rất kỷ để t́m cho ra giấu bút viết ở đâu. Tôi có một cái túi xách tay ngày nhập trại Trường Đại Học Phú Thọ đă mang theo, cái túi có một đường viền chạy dọc theo đáy túi. Tôi lợi dụng đường viền này, rút ruột cây bút nguyên tử và lận vào đường viền ấy. Ruột viết nguyên tử bằng nhựa cũng mềm mềm như đường viền đáy tuí. Bọn khám xét không tài nào t́m ra.


Rời trại Nam Hà bằng xe molotova, chở đến ga xe lửa lúc ba bốn giờ chiều. Trên một băi đất trống họ lại chưa yên ḷng, cuộc khám xét diễn ra một lần nữa, đặc biệt cũng chỉ chú trọng đến giấy bút viết.

 

Tôi thật bất ngờ khi bọn Công An dùng cái khoá tay bằng sắt tự chế thô sơ, khoá hai người vào một khóa. Tôi biết phải dùng tay phải để viết thư trên tàu, nên đề nghị người bạn khoá tay phải của họ vào tay trái của tôi.

 

Th́ ra, những chuyến về Nam trước đây, bọn cai tù sơ ư chuyện khám xét này nên khi đoàn tàu vào các sân ga từ trong vĩ tuyến 17 trở vô , tức là vào lănh địa của VNCH, các nguời tù tha hồ gởi thư tay viết vội cho các đồng bào tại các ga ào lên thăm hỏi, cho tiền, khóc, trao đồ ăn; một cảnh tượng bất ngờ làm các Công An áp tải tù không phản ứng kip.

 

Cũng từ các thư rơi nhờ đồng bào chuyển bằng bưu điện hay tự tay mang đến tận nhà này mà gia đ́nh các người tù biết được rất nhanh thân nhân của ḿnh đang về Nam.

 

Rút kinh nghiệm những lần truớc, họ khám xét bút giấy rất gắt gao, khi tàu đến sân ga nào phải dừng lại tránh tàu chạy ngược chiều, các cán bộ Công An ḥ hét từ đầu toa đến cuối toa bắt đóng cửa sổ toa xe.


Chuyến tàu của tôi xuôi Nam thật may mắn, khi chạy trên sông Bến Hải, con sông ngăn đôi nước Việt trước 1975 đúng vào giờ giao thừa, Ḷng tôi xúc động ngậm ngùi và như tin vào một điều may mắn cho Năm Mới. Đúng vào giờ phút thiêng liêng ấy, các bánh xe dắt con tàu lăn trên vùng đất Quê Hương của ḿnh.

 

Tôi bị xui xẽo là người bạn khoá tay với tôi bị tiêu chảy quá cỡ, thế là mỗi khi anh ấy đi toilet th́ bắt buộc tôi phải đi theo. Mà toilet trên tàu lửa quá chật, tôi cũng phải đành đứng chịu trận ngửi mùi suốt mấy ngày mỗi khi anh ấy cần đi toilet. Bị tiêu chảy th́ đi hoài đi hoài tôi cũng phát cáu. Khổ cái thân tôi là phải chống nạng mỗi khi di chuyển.

 

Khi xe ngừng lại tại Ga Quăng Ngăi , người dân đă biết trước tự bao giờ nên ùn ùn kéo ra đón, họ đón bằng những giọt nước mắt tràn ḷng thương mến, họ như t́m kiếm thân nhân của họ có trên xe này không, họ như muốn nh́n tận mắt bao con người, bao đồng bào ruột thịt của họ đă bị giặc thù đày ải mấy năm nay.

 

Tất cả gần như ai cũng muốn khóc hay đă khóc từ trên tàu cho đến người dân đứng dưới đất. Họ lắm lét nh́n ngang nh́n dọc chạy vội tới khi cánh cửa sổ bổng kéo lên. Họ nhét vào tay mớ tiền, mấy cái bánh chưng. hay bịch cơm nắm nấu vắt lại.

 

Ôi t́nh thương của đồng bào dành cho người tù cao cả quá, vĩ đại quá. Bao nhiêu năm khổ ải trong tù, chúng tôi được đền đáp bằng những t́nh cảm như thế này làm quên hết đắng cay khổ lụy.

 

Những lần chuyển vào Nam trước họ không nghĩ ra đồng bào thương đến như vậy nân không có lệnh đóng cửa sổ và khoá các cửa lên xuống. T́nh cảm của đồng bào dành cho như thế này, chúng tôi sung sướng đến ứa nước mắt và đó chính là chất kích thích tố tạo thêm nhiều nghị lực cho những tháng năm sắp tới trong tù.


Không biết ḿnh phải diễn tả những cảm xúc nghèn nghẹn nơi cổ họng như thế nào khi nh́n tận mắt sự thương yêu lo lắng hiện rơ lên từng nét mặt, từng cử chỉ hành dộng của người dân đứng đầy nghẹt hai bên con tàu khi từ từ tiến vào sân ga.

 

Ḷng thương của đồng bào ḿnh vẫn chan chứa không như bọ đă tuyên truyền láo khoét rằng dân sẽ ném đá vào các anh y như họ đă dàn dựng khi bắt đầu tiến ra Bắc.

 

Tôi xúc động thật mạnh, nó như liều thuốc bổ ngấm dần vào cơ thể đối với cuộc sống cùng cực của thân phận người tù hiện tại.


V́ bọn áp tải tù không đủ nhân lực nên không thể nào kiểm soát nổi hết các cửa sổ toa tàu. Bọn nó đến đầu toa th́ cuối toa được kéo cửa lên, và đồng bào được dịp áp sát con tàu.


Tôi đă có định sẵn ném túi xách xuống sau lưng nhà cha mẹ ruột khi con tàu rời sân Ga Nha Trang vài phút, nên tôi không gởi thư tay cho người dân tại đây. Chuyến tàu của chúng tôi ngừng tại Ga Quăng Ngăi lâu quá, đâu chừng hơn cả giờ, có lẽ chờ tàu ngược chiều đến. Dó là thời gian rất thuận tiện cho các bạn tù gởi thư nhắn về gia đ́nh qua bưu điện.


Khi đoàn tàu bắt đầy rời sân ga Quăng Ngăi cũng là lúc tôi bắt đầu viết thư báo tin cho gia đ́nh tôi biết: tôi đang chuyển vào Nam. Thư viết trong khi xe lửa chạy rất là khó v́ sự lắc lư của con tàu và đặc biệt là sự kiểm soát của các công an liên tục đi tuần qua lại trên tàu.


Chúng tôi được ngồi trên một băng ghế hai chỗ và đối diện với hai người tù trước mặt; phải viết từ bây giờ cho đến khi đến Ga Nha Trang th́ phải chấm dứt, v́ từ Ga Nha Trang chạy vô Sài G̣n, nhà tôi chỉ cách ba cây số rưởi từ sân ga.

Màn đêm buông xuống khi c̣n tại Quăng Ngăi, xe chạy măi tới 4 giờ sáng hôm sau mới đến Nha Trang, vậy là tôi có suốt một đêm để viết lá thư cho Ba Má tôi. Thư viết trên vải trắng của cái áo gối mang theo từ hồi mới tŕnh diện Trường Đại Học Phú Thọ.

 

Trong tù hay trên xe lửa, cũng không tin đưọc ai v́ sợ họ báo cáo lập công để trở thành “người học tập tốt được Cách Mạng Nhà Nước khoan hồng cho về sớm”; cho nên tôi phải giữ ư và viết thư trong một t́nh trạng lén lút. Chẳng những sợ mấy tên Công An đi tuần th́ chớ, mà c̣n sợ bạn tù biết được.

 

Dùng một cái mền đắp lên người và cả lên tấm vải, cây bút nguyên tử chỉ có ruột mà vỏ đă bỏ đi từ khi c̣n trong trại Nam Hà A. Cái mền kéo khỏi tay ra khi người Công An vừa đi qua, viết được vài chữ lại phải ngưng lại và phủ kín bàn tay. Cứ như thế mà măi gần đến Ga Nha Trang mới xong cái thư ngắn.

 

Nội dung thư cũng không thể nói điều ǵ “phản động” v́ c̣n ngại lọt ra tay công an, mà chỉ thông báo cho gia đ́nh biết t́nh trạng sức khỏe bê bết của ḿnh cùng với ư chính đang trên đường chuyển vô Nam, mà không biết dừng ở đâu. Tôi tin tưởng Ba Má và gia đ́nh tôi mừng lắm khi bắt được tin này.

Xe ngừng tại ga Nha Trang khá lâu, khoảng hai giờ đồng hồ th́ lăn bánh vô Nam. Đây là thời gian đủ cho tôi bỏ cái thư bằng vải vô trong chiếc tuí xách cũng mới may bằng vải đă có cái mền làm cho dễ ném xuống đất khi xe đang chạy.


Bên ngoài cái tuí xách vải ấy đă may sẵn một miếng vải màu trắng để viết tên người nhận. Phải cẩn thận chưa viết ǵ hết, mà chỉ chắc chắn sắp ném xuống mới viết lên: “Ai nhận được túi này xin vui ḷng mang đến nhà anh Nguyễn Lợt”.

 

Có một con đựng cái quan lớn, con đường chính của làng tôi nằm cạnh nhà, nhà th́ quay lưng ra đường rầy xe lửa nên không thể ném vào hướng ấy; Tôi phải canh chừng xe chạy đúng đến con đường cái quan th́ ném nó xuống về phía dối diện nhà tôi bên kia đường. Đó là nhà một người hàng xóm mà cái sân nhà sát đường rầy.


Phải công nhận tài của ḿnh tính toán khá chính xác, Phải ném làm sao cho vật rơi xuống bị cuốn hút theo với tốc độ của xe lăn đi một đoạn khá dài. Tôi nh́n thấy rơ cái túi chui hẳn vô sân người hàng xóm ấy, mà lát nữa đây người quét sân nhà sẽ nhặt được.


Gia đ́nh tôi vui biết dường nào khi hay tin tôi đă vào Nam, dù rằng chưa được thả ra, cũng yên ḷng con ḿnh, chồng ḿnh đang “thiệt gần” với ḿnh, tiện cho việc đi thăm nuôi nếu có.


Gần chiều th́ đoàn xe dừng lại ga Dầu Giây, và bị lùa xuống để lên xe molotova chở về trại Hàm Tân Z30 C. Phải hơn một tháng sau mới cho viết thư báo tin và cho gia đ́nh thăm nuôi.


Ba Má tôi nóng ḷng lâu không gặp nên “thương lượng” với vợ tôi để Ba tôi và người chị dâu từ Nha Trang vô Hàm Tân thăm lần đầu. Vợ tôi từ Sài G̣n phải chờ sau một tháng nữa mới tới phiên.


Cũng giống như ngoài Bắc, sau khi bị tai nạn lao động chấn thương thần kinh toạ cốt, bị liệt chân phải té từ trên núi cao khi đi chặt cây ở núi Hoàng LIên sơn; tôi không c̣n đi lao động nữa, mà phải chống nạng khi di chuyển. Vậy là về trại Z 30 C cũng chỉ trùm mềm ngủ mỗi khi đến giờ anh em đi lao động.

 

Mỗi người bạn khi đi ngang qua chỗ tôi nằm đều nói: “Nguyễn Trăi không c̣n nữa”… ; “Nguyễn Trăi không có trên cơi đời này”.. người khác có câu khác: “Nguyễn Trăi đă tiêu diêu miền cực lạc…” Nói xong th́ cười khoái chí và đó là niềm vui của họ mỗi ngày cho quên đời sống lao tù khổ ải.


Cũng vào một buổi trưa, sau khi các anh bạn tù đă vừa ra khỏi cổng trại để đi lao động, tôi vẫn c̣n một thói quen nằm trên “cái sạp bằng xi măng” dài từ cửa vào cho tới cuối “lán”, “cái sạp” thấp chừng năm tấ , làm chỗ ngủ và cũng là chỗ ăn cơm cho mọi người. Cái sạp có một đường luồn chính giữa làm đường đi.


Sau khi các anh em đă đi ra khỏi pḥng, tôi đắp chiếc mền phủ kín đầu như muốn tách rời ánh sáng chói mắt và muốn ngủ tiếp. Tôi không bị đi lao động v́ thương tật đă gần sáu năm từ khi c̣n ngoài Bắc.


Một giọng nói gắt gỏng the thé thốt lên, một loại ngôn từ nạt nộ áp đảo người nghe mà tôi vẫn nghe quen tai từ khi chui vào cái gọi là “Trại Cải Tạo”

 

- Ai đây, sao không đi lao động?

 

Tôi biết ngay là một tên cán bộ quản giáo nào đó đang đứng dưới chân chỗ tôi đang nằm. Tôi lật tấm mền ra khỏi mặt một cách từ từ và trả lời:

 

- Tôi đây cán bộ, tôi bị bệnh không đi lao động được.

 

Giọng nói của tên quản giáo cố ư tăng âm lực lên thêm như cố t́nh uy hiếp tinh thần tôi. Hắn quát lớn: Bệnh ǵ?


V́ biết ḿnh có “bệnh án” thực sự đă được ghi trong hồ sơ từ khi được các Bác Sĩ dân sự tại bệnh viện Quảng Ninh vào trong trại giam khám bệnh cho các tù nhân bị bệnh từ Yên Bái chở về giam tại trại tù Quảng Ninh, cho nên tôi không phải là loại tù yếu bóng vía khai bệnh để tránh đi lao động. Tôi cũng nhát gừng trả lời chậm chạp: “Th́ cán bộ coi trong hồ sơ của tôi th́ biết”.

 

Rơ ràng tay này đă nghiên cứu hồ sơ của tôi từ ngoài Bắc chuyển vào đây, đă biết tôi bị bệnh như thế nào cho nên hắn không c̣n lên giọng uy hiếp tinh thần nữa.


Th́ ra tên này tôi chưa gặp bao giờ kể từ ngày đám tù chúng tôi cứ hai người một c̣ng chung với nhau khi được chuyển từ Hà Nam Ninh vào trại Z30 C Hàm Tân. Hắn như bị khựng lại, và chưa biết nói ǵ thêm, tôi liền đánh phủ đầu bằng một câu hỏi cắt cớ: “Vậy tôi chừng nào được về hả cán bộ?”

 

Như là dịp đưọc xổ những lời thuộc ḷng mà từ tên “thủ trưởng” cho đến những tay vệ binh quèn chuyên vác Ak dẫn tù đi lao động đều có một luận điệu y chang như nhau: “Th́ khi nào anh đạt được bốn tiêu chuẩn cải tạo tốt…..”
Chưa để cho tên này nói dứt câu tôi ngắt lời ngay: “Thôi, thôi tôi biết rồi cán bộ ơi…”


Hắn gắt to tiếng sừng sỏ: Anh biết ǵ biết ǵ..?


Tôi đă có bằng chứng rơ ràng từng trường hợp bạn tôi đă từng trốn trại mà vẫn về sớm, tôi mạnh dạn nói: “Này cán bộ nhé, bạn tôi ở ngoài Bắc, tháng nào cũng được b́nh bầu cải tạo tốt mà họ là đội trưởng, tổ trưởng nữa đó, nhưng họ vẫn tiếp tục đi theo tôi vào đây đây này. C̣n có những người đă từng trốn trại bốn lần vẫn được thả về sớm. Vậy là sao hả cán bộ. Đừng nói với chúng tôi bốn tiêu chuẩn cải tạo nữa”.

 

Bất ngờ bị phản ứng rất là đúng sự thật mà tay này nghĩ rằng không bao giờ có “cải tạo viên” nào dám nói ra. Hắn ú ớ giống như bị ngọng: “th́… th́ đó là những trường hợp cá biệt..” . Nói xong thấy như sự lừa dối của ḿnh bị vạch trần, hắn lặng lẽ bỏ đi không một lời nào thêm nữa.


Gần một năm sau, trong một buổi tập họp lên hội trường cả thảy hơn năm trăm người tù ngồi xơm dưới đất mà họ thường xài từ ngữ “lên lớp”. Họ thông báo danh sách các “cải tạo viên được Đảng và Nhà Nước khoan hồng cho về”. Trong số 76 anh em được đọc tên, gần đến chót nghe đọc tên tôi: Nguyễn Trăi. Ḷng tôi cũng thấy mừng nhưng lại được nghe tiếp ngay: “Đó như cái anh này này, về tư tưởng cũng có mặt này mặt khác, nhưng Đảng và Nhà Nước cũng xét và khoan hồng cho anh ta về”.

 

Tôi ngẫng đầu lên cố nhận ra người đang đọc danh sách chính là tên đă chất vấn tôi khi tôi đang ngủ trưa. Th́ ra hắn là cán bộ tư tưởng của Trại Hàm Tân Z 30 C.


Bảy mươi sáu người được thả lại bị dồn vào một lán riêng mà họ gọi là “cách ly” với những bạn tù khác và c̣n phải đi “Lao động Xă Hội Chủ Nghĩa 10 ngày” trước khi chính thức được về.

 

Ngày được thả, họ gọi chúng tôi lên bộ chỉ huy trại gọi là “khung” nhận lại “quân tư trang cũ của chúng tôi mang theo từ bảy năm trước, và mỗi người lảnh 25 đồng tiền “cụ Hồ” để đi đường.

 

Tôi, một tay chống nạng, một tay mang cái đàn guitar tôi tự làm ngoài Hoàng liên Sơn, vai mang cái túi xách đựng ba thứ cũ mèm kéo lê đôi chân có cây nạng gỗ phụ giúp từ trong trại Hàm Tân Z 30 C ra tới quốc lộ số 1.


Một chiếc xe than, xe đ̣ chở khách được cải biến chạy bằng than chạy ́ ạch, khi lên dốc Ông Đồn, mọi người trên xe phải xuống đẩy phụ. Sau bảy năm trở lại xă hội Miền Nam tôi mới nh́n được h́nh ảnh tụt hậu như thế này.

 

Hai chục đồng trại phát cho tiền đi đường chỉ vừa tới Dầu Giây th́ đă hết, tuy nhiên người lơ xe nói “tôi không lấy tiền thêm nữa của anh đâu”. Tôi hiểu ḷng người dân miền Nam c̣n rất thương những người tù cải tạo như chúng tôi.



Nguyễn Trăi

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính