Đằng Giang máu vẫn đỏ bờ sông xưa!

 

Nguyễn Thiếu Nhẫn

 

 

 

“Hỡi quân Đại Hán cuồng rồ

Đằng giang máu vẫn đỏ bờ sông xưa

Bọn bây chớ có nằm mơ

Đằng giang cọc nhọn đang chờ bọn bây!” 

 

Năm Kiến Vũ thứ mười, tức năm Giáp Ngọ 34 sau Tây Lịch, vua Hán là Quang Vũ Đế cử Tô Định làm Thái Thú quận Giao Chỉ. Năm 40, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, đuổi Tô Định ra khỏi thành Luy Lâu, gây nền tự chủ cho dân Việt trên địa giới cũ của các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố.<!>

 

Nền tự chủ ấy chưa được bao lâu, tháng Chạp năm Kiến Vũ thứ 17, tức tháng 1 năm 42 sau Tây lịch, Hán Quang Vũ cử Mă Viện Nam chinh, đánh lấy lại đất Giao Châu.

 

Mă Viện là một đại danh tướng của Đông Hán, được mệnh danh là “Phục Ba tướng quân”, tức là Tướng quân hàng phục sóng dữ. Năm ấy Mă Viện đă 70 tuổi, vừa dẹp xong cuộc nổi loạn của Lư Quảng ở Hoăn Thành, thuộc tỉnh An Huy, Trung Quốc ngày nay. Mă Viện có hai phó tướng Lưu Long và Đoàn Chí. Họ Đoàn phụ trách thủy quân. Mă Viện mang một vạn quân lấy ở các quận Trường Sa, Linh Lăng, Quế Dương và Thương Ngô; từ Hồ Nam xuôi xuống Lưỡng Quảng. Tại những vùng chưa thuộc ảnh hưởng của Hai Bà Trưng, Mă Viện tuyển thêm một vạn hai ngàn quân bộ rồi hội binh với thủy quân của Đoàn Chí tại Hợp Phố, tức vùng bán đảo đối diện đảo Hải Nam bây giờ. Mă Viện theo đường thủy tiến vào Quảng Yên, theo sông Thái B́nh tiến vào Trung Châu.

 

Quân Đông Hán đông hơn về số lượng, thiện chiến hơn, lại được chỉ huy bởi một danh tướng đă có gần nửa thế kỷ cầm quân. Trong khi đó, quân Nam tuy ḷng yêu nước có thừa, nhưng số lượng đă ít, lại là quân ô hợp. Đánh nhau nhiều trận cho đến tháng 4 năm 43. Quân Nam và quân Đông Hán giao chiến với nhau một trận lớn tại hồ Lăng Bạc.     

 

Nam quân thua trận, Hai Bà lui về Cẩm Khê. Theo sử nước ta th́ Hai Bà tự trầm ở Hát Giang. 

 

Mă Viện lập lại nền đô hộ ở Giao Châu, lại dựng một cột đồng to, cho khắc mấy chữ: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt!”. Tức “cột đồng găy th́ Giao Chỉ sẽ bị diệt!”

 

*

 

Năm Bính Tuất 1406, Minh Thành Tổ hạ chiếu đánh nước ta, lúc ấy do nhà Hồ cai trị đă được sáu năm. Thành Quốc Công Chu Năngđược phong làm Đại tướng, Tán B́nh Hầu Trương Phụ và Tây B́nh Hầu Mộc Thạnh làm tả, hữu phó tướng. Phong Thành Hầu Lư Bân, Vân Dương Bá Trần Húc làm tả, hữu tham tướng, chia quân làm hai đạo tiến sang nước ta.

 

Khi đến Long Châu, Quảng Tây th́ Chu Năng bị bệnh chết. Trương Phụ lên thay, theo lối Bằng Tường, từ Quảng Tây đánh vào ải Nam Quan. Mộc Thạnh đi ngă Vân Nam, đánh vào Phú Lĩnh, xuôi theo sông Thao mà xuống, họp cùng Trương Phụ tại Bạch Hạc, Vĩnh Yên. Tháng Chạp năm Bính Tuất 1406, Trương Phụ đánh thành Đa Bang. Trương Phụ cùng Đốc tướng Trần Duệ đánh mặt Đông Nam, đều dùng thang vân thê để leo thành. Thành vỡ, quân Minh tiến xuống Đông Đô, tức Hà Nội ngày nay.     

