Nghĩ về ‘Cách Đọc Kinh Điển Tôn Giáo’

 

Nguyễn Thùy         

 

          Bao nhiêu năm, trên các Diễn Đàn, vấn đề Tôn Giáo như ‘sôi động’ hẳn lên. Nhiều bài viết đả kích Công giáo một cách kịch liệt, chống Vatican được xem là ‘điên cuồng’ cùng bao bài ‘chống đối’ lại ‘và đề cao’ Đức Tin vào Thiên Chúa, từ đó  ít  nhiều mặc nhiên có thể bị suy diễn là hàm ý ‘kỳ thị’ Tôn giáo ! 

       

          Chắc ai cũng thấy sự việc nầy chỉ có lợi cho Cộng sản và do Cộng sản chủ trương nhằm mục đích gây chia rẽ Cộng Đồng người Việt hải ngoại đồng thời để người hải ngoại không còn mấy chú ý đến những khó khăn, lúng túng, những bế tắc  của Cộng sản nơi quốc nội trước phong trào tranh đấu ôn hoà cho Công Lý và Hòa bình của Giáo dân trong nước, trước những chống đối của nhân dân, rõ ràng nhất nơi tầng lớp Thanh niên, Sinh viên, Trí thức về các vụ Hoàng Sa, Trường Sa, vụ Formosa, vụ Cộng sản Tàu khai thác Bô-xít ở Tây Nguyên, các vụ cưỡng chế chiếm đất, chiếm nhà dân, những vụ tham nhũng tầy trời, những luật về ‘an ninh mạng’, về các đặc khu, về các đưng cao tốc,…

 

          Điều rõ ràng là Cộng sản luôn thù nghịch với Tôn giáo, tìm mọi cách triệt tiêu tôn giáo, trước tiên là Thiên Chúa giáo vì người Thiên Chúa giáo có Đức Tin vững mạnh  và có chỗ dựa khá vững chắc bên ngoài là Giáo Hội Vatican. Phật giáo cũng là ‘kẻ thù’ mà Công sản phải loại trừ triệt để vì Phật giáo VN có tín đồ đông đảo, lại thêm tinh thần Phât giáo đã ăn rể sâu đậm nơi quần chúng người Việt. Phật giáo và Thiên Chúa giáo là hai lực lượng tinh thần lẫn chính trị (tuy tôn giáo không chủ trương chính trị là nắm giữ thế quyền)  có thể vô hiệu hóa mọi chủ trương, thủ đoạn Cộng sản, đưa đến việc lật đổ hẳn chế độ Cộng sản. Nhưng ngày nay, Công sản không thể dùng bạo lực vũ trang để diệt trừ. Do đó, chúng tìm đủ mọi cách gây chia rẽ quần chúng tôn giáo, mua chuộc hàng ngũ tu sĩ tôn giáo  và chúng đã ‘thành công’ phần nào qua nhũng Giáo Hội quốc doanh với bao nhiêu tu sĩ Công giáo, Phật giáo ‘thuần phục’ chúng, điều nầy ai cũng rõ. 

          

          Dân tộc, đất nuớc và nhân dân ta, dưới chế độ Cộng sản, đã và đang lâm vào hai đại nạn : Quốc nạn và Pháp nạn. Lớp người yêu nước, yêu dân tộc, yêu đồng bào và quần chúng tín đồ tôn giáo cần nhìn ra hai đại nạn trên để khỏi phải nhẹ dạ, vô tình rơi vào bẫy sập của Cộng sản. Do đó, việc chống đối hay đề cao tôn giáo nào, trong giai đoạn hiện nay, nghĩ ra không tốt đẹp gì cho nước, cho dân mà còn làm gia tăng hai đại nạn trên và Cộng sản sẽ là kẻ ‘ngư ông đắc lợi’ để củng cố và duy trì chế độ bạo tàn.

 

          Người viết có đọc Kinh sách tôn giáo, có ít nhiều suy ngẫm về các chủ đề chính yếu của cả Phật giáo và Ki-Tô giáo. Bài viết nầy không nhằm trình bày những chủ đề đó mà nhằm giới hạn nơi ‘cách đọc Kinh điển tôn giáo ‘ thôi. Với nội dung đó, người viết  nghĩ rằng phần nào góp phần ‘hóa giải’ tình trạng tranh chấp, kỳ thị hiện nay giữa Phật giáo và Ki-Tô giáo, đặc biệt nơi tầng lớp tu sĩ và trí thức. Thực ra, chỉ giữa giới tu sĩ, trí thức mới xảy ra tình trạng trên chứ quần chúng tín đồ mỗi bên luôn sống ‘hoà đồng’ với nhau, nào có tỵ hiềm, chia rẽ nhau đâu.

 

          I.- Hai cách đọc Kinh Điển Tôn Giáo và hai lối Tư Tưởng trước nay :

 

          1) Hai cách đọc :Trước nay, chúng ta thường đọc và hiểu Kinh điển cùng các trước tác về Tôn giáo theo hai cách : hoặc theo ‘lý trí suy luận’ hoặc theo ‘dẫn dắt của đức Tin’. Nhà Triết người Pháp Paul Ricoeur gọi là ‘lecture savante’ ‘lecture confessante’. Hai cách đọc nầy thường không thuận hảo nhau mà còn hầu như ‘chống đối’ nhau nữa.

         

          Đọc theo ‘lý trí suy luận’ thì thường chú trọng vào giải thích, phân tích, biện bác, phê bình,… hầu đưa đến nhận định cái đúng, cái sai đối với thực trạng đời sống, thực trạng xã hội  theo quan điểm của người đọc. Cách đọc nầy, nghĩ ra chưa thể đi sâu vào tinh túy của tôn giáo mà thường hiểu tôn giáo qua kiến thức, qua hiểu biết của riêng mình dù có nêu ra chứng minh bằng một số quan điểm của người nầy người khác hoặc bằng dữ kiện lịch sử, dữ kiện thời đại. Nhận định ‘đúng, sai’ theo quan điểm người đọc thì dĩ nhiên mang tính chủ quan, phiến diện, từ đó dễ sai lệch. Nhận định ‘đúng, sai’ dựa trên một số dữ kiện lịch sử, xã hội tức những dữ kiện thực tại thì vấp phai nan đề : thực tại là gì, thực tại độc lập với ý thức con người hay chỉ là biểu hiện của con người qua ‘danh và sắc’ mà ý thức con người gán cho ?  Hơn nưã có những sự vật, sự việc xét ra rất hợp luận lý nhưng lại không hiện thực trong thực tạí, chẳng hạn ta có thể hình dung bằng luận lý một hình vẽ hàng triệu hay hàng tỷ góc nhưng trên thực tế nào có đâu. Cũng thế, nếu không có ‘đường tṛn’ và ‘h́nh tam giác’, có thể  chẳng có môn H́nh học. Nếu không có dấu ‘bằng nhau’ (=) giữa hai đại lượng th́, theo người viét nghĩ,  có thể chẳng có môn Toán học. Sỡ dĩ thế, v́, theo người viết nghĩ, hầu như chưa ai để ư đến truy t́m nguồn gốc phát sinh hai môn học đó. Thêm nữa, các sự kiện lịch sử thường được nhìn qua quan điểm từng người chép sử, chưa hẳn đã trung thực. Chẳng hạn, nhiều người –như nhóm Giao Điểm- luôn ‘lên án’ Thiên Chúa Giáo là ‘tội đồ’ dân tộc, đã rước Pháp Thực dân vào thống trị nhân dân ta. Đấy là lối suy luận theo cảm tính, không nhận ra mối liên hệ giữa lịch sử VN với lịch sử phát triển của thế giới. Không có mấy ông Truyền giáo ngoại quốc, không có các thầy dòng và số dân theo Thiên Chúa giáo lúc bấy giờ thì Pháp thực dân hay một nước Thực dân nào khác cũng đến xâm chiếm VN như đã xâm chiếm cả Trung Hoa, Nam Dương, Phi Luật Tân, Miến Điện, Phi Châu và Châu Mỹ La Tinh vì sự việc nầy nằm trong thế phát triển, bành trướng  của dạng kinh tế chiếm hữu thuộc địa. (Chống Vatican, đúng thôi v́ Giáo Hội Vatican chỉ phục vụ cho Giáo triều, cho quốc gia’ Vatican và biết bao sự việc nham nhở, ô uế của các Giáo Hoàng, Hồng Y, Linh Mục đă xảy ra và bị lên án. Nhưng chng các tệ nạn do hàng ngũ Giáo sĩ gây ra để rồi từ đó ‘lên án’ Jésus cùng giáo lư của Ngài, nghĩ ra quá đáng v́ không thông hiểu một cách thống quan giáo lư của Ngài).

         

          Đọc Kinh điển tôn giáo, hay lời Phật lời Chúa  bằng đức tin thì chỉ duy kẻ có đức tin mời nhận ra, đúng hơn là mới tin, không cần suy diễn, luận lý gì cả, vì đức Tin được xem là thứ ‘mặc khải’, là do ‘ơn trên’, do « ơn gọi’. Nếu chỉ bằng Đức Tin không thôi thì cứ đọc Kinh, cứ cầu nguyện, cần gì phải học giáo lý, phải nghe Linh Mục, Mục Sư giảng giải Kinh Thánh hay lời Chúa, lờ̀i Thánh nầy Thánh nọ ?  Người Phật giáo thường bảo đức tin chỉ có nơi tín đồ Ki-Tô giáo chứ người theo Phật không chú trọng gì về đức tin. Nói như thề, có thể không đúng. Nếu không có đức tin, sao Kinh điển bảo ‘’Ai muốn vãng sinh đến nước Cực Lạc của Phật A-Di-Đà thì nên phát tâm  trì niệm hồng danh Ngài không xao nhãng’’ (Từ Điển Phật Học Hán Việt-nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội 2004, trang 20). Và những lần trì niệm, tụng kệ cũng như cầu xin Phật nầy Phật nọ (Phật A-Di-Đà, Phật Quán Thế Âm) không là thể hiện Đức Tin chẳng khác  người Thiên Chúa giáo cầu xin ân phước của Mẹ Maria. Hơn nữa, qua Kinh điển Phật giáo, chỉ cần trì niệm một chương, một câu hay cả nửa câu trong lời Kinh thì công đức còn nhiều hơn hẳn một kẻ đem của cải nhiều như cát sông Hằng để bố thí : ‘’Gia ̉sử có người dùng toàn bảy môn báu, chứa đầy cả đại thiên thế giới, đem ra bố thí ; công đức của người ấy rất lớn nhưng không bằng có người nghe tên kinh nầy, cho đến chỉ nghe nghĩa một câu, công đức của người nầy nhiều hơn’’ (Kinh Viên Giác - Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản – 1985, trang 84).. Chỉ đọc Kinh điển Tôn giáo thuần bằng Đức Tin, ta không thể thông suốt được nội dung cao sâu của lời Phật, lời Chúa để hiểu ra Phật, Chúa đã giải thích, giải quyết cuộc nhân sinh nhầy nhụa nơi cõi sa bà nầy chứ không riêng rao giảng về mặt Đức Lư cá nhân.

 

          2) Hai lối tư tưởng : Về mặt tư tưởng, trước nay, nhìn chung có hai lối : lốitư tưởng tìm cầuvà lối tư tưởng thể nghiệm’. M. Heidegger gọi là pensée calculante(người viết dịch là ‘tư rưởng tính toán quy hoạch’)  pensée méditante(người viết dịch là ‘tư tưởng suy nghiệm hay mặc nghiệm’  - pensée contemplative).

 

           Tư tưởng ‘tìm cầu’ hay ‘tính toán, quy hoạch’ được ứng dụng thường ngày và các bộ môn Khoa học thực nghiệm luôn áp dụng, kể cả nơi Triết học cần thiết trong việc tìm tòi, nghiên cứu. Thượng Tọa Thích Viên Lý đã viết : ‘’Môt cách nào đó, Khoa học chú tâm vào việc khám phá chân lý để soi sáng ý nghĩa nhân sinh và vũ trụ, đồng thời để tạo ích lợi cho con người. Phật giáo nỗ lực truyền thừa chân lý để mang lại phúc lạc thật sự cho muôn loài. Một bên là thể nghiệm, một bên là tìm cầu. Lẽ tất nhiên, con đường tìm cầu đến một lúc nào đó sẽ trực diện với sự thể nghiệm. Vì chỉ có sự thể nghiệm, chứ không phải sự tìm cầu, mới có thể hội chứng được chân lý’’  (‘Lời Giới thiệu’ tác phẫm ‘Vật Lý Học và Phật Học’ của Tiến sĩ Vương Thủ Ích, Giáo sư Đại học Thanh Hoa (Đài Loan) chuyên về môn ‘Vật Lý Lươợng Tử’ ; bản dịch từ tiếng Hán của Vân Nguyên, Viện Triết Lý VN và Triết Học Thế Giới xuất bản, USA 1994). Tư tưởng ‘tìm cầu’ hay ‘tính toán, quy hoạch’ hoàn toàn dựa theo ‘Luận lý’, theo cái ‘tri thức luận khoa học’, đi từ quan sát, phán đoán, suy luận, chứng minh, …, theo các phương pháp ‘diễn dịch, quy nạp’, tỷ giảo,..các nguyên tắc của ‘Luận Lý học’. Lối tư tưởng nầy dễ đáp ứng với lý trí nhưng không hẳn do đó mà đạt được phần thâm sâu huyền nhiệm nơi tôn giáo.

         

          Tư tưởng ‘thể nghiệm’ là lối tư tưởng do tự thân trầm tư mặc tưởng, thường được nhà Phật gọi là ‘trực chỉ chân tâm, ứng vô sở trụ, tự ḿnh kiến tánh »’, từ đó ứng nghiệm được chân lý. Phần nào lối tư tưởng nầy giống với lối đọc theo Đức Tin.  Lối tư tưởng nầy không dựa vào sách vở, kinh nghiệm, kiến thức của riêng mình cũng như của người nầy người nọ, một lối tư tưởng theo cách ‘tâm truyền tâm, giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự’, như thế phải vượt qua tri thức, ý thức, phải có cái ‘phóng xả  tư duy’ như Giáo sư Vương Thủ Ích đã nói trong tác phẫm dẫn trên, phải có cái ‘Siêu tư duy’ theo Pierre Teilhard de Chardin hay nói theo nhà Phật là phải đoạn diệt Lý chướng (cả Vật chướng). để phần Vô Thức trong ta đột nhiên trổi dậy và ta ‘đại ngộ’ ra Chân lý. Quả chẳng mấy ai đạt được lối Tư tưởng nầy, ngoại  trừ trường hợp được gọi là ‘mặc khải’, ‘thần khải’ (révélation).  Ngay cả đức Phật, lúc ngồi nơi Cội Bồ Đề, đột nhiên phát hiện ra Đạo pháp, cũng đã trải qua bao năm trời đi theo cái ‘tư tưởng tìm cầu’ ngay từ lúc ra các cửa thành rồi băn khoăn về nguyên nhân, cội nguồn của đau khổ. Lúc thiền tọa nơi gốc Bồ Đề, thoắt nhiên Ngài ‘ngộ’ ra cái chân lư cứu cánh đă làm phát sinh sự Sống cùng vạn hữu. Thực sự không phải Ngài ‘ngộ’ mà chính cái chân lư, cái ‘viên giác tính’ đột nhiên sinh khởi nơi Ngài vừa giải đáp hết mọi băn khoăn, thắc mắc của Ngài lâu nay mà c̣n ‘phóng xả’ tư duy của Ngài để Ngài thoắt nhận ra cái cái huyền nhiệm của Lẽ Đạo.

 

          Theo người viết, chỉ thiên về một cách đọc, một cách tư tưởng hay tư duy riêng rẽ trên, sẽ không khó lòng đạt được những huyền nhiệm, thâm sâu nơi Kinh điển tôn giáo, khó lòng lãnh hội được giáo lý của Phật, của Chúa. Cứ hoàn toàn ‘tận tín kinh điển’ cứ chủ ý phân tích, diễn giải từng lời, từng từ ngữ nơi Kinh điển thì không những đã chẳng thể hiểu , chẳng thể  nhìn ra được cái Chân Lý uyên thâm, rốt ráo mà còn ‘lạc lối’, còn đôi khi ‘đi ngược’ lại giáo lý Phật, Chúa. Người viết nghĩ cần kết hợp cả hai cách đọc, hai cách tư duy trên mới có thể nhìn ra lời hai Ngài. Một lời của Phật có thể hướng dẫn chúng ta : ‘Bất trụ vô vi, bất tận hữu vi’ (Kinh Duy Ma, phẩn ‘Pháp Môn không hai’, bản dịch của Thích Huệ Hưng, Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản, 1986, trang 107 đến 109). Lâu nay, chúng ta thường trích từng câu, từng đoạn trong Kinh điển để nhận định, phán đoán, phê bình, do đó dễ lệch lạc theo ý thức chủ quan, giới hạn của chúng ta. Thiết nghĩ nên hiểu lời hai Ngài trong toàn bộ giáo lý của hai Ngài để có được cái nhìn thống quan hầu nhận ra rằng giáo lý của hai Ngài ̉nói đến cái điều cao sâu, huyền nhiệm , đấy  ‘diễn tiến tiến hóa của vạn hữu, trước tiên là nhân sinh’ .

         

          Hai Ngài là hai nhà tư tưởng lớn đã nhìn ra dòng tiến hóa của chủng loại người chúng ta từ thế giới hiện tượng dẫn vế thế giới tính thể, thế giới ‘phi hiện tuợng’, từ cõi thế gian hay tục đế nầy dẫn vào cảnh giới Thiên Đàng, cảnh giới ‘Bờ Bên Kia’ để thoát khỏi chi phối của ‘nhân duyên sanh’, thoát vòng sinh tử luân hồi, có nghĩa đạt được cảnh sống đời đời. . Hành trình diễn tiến Tiến hóa đó của nhân sinh đã được Đạo học Đông phương từng nói qua các câu : ‘’Van vật đồng nhất thể’’ và ‘’Tât cả từ Một trở về với Một’’. Đức Phật cũng đã nói : ’Van hữu bản lai đồng’’ và ‘’Nhất tức Nhất thiết, Nhất thiết tức Nhất’’, Chúa Jésus từng xác định : ‘’Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là thứ nhứ́t  và là sau chót, là đầu và là rốt’’ (từ TA nơi đây không là Jésus mà là Đức Chúa Trời). Xin hãy trầm tư, suy nghiệm những lời trên và hiểu được như vậy, chúng ta sẽ thoát ra khỏi mọi tranh cãi, mọi kỳ thị  giữa hai tôn giáo.

         

          Lời Chúa, lời Phật nói đến và chỉ cho ta thấy cái ‘Chân lý siêu thế tục’, cái ‘Chân lý Cứu Cánh’ (vérité ultime) vượt lên trên mọi ‘Chân lý thế tục’, mọi ‘Chân lý qui ước’ (vérités conventionnelles) của cõi hiện tượng nầy. Đọc Kinh điển tôn giáo, ta cần tìm hiểu những ẩn dụ qua lời hai Ngài vì hai Ngài luôn nói bằng thí dụ, bằng dụ ngôn, bằng ‘ẩn ngữ, nhiều khi nghe ngược ngạo, khiêng cưỡng và ‘mâu thuẫn’ nhau nữa. Cái Chân lý cứu  cánh’ đó, Khoa Học ngày nay đang trên khuynh hướng tìm đến. « Khuynh hướng chung của Toán học và Khoa học  chẳng là phá vỡ dần mọi qui ước để tiến tới khám phá cho kỷ được cái không còn có thể qui ước, cái thoát ra khỏi mọi qui ước, cái không còn cần đến qui ước, tức cái cảnh giới ‘vô sở trụ’, cảnh giới ‘bờ bên kia’, cảnh giới Vô Dư Niết Bàn, cảnh giới Thiên Đàng, cảnh giới của ‘Cha ta ở trên trời’ » mà Phật, Chúa đã nói qua cách lập ngôn u mật. Khoa Học lâu  nay khám phá mọi thứ ‘hữu h́nh hữu hoại’, sẽ đến lúc rốt ráo đối diện với những thứ ‘vô h́nh vô hoại’, lúc đó sẽ nh́n ra những điều cao sâu của tôn giáo lâu nay từng nói nhưng không chứng minh.

 

          Những bài viết của các ông Trần Chung Ngọc (đă qua đời), Nguyễn Mạnh Quang, và nhiều người nữa thuộc nhóm Giao Điểm nói chung hoàn toàn do định kiến có sẵn, hoàn toàn theo quan điểm Cộng sản, nếu không muốn nói là ‘công cụ’ của Cộng sản, viết bài theo ‘đơn đặt hàng’ (!) của Cộng sản, chứ thật ra chưa gọi là hiểu được lời Phật, lời Chúa. Theo lời  Phật, quí ông chỉ là những ‘tăng thượng mạn’, những kẻ ngạo thái’ chưa chứng mà cho là đã chứng, chưa đắc mà nghĩ là đã đắc, chưa hiểu mà cho là đã hiểu. Các bài viết của quí ông đó chỉ nhằm đánh phá Cộng đồng người Việt hải ngoại, gây chia rẽ quần chúng tín đồ hai tôn giáo, làm gia tăng hai đại nạn ‘Quốc nạn và Pháp nạn’ thôi.. Xin gởi đến quí ông lời Chúa Jésus : ‘’Khốn nạn  thay cho ai là kẻ gây nên phạm tội !’’.

 

          Và những ai bênh vực, đề cao tôn giáo mình, ‘kỳ thị’ tôn giáo khác (chỉ xin nói về Phật giáo và Ki-Tô giáo) cũng đã phần nào làm gia tăng cơn Pháp nạn. Xin gởi đến quí vị lời Chúa Jésus : ‘’Các ngươi đã được lănh không thì hãy cho không’’. 

         

          Người viết không có ý bảo là không nên nói đến vấn đề Tôn giáo mà chỉ nhằm yêu cầu quí vị cứ việc trình bày tôn giáo mình nhưng tránh mọi ‘va chạm, bài bác’ tôn giáo bạn, nhất là trong giai đoạn hiện nay mà cả hai Tôn giáo đều đang là nạn nhân, đang lâm vào tình trạng phải đối đầu với Sa-Tăng, với quỷ đỏ, lớp người đang tìm mọi cách  thâm độc ‘triệt tiêu’ tôn giáo hầu không còn lực lượng nào đủ sức cản ngăn mộng đồ bán nước buôn dân của họ..

         

          Vậy xin cứ ‘làm tốt’ phần Đạo của tôn giáo mình, tránh hết mọi tranh chấp, chống đối nhau giữa hai tôn giáo để không rơi vào thủ đoạn thâm độc của Cộng sản mà gây thêm đau thương, tang tóc cho tình dân, cảnh nước nơi quê nhà cùng không gây thêm cớ phân hóa Cộng Đồng người Việt nơi hải ngoại.  Mong lắm thay !

 

 

Nguyễn Thùy

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính