T́m hiểu Kinh Thánh:
PHẦN I:
T̀M HIỂU LẠI
MỘT SỐ ẨN DỤ VÀ DỤ NGÔN
trong KINH THÁNH KI-TÔ-GIÁO
và LỜI CHÚA JESUS
-----------------
Lời nói đầu:
Kinh Thánh Ki-Tô-giáo, cả Cựu Ước và Tân Ước chứa nhiều Dụ ngôn và Ẩn dụ cùng một số lời đôi khi khó hiểu. Nơi đây, người viết chỉ xin t́m hiểu và giải thích một số thôi, nhằm tập trung tŕnh bày « Lẽ Tiến Hóa » nơi phần III sách nầy. Những giải thích nầy, một phần có thể ngược lại với những giải thích trước nay của Thần Học Ki-Tô-giáo ; rất mong được các vị Tu sĩ và các nhà trí thức nghiên cứu về Ki-Tô-giáo chỉ giáo cho những sai lầm, những ấu trĩ, lệch lạc nhưng xin qui d́u vào « Lẽ Tiến Hóa » mà Kinh Thánh cùng lời Chúa Jésus đề cập, điều trước nay chưa mấy được để ư..
Các Kinh Thánh được dùng trong tập nầy gồm:
1) Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước, tiếng Việt, Thánh Kinh của Hội Mỹ Quốc, Nữu Ước,
2) La Bible , traduit des Textes originaux hébreu et grec par Louis Segond, Nouvelle Édition de Genève 1979, bản tiếng Pháp,
3) Les Saintes Ecritures, traduction du monde nouveau, bản tiếng Pháp, New World Bible Translation Committee, New York 01/06/1984,
4) Le Nouveau Testament, Société biblique francaise, 2003,
5) Kinh Thánh (Tân Ước) tiếng Việt và tiếng Anh, bản nhuận chánh, Hội Ghi-Đê-Ôn quốc tế (published by The British & Foreign Society for the Gideons International, 1975),
6) Thánh Kinh Tân Ước, bản diễn ư, Lời Hằng Sống xuất bản 1987 (dùng trong Chương Tŕnh Niềm Tin – Hagen, West Germany).
Dĩ nhiên, phải cần đọc nhiều Kinh Thánh tiếng Araméen, Hy Lạp, Do Thái,…nhưng người viết không có những bản Kinh Thánh đó cũng như không đủ ngoại ngữ, cổ ngữ để đọc.
Về ‘Cựu Ước’, chúng tôi chỉ chú ư một số ẩn dụ. Về các Phúc Âm qua qua bốn Tin Lành của Mathieu, Marc, Lucas và Jean, có những sự việc được nhắc lại đầy đù (như những phép lạ của Chúa Jésus), nhưng cũng nhiều sự việc có nơi Tin Lành nầy mà không có nơi Tin Lành kia. Chúng tôi chú ư đến lời Jésus nhiều hơn. Giữa Cựu Ước và Tân Ước, chúng tôi nhận ra một số khác biệt như sau:
- Nếu Môi-Se là nhà Cách mạng của dân tộc Do Thái và Thượng Đế nơi Cựu Ước chỉ riêng cho người Do Thái, th́, theo chúng tôi, Jésus là nhà Cách mạng về mặt tư tưởng và Thượng Đế nơi các bản Tân Ước, qua lời Jésus, là Thượng Đế chung cho vạn hữu, chung cho cả loài người.
- Nếu Môi-Se chú trọng giải cứu dân Do Thái thoát khỏi những trầm luân, khổ nạn, tiến đến đoàn kết dân Do Thái hầu xây dựng một nuớc Do Thái vững mạnh nếu biết tuân theo ‘luật pháp’ của Đức Chúa Trời th́ Jésus nhận ra thực chất của cuộc sống thế gian để hướng dẫn nhân sinh tự giải thoát ḿnh khỏi đau khổ, tội lỗi theo chương tŕnh của Thượng Đế vạch ra cho loài người.
- Nếu Thượng Đế nơi Cựu Ước là Thượng Đế của ‘luập pháp’ chuyên chế, độc đoán, luôn luôn can thiệp vào hành động của con người bằng quyền uy, mệnh lệnh th́ Thượng Đế nơi các bản Tân Ước là Thượng Đế của Ân điển, Lẽ Thật, của T́nh thương, của Bác ái và Công b́nh..
- Môi Se chú trọng vào lịch sử dân tộc Do Thái th́ Jésus lại chú trọng đến diễn tiến tiến hóa của nhân sinh. Diễn tiến Tiến hóa đó là chương tŕnh Thượng Đế đă vạch ra cho loài người và được sự hướng dẫn của Thượng Đế qua vận hành của Ngài từ khởi thủy đến hồi chung cục trong suốt diễn tŕnh Tiến hóa của cơi hiện tuợng.
- Trong Cựu Ước, Thượng Đế được gọi bằng danh xưng Jéhovah th́ trong các Tân Ước, Jésus goi là Đức Chúa Trời hoặc Cha ta ở trên trời và tự xem ḿnh chỉ là đứa con truyền rao ư của Cha cho thế gian. Gọi Thượng Đế hay Đức Chúa Trời là ‘Cha ta’, không có nghĩa Jésus ‘hữu ngă hóa’ hay ‘nhân ảnh hóa’ Thượng Đế mà chỉ dùng một h́nh ảnh thân mật cho con người dễ tin thôi. (Cũng như người Việt chúng ta gọi ‘đất nước, Tổ quốc’ là ‘Mẹ Việt Nam’, có thể ám chỉ mẹ Âu Cơ theo truyền thuyết hay là người ‘Mẹ chung của dân tộc’ từ khởi thủy lập quốc đến nay và măi măi về sau).
Jésus không hoàn toàn đi ngược lại quan điểm nơi Cựu Ước tức truyền thống tín ngưỡng của người Do Thái nhưng mở rộng hơn và cải sửa khá nhiều những khe khắt cùng tính cách nghiêm nhặt, độc đoán của Thượng Đế nơi Cựu Ước để dành Tự Do cho con nguời. V́ thế, theo chúng tôi, Thượng Đế, qua lời Jésus, không hoàn toàn do Đức Tin thuần túy mà c̣n là vị Thượng Đế của T́nh và Lư. Chúng tôi hiểu Thượng Đế trên cả hai phương diện đó nên phát hiện Lẽ Đạo và ḍng Tiến hóa của nhân sinh và vạn hữu qua cả Cựu Ước lẫn Tân Ước.
Một điều người viết xin thêm dù đang c̣n là nghi vấn: « Suốt 17 năm vắng bóng tại Do Thái (từ 12 tuổi đến gần 30 tuổi), Jésus đă ‘chu du’ qua nhiều nước , đă rao giảng đạo, đă dừng lại khá lâu nơi Kabul (Afghanistan), Bénarès, Juggernaut, Rajagriha, Kapilavastu (Ấn Đô) rồi qua Lhasa, Ladhakh (Tây Tạng) ». Trong cuộc hành tŕnh đó, ngoài việc rao giảng Đạo ḿnh, người viết nghĩ, có thể Jésus đă tiếp xúc và ảnh hưởng Đạo giáo phương Đông, nhất là Phật giáo nên đă kết hợp tư tưởng cả Đông và Tây. Jésus, theo người viết, hẳn đă cải sửa một số điều đă được tiếp thu để tư tưởng bao trùm cả hai mặt Đức tin và tồn tại. Lối lập ngôn của Jésus, qua các bản Tân Ước phần nào cũng ‘ẩn mật’ như cách lập ngôn của Đức Phật và đối chiếu giáo lư hai Ngài, chúng ta thấy nhiều điều, nhiều lời rất giống nhau .(chú thích 1: Xin xem ‘The Lost Years of Jésus’ của Bà Elizabeth Clare Prophet, -Documentary evidence of Jésus’17-year journey to the East’- , do Summit University Press xuất bản. Theo thư cảm ơn ((acknowledgment) các người cộng tác của Bà, ghi là ‘The Western Schamballa, All Saints Day, 1984). - (xin xem thêm nơi phần ‘Ngôi Sao phương Đông, Nữ hoàng phương Nam’). Do đó, người viết nhận thấy rằng Lẽ Đạo, theo Jésus, kết hợp cả phần Tín ngưỡng Tâm Linh (Đức Tin tôn giáo) cùng phần ‘Tri thức luận’ (épistémologie) nên mọi giảng giải Lẽ Đạo của Ngài vừa tâm linh vừa thực tiễn.
Nơi đây, chúng tôi không mấy để ư đến nhưng sự kiện lịch sử, địa chất học, khảo cổ học, nhân chủng học, ngôn ngữ học. Cũng không mấy để ư đến những huyền thoại như Mẹ Maria đồng trinh, Jésus làm nhiều phép lạ, …Điều cốt yếu chúng tôi đi t́m là những ‘ẩn ngữ’ qua các ẩn dụ và dụ ngôn cùng những ‘thông điệp’ nơi lời Jésus mang ư nghĩa ǵ đối với nhân sinh qua những lời đơn giản nhưng kỳ bí, ngược ngạo, nhiều khi mâu thuẫn nhau..Những phát hiện, khám phá của các nghành Sử học, Địa chất, khảo cổ,…cần thiết để soi sáng thêm một số sự kiện ngày trước, nhưng, theo chúng tôi không mấy ảnh hưởng đến ư nghĩa của lời Jésus. Mẹ Maria đồng trinh hay không, Chúa Jésus có anh, chị em hay không, chúa Jésus có vợ con hay không,…, những sự việc nầy nếu giúp cho các nhà văn, nhà báo, nhà phim ảnh xây dựng nên những tác phẫm, những công tŕnh nào đó hấp dẫn, th́, với chúng tôi, không v́ thế mà làm sai lạc ư nghĩa cùng thông điệp mà Jésus muốn trao đến cho con người và loài người. Cũng như, với người Việt Nam, Rồng và Tiên không có thực nhưng câu chuyện Rồng Tiên là có thực v́ đă được kề, được truyền tụng trước nay. Vấn đề chính là t́m hiểu cái ư nghĩa, cái ‘thông điệp’ mà câu truyện dựa vào những sự kiện không có thực muốn trao gởi cho dân tộc Việt Nam. Cũng thế, khi viết về Phật giáo (nơi phần II), chúng tôi không để ư đến sự việc đức Thích Ca vừa sinh ra đă đi trên bảy ṭa sen, tay chỉ Trời, tay chỉ Đất và bảo: ‘Thiên thượng, Thiên hạ, duy ngă độc tôn’. Điều chúng tôi chú ư là ‘giáo lư’ của Đức Phật.
Gần đây, khi viết sách nầy, lúc đọc đôi tác phẫm của một số nhà khoa học như Albert Jacquard (chú thích 2: A. Jacquard: bác sĩ và là nhà Di truyền học Pháp), Deepak Chopra (chú thích 3: Dêpak Chopra: bác sĩ và giáo sư Y khoa Đại học Boston,: tác phẫm: ‘’How to know God. The Soul’s Journey into the Mystery of Mysteries’’ của Deepak Chopra– bản dich Pháp ngữ ‘Comment connaître Dieu’ của Nikou Tridon, nxb Rocher, Paris 2001 – Trong tác phẫm nầy, giáo sư Bác sĩ Deepak Chopra nói rơ đă chịu ba nguồn ảnh hưởng là Tôn giáo, Vật lư lượng tử {physique quantique} và các khoa Thần kinh học {neurosciences} ), chúng tôi vui mừng được thấy ư kiến trên của chúng tôi phần nào trùng hợp với ư kiến các nhà khoa học nầy. Chẳng hạn, A. Jacquard bảo rằng: ‘Nhân vật Moise, sự việc ông leo lên đồi Sinai, việc ông gặp Thượng Đế có thực hay không có thực, điều quan trọng là nội dung ’10 điều răn’. « Ngươi chớ giêt người », đấy là điều cần ghi nhớ ; mọi động biến khác chung quanh sự nhận qui điều đức lư đó như đoạn nói về bụi gai bốc cháy mà không tắt, chỉ là những chi tiết của dàn cảnh sân khấu » (chú thích 4: « Que le personnage nommé Moise ait ou non existé, qu’il soit ou non monté en haut du mont Sinai, qu’il y ait ou non rencontré Dieu, ce qui importe est le contenu des Tables de la Loi’. ‘Tu ne tueras pas’ est ce qui doit être retenu ; les péripéties qui ont entouré l’adoption de cette règle de vie, tel l’épisode spectaculaire du buisson qui brule sans se consumer, ne sont que des détails de la mise en scène – A. Jacquard: Dieu?, trang 86).
Một điều xin thưa ngay: ‘Người viết chúng tôi tin có một uyên nguyên -thường được gọi là Thượng Đế hoặc một danh xưng nào khác theo các Tôn giáo khác hay theo Khoa học- ‘sáng tạo’ nên mọi thứ hiện hữu. Nhưng Đức Tin của chúng tôi không là Đức Tin hoàn toàn tôn giáo, không là Đức tin được mặc khải mà là Đức Tin mang chở trí tuệ’. Do đó, t́m hiểu Thượng Đế, t́m hiểu Kinh Thánh , chúng tôi phát hiện ra Lẽ Đạo và ḍng tiến hóa của vạn hữu và nhân sinh, điều mà Đức Tin Tôn giáo lâu nay không đề cập. Chúng tôi không mấy đồng ư lời Jean Bottéro, nhà nghiên cứu văn minh xứ Assyrie, khi ông bảo: ‘Tôi không cần thiết đến một vị Thượng Đế mà tôi hiểu’ (chú thích 5: Je n’ai aucun besoin d’un dieu que je comprends – Xem ‘La plus belle histoire de Dieu’, édts. du Seuil, Paris 1997, trang 46).
Rất có thể, chúng tôi sẽ gặp rất nhiều phản bác của giới Thần học cùng giới trí thức đă nghiên cứu về các Tôn giáo. Chúng tôi cung kính và sẵn sàng đón nhận những phản bác đó. Nhưng xin quí vị chịu khó đọc hết tác phẫm rồi hăy phản biện.
Chúng tôi quan niệm một ‘Thượng Đế vào đời’, chủ tŕ cuộc diễn biến sinh hóa của nhân sinh và vạn hữu theo quyền năng, thánh ư của Ngài chứ không phải một Thượng Đế để chi chiêm ngưỡng, tuân phục theo một Đức Tin có tính cách ‘ơn riêng’ của Ngài và mong được Ngài cứu rỗi không biết vào lúc nào, trong lúc cơi nhân sinh mải miết ch́m đắm trong nhầy nhụa, khổ đau. Vũ trụ hiện tượng đă có từ hàng hàng tỷ năm rồi và loài người –sáng tạo sau cùng của Thượng Đế- đă hiện tiền trong vũ trụ hiện tượng đó cả hàng triệu năm rồi. Vũ trụ hiện tượng luôn biến đổi vô thường ; cuộc sống mỗi người và cuộc đời chung nhân loại mải miết khổ đau trong cơi vô thường đó cùng gây khổ đau cho nhau. Chỉ với Đức Tin thuần Tôn giáo, chúng ta và cả loài ngựi sẽ ‘thụ động’ trước mọi biến thiên của vũ trụ và của cuộc đời và cũng không giải thích được diễn tiến nhân sinh. Cứ xem một lời răn của Thượng Đế trong ‘Thập giới’ (le décalogue): ‘Ngươi chớ giết người’ (Tu ne tueras point- Xuất Ê-Díp-Tô: 2O-13), thế mà qua lịch sử , tín đồ Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo, Tin Lành giáo và Hồi giáo chẳng đă giết người và giết hại lẫn nhau sao? Và đến nay cũng đă ‘phải giết’ người khác, giết lẫn nhau v́ để bảo vệ Tổ quốc, Tôn giáo ḿnh hoặc v́ lư do nầy nọ (chú thích 6: cuộc tàn sát giữa người Thiên Chúa giáo và Hồi giáo trong các cuộc Thập Tự chinh ; cuộc chiến Israel-Palestine từ 1948 đến nay; cuộc chiến giữa tín đồ Tin Lành và Thiên Chúa giáo tại Pháp trước đây, tại Bắc Ái Nhĩ Lan đến nay mới tạm được lắng dịu ; cuộc chiến tại Irak ; sự giết nhau giữa người Hồi giáo thuộc hệ phái Sunni và Shites, giữa người Hồi giáo Hamas và Fatah ở Palestine ; những khủng bố của các nhóm Hồi giáo quá khích ; không kể những cuộc tấn công của người Hồi giáo tàn sát người Thiên Chúa giáo và Phật giáo tại đôi nơi ở Nam Dương và Thái Lan gần đây). Tại sao lớp người có Đức Tin vào Ngài lại mải miết không tuân theo lời Ngài? Thế đến bao giờ Thượng Đế ‘cứu rỗi’ sự việc nầy. và bằng cách nào?
Một điều nghĩ ra cũng nên lưu ư. Hầu như mọi Đạo giáo như Khổng, Lăo (ở Trung Hoa), cả khoa Chiêm Tinh học của Zarathoustra ở Iran và các tôn giáo lớn: Ấn Độ giáo, Do Thái giáo, Phật gíáo, Ki-Tô giáo, Hồi giáo trên hơn ba ngh́n năm đến nay, đều phát xuất từ Châu Á trước khi lan tràn sang Châu Âu, châu Mỹ, châu Úc, châu Phi. Tại sao riêng châu Á mới là chiếc nôi của Đạo giáo, Tôn giáo? Có phải v́ châu Á là lục địa mênh mông nhất, vùng thâm sâu, u mật, huyền bí nên dễ ‘kết tinh’ các ư niệm siêu h́nh? Mục đích của Tôn giáo là ‘cứu đời’, là độ sinh linh thoát ṿng đau khổ, thế sao châu Á măi măi đói nghèo, ly loạn, cho măi đến cuối thế kỷ XIX, một số quốc gia, dân tộc mới bắt đầu vươn lên, thoát cảnh bần hàn lúc tiếp xúc với văn minh phương Tây chứ không hẳn do nơi các Đạo giáo của ḿnh? Điều nầy có ư nghĩa ǵ chăng? (chú thích 7:xin xem phần nào nơi chương: ‘Ngôi Sao phương Đông, Nữ Hoàng phương Nam’).
Một điều khác nữa: Do Thái Giáo từ Moise đến nay đă trên 3.300 năm, Phật giáo với Đức Thích Ca đă trên 2500 năm, Ki-Tô-giáo với Jésus đă hơn 2000 năm, Hồi Giáo với Tiên tri Mohamet đă trên 1500 năm, số tín đồ mỗi Tôn giáo trên cả tỷ người (ngoại trừ Do Thái giáo ít hơn), thế mà chính ngay tại nơi các Ngài đản sinh, quôc gia và dân tộc các nơi đó vẫn lầm than, cơ cực, loạn ly và cuộc cờ thế giới vẫn và càng ngày càng nhầy nhụa, điêu linh nào có được giải thoát, cứu rỗi cho đâu! Như vậy, phải chăng giáo lư của quí Ngài chẳng ích lợi ǵ cho cuộc sống thế gian?
Thêm một điều nữa, người viết thấy cần nêu ra. Qua Cựu Ước, dân Do Thái là ‘dân được Thượng Đế chọn’ (peuple élu) và đất Do Thái –rơ hơn là vùng Canaan- được gọi là ‘miền Đất Hứa’ (terre promise). (xem Sáng Thế Kư: 12-1, 2 và 15: 18, 19,20). Có phải đấy chỉ là dụng ư của Moise để đoàn kết dân Do Thái vừa để thoát khỏi mọi khổ nạn, đồng thời tiến đến xây dựng một quốc gia Do Thái vững mạnh, hùng cường? Nhưng chính Moise, người đă được Thượng Đế chọn để dắt dẫn dân Do Thái, đă chết, không về đến vùng đất hứa đó và suốt dọc dài lịch sử, dân Do Thái phải trầm luân, xa rời vùng đất được Thượng Đế chọn.
Và sau nầy, 13 thế kỷ sau ngày Moise qua đời, Jésus, vị Giáo chủ Ki-Tô giáo , cũng là người Do Thái, lại bảo: ‘’Ta cũng nói cùng các ngươi, có nhiều người từ đông phương, tây phương sẽ đến, ngồi đồng bàn với Áp-Ra-Ham, Y-Sac và Gia-Cốp trong nước thiên đàng. Nhưng các con bổn quốc sẽ bị liệng ra chốn tối tăm ở ngoài, tại đó sẽ có khóc lóc và nghiến răng’’ (Ma: 8-11, 12). Lời Jésus vừa trích, nên hiểu thế nào? Tại sao, ‘các con bổn quốc’ tức dân Do Thái, dân tộc được ‘Thượng Đế chọn’ lai không vào được nước Thiên đàng mà lại ‘bị liệng ra chốn tối tăm ở ngoài, tại đó sẽ có khóc lóc và nghiến răng’? Phải chăng do v́ dân Do Thái đă không tuân phục luật pháp của Thượng Đế nên phải chịu đựng cảnh nầy? Lời Chúa Jésus phải chăng tiên tri về cảnh dân Do Thái bi đế quốc La Mă tàn sát rồi lâm cảnh tản mạn (diaspora) khắp nơi trên thế giới? Sau gần 2000 năm tản lạc (kể từ năm 135 sau Công Nguyên), năm 1948 được Liên Hiệp Quốc cho trở về thành lập Quốc gia và trưởng thành lớn mạnh dù dân ít, đất nghèo giữa ‘biển người’ của khối Ả Rập, nhưng cả Palestine, cả khối Ả Rập không nh́n nhận dù thế giới, đặc biệt Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc cố dàn xếp sự nh́n nhận quốc gia Do Thái đồng thời với việc thành lập quốc gia Palestine. Sự việc chưa ngă ngũ ra sao, trong lúc đó, Iran, xứ Hồi giáo đang phát triển, trở thành mối nguy cho thế giới, lại ‘cương quyết’ đ̣i xóa sổ dân tộc cùng quốc gia Do Thái trên bản đồ thế giới.
Lời Moise trong Sáng Thế Kư, cùng lời trích trên của Chúa Jésus, phải chăng chỉ nói riêng về Do Thái hay là một linh cảm, một lời ‘tiên tri’ nào đó mượn dân tộc Do Thái để nói đến một sự kiện nào xa xôi sẽ xảy đến cho toàn thể loài người?. Moise là nhà Cách Mạng của dân Do Thái muốn cứu vớt dân tộc ông thoát mọi trầm luân và tạo lập một quốc gia Do Thái hùng cường nên ‘dựng’ nên hai sự việc ‘dân được chon’ và ‘Miền đất hứa’ trên chăng? Jésus, qua các bản Phúc Âm không nhắc đến hai sự việc nầy mà c̣n luôn luôn vạch ra thói giả h́nh nơi đức tin của người Do Thái dưới sự ‘lănh đạo’ của các Thầy Tế lễ và các Thầy Thông giáo Do Thái giáo. Lời Chúa Jésus được trích trên cùng lời nói có vẻ bí hiểm ‘Đến ngày phán xét, nữ hoàng nam phương sẽ đứng dậy với ḍng dơi nầy mà lên án nó…’’ (Ma: 12-42) liệu chỉ nói riêng về dân tộc Do Thái hay cho chung cả loài người? Những điều nầy, hầu như Thần học Do Thái và Ki-Tô giáo chưa hề nêu ra.
Vậy, chỉ với Đức Tin tôn giáo -hiểu như lâu nay- liệu có ‘cứu rỗi’ được nhân loại nầy chăng.? Những diễn giảng của chúng tôi về Lẽ Đạo và diễn tiến tiến hóa của nhân sinh và vạn hữu, qua tác phẫm nầy, chúng tôi nghĩ có thể giúp kết hợp được cả hai Đức Tin -Đức Tin tôn giáo và Đức Tin do trí tuệ- làm một, kết hợp ‘Thượng Đế của trái tim’ (le Dieu du cœur) và ‘Thượng Đế của trí tuệ’ (le Dieu de l’esprit) thành một thể thống nhất.v́ riêng Thượng Đế của trái tim hay của trí tuệ không thôi, không thể dựng xây được cảnh giới Thiên đàng nơi cơi thế. (chú thích 8: người Ki-Tô giáo thường bảo ‘Đức Tin không cần lư luận. Lư luận sẽ làm mất Đức Tin. Cứ Tin vào Chúa, cầu nguyện Chúa là đủ. Chúa đă sinh ra ta th́ Chúa luôn quan pḥng ta,…’. Nếu chỉ giản dị như thế th́ cần ǵ phải học, phải nghe giảng Giáo lư, cần ǵ các tu sĩ và trí thức nghiên cứu, viết bao sách về Thần học, về Triết lư. Chả lẽ có một ‘Đạo Chúa dân gian’ và một ‘Đạo Chúa trí thức’ sao? Lư luận không về Đức Tin mà là về đối tượng của Đức Tin. Đức Tin càng được soi sáng bởi trí tuệ th́ Đức Tin càng vững, người viết chúng tôi nghĩ thế). Đức Tin thuộc phạm trù tín ngưỡng siêu h́nh nhưng không phải siêu h́nh mà không thể không được soi sáng bằng luận lư v́ nếu Đức Tin là do một mặc khải của Thượng Đế th́ lư trí luận lư cũng là một ‘phú bẫm’ của Ngài cho con người. Kết hợp như thế, cơ sở nơi diễn tiến nhân sinh, chúng tôi phát hiện ra những ‘ẩn mật’ nơi Kinh Thánh và nơi lời Chúa Jésus (cùng lời Đức Phật) và xin hân hạnh được tŕnh bày cùng bạn đọc.
PHẦN 1
CHƯƠNG I
CÂY SỰ SỐNG và TRÁI TRI THỨC
Sống, Sự Sống: vấn đề tiên thiên, huyền nhiệm
Cuộc Sống - Cuộc Đời
Vườn Địa Đàng - Nước Thiên Đàng
Ư nghĩa Hiện hữu - Sống gởi – Thác về
Sống - Biết – Đau khổ - Tiến Hóa
‘Tôi nghĩ rằng ư nghĩa của sự sống là cấp thiết nhất trong mọi vấn đề’
(Je juge donc que le sens de la vie est la plus pressante des questions )
Albert Camus (Le Mythe de Sisyphe)
Ẩn dụ đầu tiên nơi Kinh Thánh (phần Cựu Ước) là Cây Sự Sống.
Sách Sáng Thế (Genèse) của Môi-Se viết:’’Giê-hô-va Đức Chúa Trời khiến đất mọc lên các thứ cây đẹp mắt, và trái th́ ăn ngon ; giữa vườn lại có cây sự sống cùng cây biết điều thiện và điều ác’’ (STK:2-9). ‘’Giê-hô-va Đức Chúa Trời đem người ở vào cảnh vườn E-den để trồng và giữ vườn . Rồi, Giê-hô-va Đức Chúa Trời phán dạy rằng: Ngươi được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn ; nhưng về cây biết điều thiện và điều ác, th́ chớ hề ăn đến ; v́ một mai ngươi ăn, chắc sẽ chết’’(STK: 2-15,16,17. - Thánh Kinh Hội Mỹ Quốc, Nữu Ước - ‘Ainsi Jéhovah Dieu fit pousser du sol tout arbre désirable à la vue et bon pour la nourriture, et aussi l’arbre de vie au milieu du jardin, et l’arbre de la connaissance du bon et du mauvais’ – ‘Alors, Jéhovah Dieu prit l’homme et l’installa dans le jardin d’Eden pour le cultiver et pour en prendre soin. Et Jéhovah Dieu imposa aussi à l’homme cet ordre: De tout arbre du jardin, tu pourras manger à satiété. Mais pour ce qui de l’arbre de la connaissance du bon et du mauvais, tu ne devras pas en manger, car le jour où tu en mangeras, tu mourras à coup sur –Les Saintes Ecritures, Traduction du monde nouveau: 2: 9, 15,16,17 – sđd).
. Sau khi Adam và Eva nghe lời dụ dỗ của Rắn đă hái ăn trái cấm, Đức Chúa Trời đuổi cả hai khỏi vườn Địa Đàng, Sách Sáng Thế viết ’’Giê-hô-va Đức Chúa Trời phán rằng: Nầy, về sự phân biệt điều thiện và điều ác, loài người đă thành một bực như chúng ta ; vậy bây giờ, ta hăy coi chừng, e loài người giơ tay lên cũng hái trái cây sự sống mà ăn và được sống đời đời chăng. Giê-hô-va Đức Chúa Trời bèn đuổi loài người ra khỏi vườn E-den đặng cày cấy đất là nơi có người ra. Vậy, Ngài đuổi loài người ra khỏi vườn, rồi đặt tại phía đông vườn E-den các thần chê-ru-bin với gươm lưỡi chói ḷa, để giữ con đường đi đến cây sự sống’’ (STK: 3-22,23,24 – ‘Ensuite Jéhovah Dieu dit: Voici que l’homme est devenu comme l’un de nous en connaissant le bon et le mauvais, et maintenant, afin qu’il n’avance pas sa main et ne prenne aussi [du fruit] de l’arbre de vie, et ne mange, et ne vive pour des temps indéfinis…..Sur quoi Jéhovah Dieu le fit sortir du jardin d’Eden pour cultiver le sol d’où il avait été pris. Et ainsi il chassa l’homme et posta à l’orient du jardin d’Eden les chérubins et la lame flamboyante qui tournait sans arrêt pour garder le chemin de l’arbre de vie’ – 3:22,23,24, Les Saintes Ecritures, sđd)..
Qua hai đoạn trên, nơi vườn Eden, Thượng Đế trồng hai loai cây: Cây Sự Sống và Cây biết điều thiện điều ác, chăng? Cả hai cây đều được trồng ở giữa vườn. Sau khi đuổi loài người ra khỏi vườn, Thượng Đế đặt các thần Chérubins ở phía đông vườn để giữ con đường đi đến Cây Sự Sống, không cho con người đến hái trái Cây đó.
Hai đoạn trên nêu ra năm thắc mắc:
1) Thực sự có hai Cây hay chỉ một Cây nhưng mang hai tên khác nhau: Cây Sự Sống (arbre de vie) và Cây Biết điều thiện, điều ác được gọi là Cây Tri Thức (arbre de connaissance). Cần để ư đoạn ‘cũng hái trái Cây Sự Sống’ (qu’il n’avance pas sa main et ne prenne aussi [du fruit] de l’arbre de vie), không rơ Kinh Thánh viết bằng tiếng Do Thái, tiếng Araméen hay Hy Lạp như thế nào, nếu căn cứ vào đoạn dich tiếng Việt và tiếng Pháp trên th́ có thể có cả hai loại cây khác nhau: Cây Sự Sống và Cây Tri Thức. Từ ‘cũng’ nơi đây có ư bảo ‘loài người sẽ hái ăn trái của Cây Sự Sống như đă hái ăn trái Cây Tri Thức’ vậy. Như thế, loài người mới chỉ ăn ‘trái’ của Cây Tri Thức chứ chưa ăn được ‘trái’ của Cây Sự Sống.
Hiểu như thế th́ quả có hai thứ cây hoàn toàn không liên hệ với nhau.và sự ‘Sống đời đời’ cùng ‘Sự Sống bị giới hạn bởi cái Chết’ do cái Biết phân biệt Thiện, Ác không có chút tương quan nào. Vậy lúc, đuổi Adam, Eva ra khỏi vườn, Thượng Đế chỉ cho thần Chérubins canh Cây Sự Sông, c̣n Cây biết điều Thiện, điều Ác có c̣n chăng hay bị Thượng Đế hủy đi? Và nếu quả có hai Cây khác nhau th́ vấn đề ‘Tiến hóa’ như chúng tôi nghĩ, không có cơ sở để nêu ra.
2) Loài người chỉ mới ăn được trái của Cây Tri Thức nên biết phân biệt điều Thiện, điều Ác và ‘loài người đă thành một bực như chúng ta’ (xem đoạn trích trên - Bản tiếng Pháp viết :’Voici l’homme est devenu comme l’un de nous, pour la connaissance du bien et du mal – La Bible, traduit des textes originaux hébreu et grec par Louis Segond, Nouvelle edition de Genève 1979). Điều nầy, phải chăng ám chỉ tri thức con người càng ngày càng tiến triển đến mức có thể ngang tầm ‘một bực như chúng ta’ về phân biệt điều Thiện và điều Ác.
Câu nầy phải chăng phù hợp với quan điểm các nhà ‘duy khoa học’ như nhà khoa học Michio Kaku, khi nói đến những thành tựu lớn lao của Khoa học trong thế kỷ qua và trong thế kỷ tới, đă viết: ‘Chúng ta cuối cùng đă đạt được khả năng khả dĩ thần thánh để vận dụng cuộc sống hầu như tùy thích’’ (chú thích 1: ‘Nous allons finalement acquérir la capacité quasi divine de manipuler la vie presque à notre guise’ – Micho Kaku: ‘Visions, How Science will revolutionize the 21st Century’ -bản tiếng Pháp: ‘Visions, Comment la Science va révolutionner le XXIè siècle’ của Gilles Minot, édts. Albin Michel, Paris 1999, trang 27). Và qua các bản Tân Ước, Chúa Jésus đă tiên đoán (hay ‘tiên tri’) những thành quả lớn lao của tri thức loài người về mặt khoa học, khi bảo: ‘Kẻ mù được thấy, kẻ què được đi, kẻ phung được sạch, kẻ điếc được nghe, kẻ chết được sống lại, kẻ khó khăn được nghe giảng Tin Lành’ (Ma: 11: 5,). Tuy biết phân biệt điều thiện, điều ác ‘ngang một bực như chúng ta’ nhưng loài người chưa ăn được trái của Cây Sự Sống nên không thể sống đời đời như Thượng Đế. Do đó, Thượng Đế mới đặt thần Chérubins canh gác con đường, không cho loài người đến với Cây Sự Sông hầu hái trái Cây Sự Sống mà ăn..
Trước nay, các trước tác về Ki-Tô giáo chỉ nói có một Cây thôi, thường gọi là Cây Tri Thức hoặc cho rằng ‘Cây Sự Sống’ và ‘Cây Tri Thức’ chỉ là một. Người viết chúng tôi nghĩ chỉ có một Cây duy nhất, đấy là Cây Sự Sống (arbre de vie) và Trái của Cây Sự Sống được gọi là Trái Tri Thức (fruit de connaissance), c̣n gọi là Trái Cấm.. Thiết nghĩ, hiểu như vậy có thể đúng với lời trong Sáng Thế kư và phù hợp với các quan điểm trước nay, xem đấy là ẩn dụ đầu tiên trong Kinh Thánh. Hiểu như thế, chúng tôi nhận ra mối tương quan giữa ‘Sống’ và ‘Biết’ để từ đó nói đến Tiến hóa.
3) Cây được trồng tại giữa vườn Eden, có nghĩa là tại Trung tâm Vườn. Theo các huyền thoại về Cây (xem dưới), có thể xem Cây đó là được trồng nơi trung tâm vũ trụ, tượng trưng cho Trục Vũ Trụ..V́ Sự Sống là vấn đề tiên thiên nhất, trung tâm nhất, căn bản nhất, ưu tiên nhất, cần thiết nhất cho tất cả mọi thứ trong vũ trụ hiện tượng nầy.
4) Thượng Đế cắt thần Chérubins đứng gác ở phía đông khu vườn chứ không ở phía Tây, phía Nam hay phía Bắc của khu vườn, không rơ dụng ư như thế nào. Người viết liên hệ với sự việc ‘khi Chúa Jésus sinh ra, có ba nhà thông thái thấy một ngôi sao hiện ra ở phương Đông, hướng dẫn họ đến nơi Chúa sinh’ (Ma: 2-2) để giải thích điểm nầy.(xem phần sau: Ngôi Sao phương Đông, Nữ Hoàng phương Nam)
5) Ăn được trái tri thức, loài người biết phân biệt điều thiện, điều ác, trở thành ‘một bực như chúng ta’. Cần chú ư nhóm từ ‘như chúng ta’ (comme l’un de nous). Từ ‘chúng ta’ ám chỉ ǵ? Dĩ nhiên, không phải là Thượng Đế v́ Thượng Đế chỉ Một, một ‘Thượng Đế Một’ (Dieu Un). Môi-Se đă ‘lầm lẫn’ viết như trên hay có dụng ư ǵ? Điều nầy, Thần học Ki-Tô giáo không đề cập. Qua đoạn văn, Thượng Đế đang tự nói với ḿnh ở ngôi thứ nhất số ít, sao lại bỗng dưng chuyển sang ngôi thứ nhất số nhiều (chúng ta)? Đoạn tiếng Việt ‘loài người đă thành một bực như chúng ta’ so ra không đúng với đoạn tiếng Pháp ‘l’homme est devenu comme l’un de nous’. Đoạn tiếng Pháp nầy, theo người viết, nên dịch sang tiếng Việt là ‘con người (hay loài người) trở thành như một trong chúng ta’. Từ ‘một bực’ có thể hiểu là ‘ngang tầm, ngang tŕnh độ với’. C̣n ‘như một trong chúng ta’ th́ có nghĩa ‘giống với một ‘kẻ’ trong chúng ta’. Cái rắc rối ở nơi chữ ‘chúng ta’. Người viết chưa hiểu ra sao. Trong tác phẫm ‘Avant le Big-Bang,…’, Ricard Sunder có giải thích nhưng liên hệ đến ‘vũ trụ siêu h́nh’(cosmos métaphysique) và ‘vũ trụ vật lư’ (cosmos physique), và nhóm từ ‘một bực như chúng ta’ được ông hiểu như là ‘một Thượng Đế bị phân chia thành ma quỉ’ (comme un Dieu divisé en diables,) và ‘vũ trụ là sản phẫm của một biện chứng của Thượng Đế và của Ma quỉ, nghĩa là của biểu tượng và những biểu tượng ma quỷ hay, như người ta muốn nói là biện chứng của sự đơn nhất và sự phân chia’ (chú thích 2: ‘l’idée que le cosmos fut le produit d’une dialectique de Diev et du Diable, c’est-à-dire du symbole et des diaboles ou, si l’on préfère, de l’unicité et de la division’ – ‘Avant Le Big-Bang, sđd, trang 52). Người viết chúng tôi thực sự chưa hiểu rơ ư câu trên, rất mong được các nhà Thần học Ki-Tô giáo soi sáng cho.
Trước khi t́m hiểu ẩn dụ Cây Sự Sống, xin nói đến:’Sống’, ‘Sự Sống’, tiếp theo là ‘Cuộc sống, cuộc đời’.
A.- SỐNG, SỰ SỐNG - CUỘC SỐNG, CUỘC ĐỜI:
‘SỐNG’, ‘SỰ SỐNG’: Chưa một định nghĩa nào rơ ràng. Mọi định nghĩa trong các Tự Điển hầu như chỉ nói đến những hiện tượng cho biết « có Sự Sống’ hơn là nói rơ ‘Sự Sống là ǵ’? ». Các hiện tượng đó, theo Khoa học, gồm: sự tự nuôi dưỡng (nuitrition), sự thâu hóa (assimiliation), sự tăng trưởng (croissance), sự thích ứng hay thích nghi (adaptation) và sư sinh sản (reproduction). Hiểu như thế là hoàn toàn về mặt Sinh-Vật lư và ứng dụng vào từng cá thể trong một dạng tồn tại nào có cấu trúc h́nh thể tức một h́nh hài, thân xác (cây cối, côn trùng, súc vật, con người).. B́nh thường, ta hiểu ‘Sống’ là tấm thân xác của chúng ta cùng những khả năng chứa đựng nơi nó đang hoạt động: thở, ăn, uống, mặc, ở, nói năng, bài tiết, đi lại, cử động, cảm giác, t́nh cảm, nghĩ suy,..giao du, tiếp xúc,…. Khi tất cả những hoạt động đó, trước tiên là hơi thở, không c̣n th́ là ‘Chết’. Hiểu như thế, Sự Sống chỉ có nơi những ‘Vật sống’(les vivants), c̣n những vật, những thứ được gọi là vô t́nh, vô tri, những dạng tồn tại không cấu trúc h́nh thể (ánh sáng , không khí, màu sắc, lửa, gió,…) cùng những dạng tồn tại gọi là ‘vô cơ’ như đất đá, kim loại, th́ không ‘sống’, không có ‘sự sống’ mặc dù chúng vẫn Hiện hữu với thế giới, chăng?.
Tiếng Việt phân biệt ‘SỐNG’ (động từ) , ‘SỰ SỐNG’ và ‘CUỘC SỐNG’, CUỘC ĐỜI’ (danh từ). Không rơ tiếng Hán, tiếng Anh, tiếng Pháp có những từ nào phân biệt rơ ràng như thế không?.
‘SỐNG’ trước tiên là Hiện Hữu. Theo đó, ‘SỰ SỐNG’ là Sự Hiện Hữu.
‘Hiện Hữu’ là ‘tự hiện bày’, ‘tự tŕnh xuất ḿnh ra’ (se présenter) để ‘hiện diện’, để ‘có mặt’ với thế giới trong hai môi trường thiên nhiên và đồng loại. Môi trường thiên nhiên gồm tất cả mọi thứ trong vũ trụ hiện tượng nầy. Môi trường đồng loại, thường gọi là môi trường xă hội tức môi trường giữa các hiện thể cùng giống loại với ḿnh ; nói về loài người th́ là ‘môi trường giữa người với người’ mà Nguyễn Du gọi là ‘cơi người ta’. Kỷ niệm Sinh nhựt là kỷ niệm ngày ta hiện tiền với thế giới, nói lên niềm vui của môi trường đồng loại, thấy ta hiện diện cùng mọi người (trước tiên là gia đ́nh). Kỷ niệm ngày chết (Tử nhật) là kỷ niệm ngày ta không c̣n hiện diện với thế giới, nói lên niềm buồn thương thấy ta không c̣n ‘có mặt’ cùng với môi trường đồng loại.
‘Hiện hữu’, tiếng Pháp thường dùng là ‘exister’. Lư thuyết Hiện sinh hiểu ‘exister’ là ‘Tồn tại’ theo tiền đề của Sartre: ‘Tồn tại có trước Tính thể’ (l’existence précède l’essence). Người viết hiểu ‘tồn tại’ là thời gian hiện hữu của con người hay của một hiện thể nào trong cơi vũ trụ hiện tượng. Từ ‘hiện hữu’ hay ‘Sống’, theo tiếng Pháp, được hiểu là ‘être’ . Từ ‘être’ trong tiếng Pháp, về mặt Triết lư, khá khó hiểu, tùy theo cách viết hoa (Être) hay viết thường (être), tùy theo cách dùng theo danh từ (l’être, un être, les êtres) hay ‘động từ (être, être soi, être humain),…Người viết quan niệm ‘có hiện hữu’ mới tồn tại, nghĩa là phải ‘être’ đă rồi mới ‘exister’..
Với những dạng tồn tại có cấu trúc h́nh thể, Hiện hữu trước tiên là hiện hữu qua một h́nh hài thân xác (tấm thân) như cây cỏ, súc vật, con người, nhà cửa, vật dụng, đường sá, máy móc,… , với những yêu cầu bản nhiên của ‘cấu trúc thân xác’ thể hiện qua những ‘hiện tượng sống’ nói trên (chú thích 3: những dạng tồn tại như bàn ghế, nhà cửa, đường sá, máy móc,…, dù không có những hiện tượng sống như cây cối, súc vật, con người nhưng vẫn bị tác động bởi những dạng tồn tại khác để chịu mọi biến chuyển, đổi thay qua quá tŕnh thời gian. V́ có cấu trúc h́nh thể nên những dạng tồn tại nầy phải nhận chịu cái ‘chết’ (‘hữu h́nh hữu hoại’) theo qui luật ‘sinh, trụ, hoại, diêt’). Với những dạng tồn tại không có cấu trúc h́nh thể (ánh sáng, không khí, gió, lửa,..), hiện hữu của chúng thể hiện qua những đặc điểm riêng biệt của chúng, biến đổi do tác động qua lại giữa chúng với các dạng tồn tại khác trong không gian, thời gian (không khí nóng lạnh, nước bốc hơi,…) và cũng đến một lúc nào đó phải ‘chết’ (như áng sáng mặt trời sẽ tắt khi nhiệt lượng mặt trời cô đọng đến một độ nào đó khiến mặt trời bị nổ tung ; nước sông sẽ cạn khô v́ hạn hán,…).
Dù không định nghĩa được -vả cũng chẳng cần phải định nghĩa- tất cả chúng ta –xin nói về con người, dân tộc, nhân loại- đều đă sống, đương sống, sẽ sống theo cách thế nào đó, tất cả đều lo cho Sự Sống, đều phải sống và ham muốn được sống.
‘Sống’ là một thứ quyền tự nhiên -Quyền Sống- mà mỗi cá nhân cùng cộng đồng xă hội luôn lo lắng, ǵn giữ, chăm sóc cùng đ̣i hỏi môi trường đồng loại phải tôn trọng, bảo vệ và phát triển để hiện hữu được dễ dàng, dài lâu. Không có sự Sống, Không Sống th́ chẳng có vấn đề nào được đặt ra. Trong vở kịch Hamlet (năm 1602), Shakespeare đă để nhân vật Hamlet phân vân tự hỏi: « Sống hay không sống, đấy là vấn đề » (chú thích 4: ‘To be or not to be, that is the question= être ou ne pas être, telle est la question’). André Malraux đă viết « Một cuộc sống chẳng đáng giá gi nhưng không có ǵ đáng giá bằng một cuộc sống » (Chú thích 5: Une vie ne vaut rien mais rien ne vaut une vie). Trong tác phẫm Le Mythe de Sisyphe (huyền thoại Sisyphe), Albert Camus nêu ra vấn đề ‘Tự Tử’ (le suicide), cho đấy là vấn đề quan trọng của Triết lư và điều gấp rút nhất của mọi vấn đề là t́m xem ‘liệu cuộc sống có xứng đáng hay không xứng đáng với nỗi khổ nhọc đă sống’ (chú thích 6: Si la vie vaut ou non la peine d’être vécu).
Bên Đông Phương, Đức Khổng đă bảo « Đức lớn của Trời Đất là lo cho sự sống » (Thiên Địa đại đức viết sinh) nhưng Ngài không nói rơ Trời Đất lo cho Sự Sống ra sao. Sách Sáng Thế nói rơ điều nầy. Đối với các loài thú vật ‘phàm giống nào có sự sống th́ ta ban cho mọi thứ cỏ xanh đặng dùng làm đồ ăn’ (STK: 1-30). Với loài người, Thượng Đế ban cho ngoài ‘mọi thứ cỏ kết hột mọc khắp mặt đất và các loài sanh cây sanh quả có hột giống ; ấy sẽ là đồ ăn cho các ngươi’ (STK:1-29), c̣n cho loài nguời ‘hăy làm cho đất phục tùng, hăy quản trị loài cá dưới biển, loài chim trên trời cùng các vật sống hành động trên mặt đất’ (STK:1-28). Tóm lại Thượng Đế lo cho sự sống của loài người bằng cho ‘thức ăn’ tức lương thực gồm tất cả mọi ‘vật sống’ trên mặt đất nầy. V́ thế, loài người là loại ‘tạp ăn’ nhất trong tất cả mọi loài.
Trước nay, tất cả Tôn giáo, Thần học, Triết học, Khoa học, Kinh tế, Chính trị, Văn học Nghệ thuật,….chỉ nói đến ‘Con người’ (l’homme) để từ Con Người nói đến cuộc sống con người, chứ chưa hề nói đến ‘Sự Sống’. Theo người viết chúng tôi, vấn đề huyền nhiệm, huyền bí nhất là ‘Sự Sống’ chứ chưa hẳn là vấn đề ‘Con Người’. ‘Sự Sống’ có truớc con người (sự sống của cây cỏ, thú vật) và con người sinh ra là để ‘Sống’. Con người trước nay được quan niệm là ’’hữu thể lư trí, hữu thể tín ngưỡng, hữu thể t́nh cảm, hữu thể xă hội, hữu thể kinh tế, hữu thể chính trị, hữu thể tương giao, hữu thể cho ngày mai,…’’ nhưng dấy chỉ là những đặc điểm, những tính chất của con người, thể hiện hoạt động của con người trong hai môi trường thiên nhiên và xă hội có khác với các giới loại khác chứ chưa giải thích thế nào là Sống, thế nào là Sự Sống. Do đó, Sống, Sự Sống là một vấn đề huyền nhiệm. Và v́ là huyền nhiệm, không thể nào giải thích nên ta chỉ có thể hiểu qua những hiện tượng của Sự Sống thôi. V́ thế, ta chỉ nói đến Sống, Sự Sống nơi các loài gọi là sinh vật, c̣n các loài khác không có cấu trúc h́nh thể, các loài được gọi là vô t́nh, vô cơ th́ không Sống, không có Sự Sống. Dĩ nhiên, v́ không thể giải thích thế nào là Sống, Sự Sống nên phải mượn qua Cuộc sống của con người để hiểu ; điều nầy đúng thôi. Từ đó, đề cập đến ‘giá trị con người’ cùng sự Sống của con người qua sinh hoạt của con người về đủ mọi phương diện.
Tập sách nầy không làm công việc giải thích Sống hay Sự Sống mà chỉ nhằm nói lên diễn tŕnh Sống của loài người qua các dạng thức Sống từ thưở sơ khai đến nay và trong thời gian tới.
Sống, Sự Sống, đấy là vấn đề tiên thiên, có trước mọi vấn đề khác, làm nẩy sinh vô số vấn đề khác, một vấn đề như nhiên, không thể tránh.
Những câu hỏi ‘Sống là ǵ? Tại sao sống?’ không thể trả lời. Chỉ biết người nào, dân tộc nào, cả nhân loại đều phải sống, muốn sống, kéo dài sự sống dù gian nan, khổ cực đến mấy. Cái bản năng hay ư chí ham sống đó khiến tất cả đều lo sợ cái Chết. ‘Sống’ là vấn đề căn bản trước tiên của muôn vật. Riêng con người lại luôn luôn tra vấn về nó, luôn luôn đi t́m ‘Ư nghĩa của sự sống’ (le sens de la vie). Rồi từ đó, bao vấn nạn lại đến với tri thức con người: ‘Tôi là ai? Tôi từ đâu đến? Tôi đi về đâu? Tôi phải làm ǵ? Tôi phải sống ra sao?..Từ những câu hỏi đó, con người băn khoăn đi t́m Nguồn gốc, ư nghĩa và cứu cánh của sự sống, của con người, của vũ trụ. Đạo học, Tôn giáo, Triết học chủ tâm đi t́m cái Nguyên nhân đầu tiên và cuối cùng tức cái Nguồn gốc, cái Chung cục cùng cái Ư nghĩa của sự Sống. Khoa Học, v́ không để ư đến ‘Ư nghĩa’ nên cho rằng ‘Sống, cuộc Sống, cuộc Đời’ cùng lịch sử và Tiến Hóa chung quy chỉ là những diễn tŕnh mù quáng (aveugle) theo một thứ ‘phi tất định’ (indéterminisme), một ‘ngẫu nhiên’ (le hasard) nên không giải đáp được những tư lự, băn khoăn siêu h́nh của con người. Trong lúc, Đạo Học, Tôn giáo, Triết học luôn đi t́m Căn Nguyên, Ư nghĩa và Cứu Cánh, thiên về thuyết ‘Tất Định’ (Déterminisme) được xem như là ‘hiển nhiên’ hay một ‘giả định’ tất yếu của Luận lư, khó ḷng chứng minh, thử nghiệm.
Sống, Sự Sống của con người thể hiện qua Cuộc sống, Cuộc đời của từng người, từng dân tộc, và của chung nhân loại qua quá tŕnh thời gian.
Cuộc Sống là chuổi dài các dạng hiên hữu nối tiếp nhau của từng cá thể trong chủng loại từ ngày sinh ra đến ngày chết trong hai môi trường thiên nhiên và xă hội.
Tất cả những sự việc, cảnh ngộ, tính chất, trạng thái, ư nghĩ, t́nh cảm, hành động, thái độ, cử chỉ, ngôn ngữ,…(mạnh, yêu, vui, buồn, mừng giận, đói nghèo, sung túc, yêu thương, ghét bỏ, hoạn nạn, rủi ro,…) dù do ta hay do bên ngoài đến với ta, dù ta tự nguyện hay bị cưỡng bức, dù đem lại điều hay, cái lợi, vui mừng, hạnh phúc, thành công tiếng tốt hay gây cho ta bất trắc, hoạn nạn, rủi ro, khổ buồn, thất bại, nhục nhă, sầu đau,… ; dù là ǵ, dù ra sao, dù thế nào, mỗi sự việc như thế là một ‘dạng hiện hữu’, một biểu hiện ‘sự sống’ của ta trong cuộc đời và cũng là một thể hiện của cuộc đời đến với ta trong từng phút giây hiện hữu. Mỗi sự việc như thế là một ‘trạng thái hiện hữu’ của ta, tất cả những trạng thái hiện hữu đó kết thành Cuộc Sống của ta qua quá tŕnh thời gian nơi không gian ta sống.
Cuộc Đời là chuổi dài kết tập tất cả các dạng hiện hữu của môi trường đồng loại qua từng giai kỳ hiện hữu của toàn thể chủng loại trên toàn thể địa cầu hay giới hạn nơi một cộng đồng nào đó (đoàn thể, dân tộc, quốc gia) nơi từng địa bàn sinh hoạt của cộng đồng đó. Tất cả các trạng thái hiện hữu của môi trường đồng loại (hoà binh, an lac, ly loạn chiến tranh, lạc hậu, chậm tiến, tiến bộ, văn minh, áp bức, bóc lột, nghèo nàn, sung măn, chia rẻ, đoàn kết,…) cùng mọi trạng thái của môi trường thiên nhiên (lạnh, nóng, gió, băo, lụt lội, hạn hán, …) tạo nên Cuộc Đời đón nhận tác động của từng cá thể, đồng thời tác động vào cuộc sống cá thể để cả hai hoặc gây trắc trở cho nhau hoặc kết hợp với nhau cùng đưa dẫn cuộc sống và cuộc đời sang từng trạng thái hiện hữu mới.
Cuộc sống thuộc từng cá thể ; cuộc đời là cuộc sống chung của chủng loại. Hai bên tương tác nhau. V́ thế, Sống là từng cách biểu hiện của cuộc đời nơi ta cùng lúc là thể hiên của ta vào cuộc đời.
Cuộc Sống, Cuộc Đời quan hệ nhau khăn khít. Cuộc sống từng cá thể hay của từng tập thể nhỏ ảnh hưởng vào cuộc đời giúp Cuộc Đời tốt đẹp, phát triển, thăng tiến (những thành tựu mặt nầy mặt no đem lại thuận lợi cho cuộc sống cộng đồng), ngược lại cũng gây cho cuộc đời tao loạn, bất an, đổ vỡ (những ư đồ, hành động ‘lợi kỷ hại nhân’). Cuộc Đời có thể tạo điều kiện thuận tiện cho Cuộc Sống cá thể (đoàn kết, hợp tác, khuyến khích, nâng đỡ,…) nhưng cũng thường gây trở ngại, cản ngăn cuộc Sống cá thể, ngăn cản Tự do của cá thể. Cuộc đời cũng là trường loại bỏ, đào thải những hành động bất lương của cá thể, bất lương v́ làm hại đến cuộc sống cộng đồng. Cuộc đấu tranh giữa người và người tức giữa cuộc sống và cuộc đời nói lên mối quan hê hữu cơ giữa hai bên. Vấn đề Thiện, Ác từ đó được đặt ra. Do cuộc đấu tranh giữa người và người nầy tức giữa Cuộc Sống, Cuộc Đời mà ‘Chữ Tài chữ Mệnh khéo là ghét nhau’ (Truyện Kiều, câu 2) . Cuộc Sống và Cuộc Đời luôn tranh chấp, chống đối để qua cuộc tranh chấp triền miên đó, cuối cùng dẫn về thời điểm ‘Chữ Tài chữ Mệnh dồi dào cả hai’(Truyện Kiều, câu 3246) có nghĩa cuộc Sống, Cuộc Đời hoà hợp, cái Nghiệp của mỗi người (biệt nghiệp, cá nghiệp) và của Chủng loại (Cộng nghiệp, Tội Tổ Tông) cùng lúc được giải tỏa. Cảnh sống sẽ là Nước Thiên Đàng hay Hữu Dư Niết Bàn (cảnh giới A-Di-Đà hay Đại Viên Cảnh theo Phật giáo) , cảnh sống đời đời tốt đẹp, điều Nguyễn Du đă bảo: ‘Duyên xưa đầy đặn, phúc sau dồi dào’ (truyện Kiều, câu 2724) để ‘Ngàn năm dằng dặc, quan giai lần lần’ (Truyện Kiều, câu 3236 ).
Mục đích sống của con người là đi t́m hạnh phúc, nghĩa là tránh đau khổ bằng cách tạo lập mọi điều kiện thuận lợi, dễ dàng để tồn tại, phát triển và tiếp nối hiện hữu của ḿnh được phong phú, đầy đủ và dài lâu. Đấy là qui luật tự nhiên của bất kỳ hiện thể nào, thể hiện nơi cuộc tranh đấu mưu sinh thường ngày. Tùy quan niệm hạnh phúc mà mỗi người hướng dẫn cuộc sống ḿnh theo một ư nghĩa nào đó hoặc hạn hẹp, gần gũi hoặc cao cả, lâu dài. Do từ mục đích và ư nghĩa đó, mỗi người phát triển cái Biết, đề ra phương pháp, qui hoạch, sắp xếp, t́m kiếm mọi phương tiện, điều kiện thuận lợi, thích hợp với khả năng, nhu cầu và sở thích của ḿnh và với mọi điều kiện bao quanh để thực hiện con đường ḿnh đă nhắm. Nhưng rồi, tuổi già xế bóng, lúc sắp gần kề mồ huyệt lạnh, lại thấy ‘cuộc sống ḿnh vô nghĩa’ hay chưa trọn vẹn ư nghĩa để mong được sống thêm hầu trọn vẹn ư nghĩa cuộc sống ḿnh. Một người già ân hận đă không trọn t́nh, trọn nghĩa, không trọn trách nhiệm với cha mẹ, vợ con. Một Khổng Tử tiếc không sống lâu thêm để nghiên cứu, t́m hiểu Kinh Dịch. Một A. Einstein, môt J. Robert Oppeihnemer đă ân hận công tŕnh khoa học của ḿnh gây thảm họa cho nhân sinh (trong việc chế bom nguyên tử).,…Đấy là tâm trạng chung của lớp tuổi về già hoặc của những ai sau bao thất bại, gảy đổ, buồn đau, đâm ra chán chường cuộc sống, thấy cuộc sống ḿnh và cả cuộc đời chỉ là ảo hóa, phù du, lẩn quẩn trong một tiết điệu hao ṃn tê tái: sinh ra, lớn lên, làm việc, học hành, lấy vợ, lấy chồng, sinh con, đẻ cái, hoạt động mưu sinh hay dấn ḿnh cho lư tưởng, vui phút chốc, buồn triền miên, thành công ngắn ngủi, thất bại năo nề, sướng khổ, buồn đau liên tục,…rồi bệnh hoạn, già nua và…chết ; từ đời ông tằng, ông cố, ông tổ đến cha mẹ, con cháu, chắt chít,…, cuộc sống ai rồi cũng thế, nào có ư nghĩa, ư vị, sinh thú ǵ cho cam! Do đó mà đôi triết gia hiện sinh nói dến nỗi ‘kinh hoàng hiên hữu’ (angoisse d’existence) và con người là một ‘đam mê vô ích’ (une passion inutile – J.P.Sartre).
Thời đại đổi thay, ḷng người đổi khác, thời gian trôi qua xóa nhoà tất cả, cái c̣n lại nơi tâm tư mỗi người là ‘nỗi buồn tại thế’, ‘nỗi buồn hiện hữu’ (tức nỗi buồn về cuộc sống ḿnh) của chúng sinh lăng đăng, xa gần, quanh quẩn, không nguôi. Từ đó nẩy sinh cái đạo tu tiên, xuất thế, phóng dật, tiêu dao, nhàn tản, vô vi,…
Một Tản Đà, mộng lớn, mộng con không thành, ngậm ngùi than thở:
-Đời đáng chán hay không đáng chán
Cất chén quỳnh riêng hỏi bạn tri âm!.
Một Nguyễn Văn Ái bi quan:
-Thuyền ai ngược gió, ai xuôi gió
Rốt cuộc cùng trong bể thảm thôi!
Thấy cuộc sống ḿnh vô nghĩa nên cũng thấy cuộc đời vô nghĩa. Cuộc đời, như nói trên, là cuộc sống chung của đồng loại hay của cả chủng loại người. Cuộc sống mỗi người không thể biệt lập với cuộc đời. Ta đi trong ḍng đời. Cuộc đời đưa dẫn ta đi. Nhưng cuộc đời không hoàn toàn ở ngoài ta. Ta có dự phần vào cuộc đời v́ mỗi tác động của ta vào cuộc đời tạo nên từng dạng sống của ta. Nếu không phản ứng dù thuận hay nghịch với cuộc đời , không dự phần tác động vào nó bằng ư chí và năng lực của ta th́ ta không tạo được cuộc sống cho ta. Mỗi người là một ‘Hữu tại thế’ (être dans le monde) nghĩa là hiện hữu của ta trong Hiện hữu của cuộc đời, của thế giới. ‘Hữu tại thế’, trước tiên là ‘hữu cho ḿnh’ v́, nếu không thế, ta không thể hữu cho kẻ khác. Ta hữu cho ta để hữu cho kẻ khác và kẻ khác cũng thế, nếu không xă hội để làm ǵ và cần thiết ǵ phải tổ chức thành xă hội. Kẻ chết không hữu cho ta mà hữu cho cuộc đời. Ta là kẻ vừa hữu cho kẻ chết vừa hữu cho người bây giờ và người mai sau để từ đó hữu cho cuộc đời như bao kẻ đă chết. Nhưng ‘hữu’ cho kẻ khác (sống cho kẻ khác) cũng là cách thế ‘hữu cho ḿnh’. Mối tương quan kỳ lạ đó chỉ định tính cánh ‘Hữu tại thế’ của con người và nói lên mối liên tục lịch sử giữa các thế hệ.
Nhưng Cuộc Sống cá thể là từng thực tại ngắn ngủi, phù du, trong lúc Cuộc Đời lại là một ‘Thực tại miên viễn dở dang’ v́ chủng loại luôn được tiếp nối qua cái Sống và cái Chết của từng thế hệ hiện thể. Cuộc sống không có ư nghĩa trong hạn kỳ ‘nhân sinh bách tuế vi kỳ’ nhưng cuộc đời tự nó có một ư nghĩa v́ Đời không là cuộc sống từng cá thể rời rạc mà là tổng hoà mọi cuộc sống cá thể qua quá tŕnh thời gian ; đấy là diễn tiến của hiện hữu thế gian, của nhân loại nói chung. Do đó, mọi thành tựu, đóng góp do cái Biết, cái Làm của cá thể đươc lưu giữ, tích lũy nơi cuộc Đời , dần dần qua từng kỷ nguyên sinh hóa, dẫn về cái Biết toàn bích, viên dung, cái Biết của Cây Sự Sống. Và khi đă đạt được cái Biết của Cây Sự Sống th́ không c̣n phân biệt nữa, không c̣n vấn đề Thiện, Ác, không c̣n tranh chấp giữa cuộc đời và cuộc sống, không c̣n ‘nỗi buồn hiện hữu’ lăng đăng vây quanh. V́ thế, cái ‘vô nghĩa’ của cuộc sống mỗi người lại là điều kiện cho cái ư nghĩa chung của cuộc đời thị hiện. Cái cố gắng làm cho cuộc sống ḿnh có ư nghĩa theo cách thế nào đó, chính là phần đóng góp của cá thể để ư nghĩa cuộc đời chung hiển lộ. Cái ‘ư nghĩa của cuộc đời chung’ hay ‘ư nghĩa chung của cuộc đời’ chính là ‘Ư nghĩa tại thế, ư nghĩa hiện hữu’ tức ‘Ư nghĩa Sự Sống’ thể hiện qua ḍng Tiến hóa của nhân sinh.
B.- Qua những trích dẫn trên trong sách ‘Sáng Thế Kư’, ta nêu câu hỏi: ‘Tại