 

Tháng 3 năm Đinh Hợi 1407, Mộc Thạnh đem quân thủy lục tiến xuống Mộc Phàm giang, hạ trại hai bên bờ sông. Tả Tướng quốc Hồ Nguyên Trừng, là con thứ của Hồ Quư Ly đem 300 chiến thuyền đánh vào Mộc Phàm, bị quân Minh tập công từ hai phía phải rút lui về cửa Muộn Hải, thuộc huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định bây giờ, hợp với hai tướng Hồ Đô, Hồ Xạ đào hào đắp lũy, tính kế pḥng thủ lâu dài.

 

Hồ Nguyên Trừng rước Thái Thượng Hoàng Hồ Quư Ly và vua Hồ Hán Thương ở Tây Đô ra Hoàng Giang, mở một trận phản công lớn vào Hàm Tử. Thủy lục của Hồ Nguyên Trừng lúc ấy có 7 vạn. Hồ Xạ, Trần Đĩnh đánh vào bờ phía Nam, Đỗ Nhân Giám, Trần Khắc Trang đánh vào bờ phía Bắc. Thủy quân do Đỗ Măn, Hồ Vấn chỉ huy.

 

Quân Minh để quân Nam vào sâu trong trận mới ra đánh. Quân Nam đại bại. An phủ sứ Bắc Giang là Nguyễn Hy Chu bị bắt và bị Trương Phụ chém. Thượng Hoàng Hồ Quư Ly và Hán Thương chạy ra bể lui về Thanh Hóa. Quân Minh đuổi theo rất gấp. Quư Ly lại chạy vào Nghệ An. Tháng 5 năm ấy (1407) Quư Ly và Hán Thương đến cửa Kỳ La, nay thuộc huyện Kỳ Anh tỉnh Nghệ An.

 

Trương Phụ sai Mộc Thạnh đi đường bộ, Liễu Thăng đi đường thủy vây bắt được Hồ Quư Ly, Hồ Hán Thương, Tả Tướng Quốc Hồ Nguyên Trừng, Hữu Tướng Quốc Hồ Quư Tỳ, em ruột Hồ Quư Ly cùng nhiều đại thần. Tất cả bị giải về Kim Lăng, Trung Hoa.

 

*

 

Cũng năm Đinh Hợi 1407, Giản Định Vương Trần Quỹ, con thứ vua Trần Nghệ Tông phất cờ khởi nghĩa, được Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân theo pḥ tá, ḷng người theo về. Tháng Chạp năm Mậu Tư 1408, Giản Định Đế từ Hóa Châu tiến ra phía Bắc. Tướng Minh đang cai trị nước ta là Lữ Nghị cấp báo về Kim Lăng. Minh Thành Tổ phái Mộc Thạnhđem 4 vạn quân từ Vân Nam sang cứu viện. Giản Định Đế muốn thừa cơ đánh thẳng ra Đông Đô, c̣n Đặng Tất lại chủ trương đợi quân các nơi về đông đủ rồi hăy tấn công. Vua tôi bất ḥa, Giản Định Đế nghe lời dèm pha giết Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân, ḷng người chán nản.

 

Con Đặng Tất là Đặng Dung và con Nguyễn Cảnh Chân là Nguyễn Cảnh Dị đem quân bản bộ bỏ Giản Định Đế về Hà Tĩnh lập cháu vua Nghệ Tông là Trần Quư Khoách lên ngôi, hiệu là Trùng Quang. Quư Khoách sai Nguyễn Súy bắt Giản Định Đế đưa về tôn làm Thái Thượng Hoàng để thống nhất hai đạo quân kháng chiến.

 

Trương Phụ lại đem viện binh từ Trung Hoa sang. Quân kháng chiến sức yếu, thua nhiều trận phải lui về phía Nam. Tháng 6 năm Quư Tỵ 1413, quân Minh chiếm Nghệ An, tháng 9 đến Hóa Châu. Quân kháng chiến phản công được vài trận nhưng cuối năm ấy, Quư Khoách cùng các tướng đều bị bắt. C̣n Giản Định bị bắt trước đó đă giải về Kim Lăng.

 

Trương Phụ cho giải Trùng Quang Đế Quư Khoách, Nguyễn Suư, Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị về Yên Kinh, Trung Quốc. Dọc đường, vua Trùng Quang nhảy xuống biển tự vận, c̣n các Tướng kia cũng tử tiết cả.

 

Tháng Tư năm 43, tháng Năm năm 1407, tháng Mười Một năm 1413 đều là những năm tháng đen tối của đất nước. Trong những năm tháng ấy, đất nước rơi vào tay giặc; lănh đạo đất nước kẻ tự sát, người bị bắt, bị giết; dân tộc lầm than.    

Nhưng lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc đă nhiều lần chứng minh rằng những giờ phút đen tối ấy rồi sẽ qua đi, bởi dân tộc Việt Nam là một dân tộc bất khuất và không chấp nhận bị ngoại bang thống trị. Bà Trưng mất th́ đến Bà Triệu, đến Lư Nam Đế, Triệu Việt Vương. Triệu Việt Vương mất lại có Mai Hắc Đế và Bố Cái Đại Vương, họ Khúc và cuối cùng là Ngô Quyền giành lấy độc lập.

 

Nhà Hồ vừa bị tiêu diệt th́ đến Giản Định Đế, Trùng Quang Đế của nhà Hậu Trần. Nhà Hậu Trần dứt th́ chỉ năm năm sau, B́nh Định Vương dấy nghĩa ở đất Lam Sơn, mười năm kháng chiến gian khổ để nước nhà độc lập hơn bốn trăm năm.

 

Mă Viện đă đánh dấu chiến công của ḿnh ở phương Nam bằng cách dựng lên một cột đồng và ngạo nghễ khắc vào đó một lời nguyền, đe dọa diệt chủng: Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt. Cây cột đồng ấy không bao lâu đă bị chôn vùi dưới những viên đá được ném đi bởi ḷng căm hờn của những người bị trị; tuy sức yếu nhưng không thiếu tinh thần quật khởi.

 

Năm Vĩnh Tộ thứ 10, đời vua Lê Thần Tông (1619-1643), Giang Văn Minh quê ở Đường Lâm đỗ Thám Hoa. Năm Dương Ḥa thứ 3, cũng đời vua Lê Thần Tông, ông được cử đi sứ sang nhà Minh để nạp đồ tiến cống. Trước mắt bá quan văn vơ và sứ thần các tiểu quốc khác; để thử tài sứ thần nước Việt, vua nhà Minh đă trịch thượng ra câu đối:

 

Đồng trụ chí kim đài dĩ lục

(Cột đồng đến nay rêu đă xanh)

 

Sứ thần Việt quốc ngạo nghễ đối lại:

Đằng giang tự cổ huyết do hồng.  

(Sông Đằng từ xưa máu c̣n đỏ)

 

Câu đối của sứ thần Giang Văn Minh vừa đanh thép vừa tràn đầy tinh thần tự hào dân tộc, nhắc lại ba lần máu nhuộm Đằng Giang: Ngô Vương Quyền giết Hoàng Thao, phá quân Nam Hán, Lê Hoàn diệt quân Tống năm 981 và Hưng Đạo Đại Vương phá Nguyên năm 1288. Mất mặt, vua Minh nổi giận đă làm một chuyện tàn ác là ra lệnh mổ bụng Giang Văn Minh để xem gan sứ Việt bao lớn. Rồi cho khâm liệm và trả di hài về nước.

 

Vua Lê Thần Tông vô cùng thương tiếc đă thân hành làm lễ tế với lời điếu:

 

“Sứ bất nhục quân mệnh, khả thi vị thiên cổ anh hùng”.

(Tức là: Đi sứ không làm nhục mệnh vua, xứng đáng là bậc anh hùng ngàn thuở).

 

Có một sự trùng hợp lạ lùng: Giang Văn Minh quê ở Đường Lâm cũng lại là quê của Ngô Vương Quyền, người đă lập chiến công đầu tiên trên Bạch Đằng Giang với lời thơ hùng tráng của Phạm Sư Mạnh đời Trần:

Hung hung Bạch Đằng đào,

Tưởng tượng Ngô Vương thuyền

 

(Bạch Đằng cuồn cuộn sóng trào

Tưởng thuyền Ngô Chúa hôm nào trên sông).

 

*

 

Cuộc đô hộ của nhà Minh đối với nước Việt kéo dài 20 năm, nhưng thực sự chỉ có 5 năm hơi yên ổn từ 1413 cho đến năm 1418 là năm mà B́nh Định Vương xướng nghĩa. Giặc  dù mạnh cũng khó ngồi yên ổn đặt ách cai trị lên đất nước Việt bởi v́:

 

“Nước Đại Việt ta từ trước,

Vốn xưng văn hiến đă lâu.

Cơi bờ cương vực đă chia,

Phong tục Bắc Nam cũng khác.

Từ Đinh, Lê, Lư, Trần gây nền độc lập

Cùng Hán, Đuờng, Tống, Nguyên hùng cứ một phương.

Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau

Nhưng hào kiệt đời nào cũng có…”

(B́nh Ngô đại cáo)

 

TranBachDang

Hoàn cảnh của miền Nam sau 1975 có hơi khác hơn một chút. Miền Nam đă thực sự bị xâm chiếm và đặt lên một ách cai trị hết sức hà khắc bởi chính những người cộng sản cùng màu da, cùng ḍng máu. Tám mươi bốn triệu dân cả nước bây giờ tuy không phải chịu cảnh bị ngoại nhân trực tiếp đô hộ như thời Đông Hán, thời Minh, nhưng bị đô hộ bởi một giai cấp bóc lột, phi nhân là đảng Cộng Sản. Cho đến giờ này, những quyền tự do căn bản nhất của tám mươi bốn triệu người dân chỉ có trên giấy tờ và các ống loa tuyên truyền của đảng. Các quyền tự do căn bản nhất ấy đối với người dân chỉ là những giấc mơ chưa với tới.

 

Có người sẽ hỏi: Các người đă tranh đấu, đă kêu gào ba mươi lăm năm nay mà chế độ Cộng sản Việt Nam có sụp đổ đâu?

 

Xin thưa rằng chưa. Chưa chứ chẳng phải là sẽ không bao giờ! Nếu những người dân Đông Âu cứ chấp nhận rằng chế độ Cộng sản Đông Âu sẽ không bao giờ sụp đổ; không  có cuộc đấu tranh ở Ba Lan, không có những đợt sóng ngầm ở Đông Đức, Tiệp Khắc, Hung Gia Lợi, Bảo Gia Lợi… Nếu thế giới cũng nghĩ như vậy và cũng ngồi yên th́ Cộng Sản Đông Âu sẽ không nối nhau sụp đổ trong năm 1989.

 

Đó là một tấm gương, xin những ai chủ bại cho rằng cuộc đấu tranh để giải trừ Cộng Sản ở nước ta hiện nay là lỗi thời hoặc vô vọng. Đó chỉ là những lời xảo ngôn để che dấu tinh thần cầu an, trốn tránh trách nhiệm.

 

Đố chúng tắc mộc chiết; Nghị đa tắc đê quyết.

Nhiều mọt sẽ làm đổ cây; Nhiều tổ kiến sẽ làm sụp đê! 

 

Nhiều suối nhỏ sẽ thành sông lớn. Hàng ngàn sự chống đối đấu tranh, tưởng chừng vô vọng từ mọi phía, góp lại sẽ thành cơn băo lớn đối với Cộng sản Hà Nội.

 

*

 

Những năm tháng đen tối của lịch sử đất nước đă qua đi v́ chúng ta đă có Trần B́nh Trọng thà làm quỷ nước Nam, đă có Trùng Quang Đế, Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị tử tiết khi nước mất, có Tổng Đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết theo thành khi thành mất.

 

Những năm tháng đen tối của đất nước ta hiện nay cũng sẽ qua đi v́ năm 1975 chúng ta đă có Phạm Văn Phú, Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ, Hồ Ngọc Cẩn, Phạm Đức Lợi, Nguyễn Văn Long… Và sau năm 1975, chúng ta đă có Trần Văn Bá, Lê Quốc Quân cùng hàng ngàn anh hùng, liệt sĩ khác mà rồi một ngày không xa lịch sử sẽ t́m đến để ghi tên.

 

Những năm tháng đen tối hiện nay rồi cũng sẽ qua đi v́ hiện nay trong cũng như ngoài nước vẫn c̣n những người âm thầm hy sinh cho đại cuộc bằng cách này hay cách khác.

 

Xă tắc từ đây vững bền,

Giang sơn từ đây đổi mới…

(B́nh Ngô đại cáo).

 

*

 

Dân tộc nào, đất nước nào lại chẳng phải trải qua những tháng năm đen tối, đau buồn. Dân tộc và đất nước Việt Nam cũng thế. 

Đất nước ta lại bất hạnh nằm cạnh một nước Trung Hoa rộng lớn lúc nào cũng nuôi giấc mộng cuồng rồ bành trướng lănh thổ về phương Nam. Nhưng, với một quá khứ “một ngàn năm đô hộ giặc Tàu, một trăm năm nô lê giặc Tây, 30 năm nội chiến từng ngày”, dân tôc ta, đất nước ta vẫn kiên cường, bất khuất, ngẩng cao đầu không bao giờ chịu khuất phục ngoại bang.

 

Đảng CSVN, qua việc làm của tên tội đồ của dân tộc là Hồ Chí Minh và những kẻ thừa kế đă là “những con đĩ Mỵ Châu” - nói theo cách nói của nhà văn Dương Thu Hương - đă hiến đất, dâng biển và đang “dạng háng” chờ những tên Trọng Thủy tân thời đem quân xâm chiếm nước ta. 

 

Cuộc biểu t́nh ngày 5 tháng 6 năm 2011 vừa qua do những lời kêu gọi của nhóm Nhật Kư Yêu Nước trên mạng xă hội facebook đă xảy ra ở hai thành phố Hà Nội và Sàig̣n đă mở ra một phương thức tranh đấu mới cho công cuộc tranh đấu Đ̉I LẠI QUYỀN LÀM NGƯỜI mà CSVN đă tước đoạt của toàn dân Việt Nam trong suốt hơn 60 năm qua.

 

Hỡi các anh em Quân Đội Nhân Dân yêu nước, thương ṇi; hỡi các anh em “Công an Nhân dân là bạn của dân” hăy cùng hợp lực với toàn dân Việt Nam chém chết “những con đĩ Mỵ Châu đang dạng háng chờ những tên Trọng Thủy đem quân đến xâm chiếm nước ta!”

 

Hỡi 84 triệu người dân trong nước và 3 triệu người Việt tỵ nạn tại hải ngoại hăy hô to lời hịch:

 

“NAM QUỐC SƠN HÀ NAM ĐẾ CƯ…”

Và xin noi gương sứ thần Giang Văn Minh khẳng khái trả lời bọn giặc bành trướng phương Bắc tân thời: 

ĐẰNG GIANG TỰ CỔ HUYẾT DO HỒNG!

 

*

 

“Hỡi quân Đại Hán cuồng rồ

Đằng giang máu vẫn đỏ bờ sông xưa! 

Bọn bây chớ có nằm mơ

Đằng giang cọc nhọn đang chờ bọn bây!”

 

 

Nguyễn Thiếu Nhẫn

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính