Bao giờ nỗi hận sầu thế kỷ của người dân Miền Nam sẽ được giải oan?

 

Nguyễn Thiếu Nhẫn

 

 

Dẫn nhập: Nhà hoạt đông cộng đồng Tôn Nữ Hoàng Hoa với bài tâm bút “Nỗi hận sầu thế kỷ của người dân Huế” đã chạm đến trái tim của nhiều người xứ Huế – nạn nhân của cuộc thảm sát Tết Mậu Thân.

 

Bài viết sau đây sẽ trình bày nỗi hận sầu thế kỷ của những người dân Miền Nam với ước vọng cuộc bể dâu này sẽ được giải oan.

 

1.TỪ “NGÀN GIỌT LỆ RƠI”

 

Trong bài “Cuộc chiến cách tân Việt Nam khỏi chủ nghĩa Cộng Sản”, nhà nghiên cứu Lê Quế Lâm cho rằng cuộc chiến tại Việt Nam là một cuộc chiến cách tân để đưa đến việc giải thể chế độ Cộng sản Việt Nam. Và tác giả cũng đă giới thiệu nhà văn Yung Krall, tức Đặng Mỹ Dung (từ nay viết tắt là ĐMD) với tác  phẩm A Thousand Tears Falling tức Ngàn Giọt Lệ Rơi (NGLR).

 

Theo ông Lê Quế Lâm th́, bà ĐMD đă chống Cộng có ư thức ngay từ buổi thiếu thời, khi bà sống với cha là ông Đặng Quang Minh, một đảng viên CS nhiệt thành trong các bưng biền kháng chiến. Và tác giả Lê Quế Lâm đă trích dẫn một số ư thức của bà ĐMD trong tác phẩm NGLR, như sau:

 

 “Tôi nhớ hoài ngôi nhà ở gần ngă tư Ong Vèo. Ngôi nhà ngói đỏ, trước hiên có bốn cây cột gỗ mun to tướng. Nhà này không phải là nhà riêng, mà là cơ quan hoạt động chánh trị của ba tôi. Má tôi biết Việt Minh lấy nhà của những điền chủ giàu có để làm trụ sở, các cơ quan và nhà ở cho gia đ́nh cán bộ. Má tôi không thích chủ trương cướp nhà kiểu này, mà phải âm thầm sống trong hoàn cảnh trái với lương tâm ḿnh. Rồi má tôi xin tiền của ông bà ngoại để lén trả tiền mướn nhà và đất cho chủ điền. Và mỗi lần di chuyển đến địa phương khác, VM vẫn mượn nhà, mượn đất như vậy. Má tôi phải trả tiền để không bị lương tâm cắn rứt. Đó là một phim tài liệu trắng đen chiếu đi chiếu lại trong tâm khảm tôi mà má tôi là người kể chuyện”. Lúc đó MD 5 tuổi.

 

 Sau đó, gia đ́nh MD theo cha tới “Kim Qui. Là một rừng tràm sát bên bờ rừng U Minh, có con kinh chảy ra biển, gần Đá Bạc. Thế là có sự hiện hiện của nhiều khuôn mặt “đưa đám” trong nhà… Đó là các cán bộ từ phương xa đến, có người nói giọng Nam, có người nói giọng Huế, giọng Trung; và có cả người nói giọng Bắc… Đối với ba tôi th́ người miền nào đến đây cũng là đồng chí của ông”.

 

NGLR nhắc đến địa điểm Kim Qui Đá Bạc, khiến người đọc “rùng ḿnh rởn tóc” về tội ác của CS. Nơi đây Việt Minh đă giết hại rất nhiều người yêu nước, điển h́nh là ông Hồ Văn Ngà, thủ lănh Việt Nam Quốc gia Độc lập Đảng.

 

Giữa tháng 8/1945, được tin Nhựt đầu hàng, ông Hồ Văn Ngà đứng ra kêu gọi các đảng phái chính trị và tôn giáo hăy đoàn kết lại, thành lập “Mặt trận Quốc gia Việt Nam Thống nhất” “đấu tranh chống thực dân Pháp sắp trở lại Nam Kỳ, để bảo vệ nền độc lập tự do”. Khi Việt Minh rút lui khỏi Sàig̣n trong đêm 23/9/1945, ông cùng Nguyễn Văn Sâm, Trần Văn Ân, Kha Vạng Cân thành lập Ủy ban Phong tỏa Đô thành Sàig̣n-Chợlớn để chống Pháp. Nửa đêm hôm đó, VM tới bắt ông dẫn đi biệt tích. Về sau người ta được biết năm 1946, ông Hồ Văn Ngà bị đập chết bằng củi đ̣n, thi hài bị thả trôi sông ở vùng Kim Qui Đá Bạc (Nguyễn Long Thành Nam, Phật Giáo Ḥa Hảo trong ḷng lịch sử dân tộc, Nxb Đuốc Từ Bi, California, 1991, Tr.366). Trong sách Hơn Nửa Đời Hư, ông Vương Hồng Sển đă kể lại khi bị VM quy tội Việt gian, ông Hồ Văn Ngà đă trả lời như sau: “Các anh muốn giết tôi th́ giết mà đừng gán cho tôi tội Việt gian” (Nxb Văn Nghệ, California, 1995, tr.162).

 

Tác giả ghi lại kư ức ngày Tết đầu năm 1955 tại nhà ông bà ngoại, năm ĐMD 9 tuổi, trước khi thân sinh cô và các cậu lên đường tập kết ra Bắc.

 

“Bữa cơm cuối cùng trong gia đ́nh bị gián đoạn bởi một chuyện bất thường xảy ra. Trong khi chúng tôi đang ăn, một người có trách nhiệm giữ an ninh cho ba và mấy cậu bước vô, xin nói chuyện với cậu Chín Thùy…Một lát sau ba tôi trở lại bàn ăn, nói cho gia đ́nh biết là có một người đàn ông muốn băng qua lộ để về Cái Thanh, một làng nhỏ bên kia quốc lộ số 4. Ông ta nói rằng má của ông đau nặng, ông muốn về thăm má. Không một ai trong nhóm giữ an ninh biết ông là ai, nên họ quyết định giữ người này lại. Ông ngoại ngồi nhâm nhi cốc rượu, chờ ba tôi dứt lời mới lên tiếng: “Thà bắt lầm hơn thả lầm, phải không con?” Ông cho rằng ba tôi không có quyền quyết định khi chuyện có liên quan đến gia đ́nh người khác. Ông nói “Nếu má thằng Khôi đau nặng, cậu muốn thằng Khôi về thăm má nó, con tính làm sao?”

 

Sau bữa ăn, cậu Chín dẫn người đàn ông vô nhà. Ông ta là một nông dân. Chân ông c̣n dính x́nh khô, quần xắn lên khỏi đầu gối và ướt nhẹp. Ông khép nép ngồi bên mép chiếc ghế đẩu, mặt đầy lo sợ. Ông cúi đầu chào gia đ́nh tôi, nhưng không dám nh́n thẳng mặt ai. Người đàn ông lập đi lập lại lư do cần phải băng qua lộ đêm đó “Má tui đau nặng, tui phải gặp bả trước khi bả nhắm mắt ông à”. Tôi thấy bác nông dân ôm mặt khóc.. Tim tôi đau nhói khi tôi nghe tiếng nức nở của bác.. Tôi nh́n người đàn ông trạc tuổi ba tôi, ngồi trước mặt ba tôi và các cậu Tư, cậu Chín. Những người đàn ông này đều có mẹ già, ai cũng biết thương yêu, và ai cũng được yêu thương. Rồi tôi tự hỏi cái ǵ đă tạo nên sự khác biệt giữa người đàn ông này và những người đàn ông trong gia đ́nh tôi? Người nông dân nầy đă vô t́nh đem tôi ra khỏi cái nôi của “cách mạng”. Lần đầu tiên trong tuổi thơ, tôi dám nghĩ thầm rằng hành động đêm đó của ba tôi vừa tàn nhẫn, vừa sai bét. Tôi nói thẳng với ông là ba không công bằng với người nông dân nên tôi ngủ không được.

 

Hai mươi năm sau (1975) tác giả đến thăm cha ở Tokyo, là kẻ vừa chiến thắng….

 

“Khi bước vào pḥng ông, tôi thấy ông đang ngồi cạnh một xấp giấy, trông giống thẻ căn cước, nhưng lớn hơn. Tôi ṭ ṃ cầm một thẻ lên coi th́ biết đó là giấy gọi nhập ngũ của Mỹ. Giấy này được gởi đi vào tháng 7/1969 cho một thanh niên 19 tuổi. Lúc đầu tôi nghĩ đây là thẻ động viên của một người lính Mỹ tử trận. Một niềm thương cảm tràn ngập trong ḷng. Chết cho tổ quốc là một vinh dự. Nhưng t́nh thương bị dập tắt ngay khi ba tôi cho biết những thẻ động viên đang để trên bàn là những thẻ của những tên phản chiến. Khi nhận được lệnh nhập ngũ th́ chúng bỏ trốn, rồi gởi những thẻ này đến Ṭa Đại sứ của MTGPMN. Tôi giận tím người khi biết chúng là những tên phản quốc. Như đổ dầu vào lửa, ba tôi vui vẻ nói; “Điều đó chứng tỏ rằng Mỹ đă sai lầm khi tham chiến ở VN”.

 

Tôi chưa cần phân tích xem Mỹ sai lầm ở chỗ nào, nhưng đă nhận ra một sự thật làm tan nát tim tôi. Đó là sự ngăn cách giữa hai cha con tôi quá lớn; chúng tôi gặp nhau chỉ để xa nhau thêm mà thôi. Lẽ thường ở đời, ai không muốn ngả theo phe thắng, để mưu cầu danh lợi cho riêng ḿnh. Nhưng tôi th́ không, tôi không bao giờ phản lại Quốc Gia, phản lại lư tưởng mà gia đ́nh tôi đă đi theo. V́ lư tưởng đó mà em trai tôi đă chết khi mới chập chững bước vào binh nghiệp. Tôi nghiêm giọng nói với ba tôi: “Hạng người phản chiến nầy chỉ là những tên phản quốc, hèn nhát, nên mới gởi những thẻ nầy cho kẻ thù”. Ba tôi lắc đầu: “Mỹ nhẩy vào VN là một sai lầm to lớn. Những người Mỹ trẻ này đă sáng suốt nhận ra như vậy”. Tôi căi: “Họ ngay thẳng, thật thà, làm sao hiểu nổi cái lưu manh của cộng sản. Vậy khi Liên Xô và Tàu Cộng viện trợ khí giới cho các du kích của MTGP giết đồng bào, th́ có chính nghĩa không? Cuộc chiến này sai bét v́ người Việt lại giết người Việt”.

 

Ông dịu dàng nói: “Ba không muốn tranh luận với con gái cưng của ba. V́ ba không bao giờ muốn thay đổi cách suy nghĩ của con. Nếu con hài ḷng với niềm tin của con, tức là con đang có hạnh phúc. Đối với ba, gia đ́nh rất đáng quư”. Tôi trả lời “Nhưng đảng của ba c̣n đáng quư hơn tụi con”. Ba tôi chậm răi: “Đất nước trên hết đối với ba. Con can đảm, con đă tự lập, con lo cho con được. Con OK”. Tôi lấn tới: “Tất cả người dân miền Nam cũng đă OK. Vợ của ba, con cái của ba đều là h́nh ảnh của người dân miền Nam sống đơn sơ và hạnh phúc. Chúng con không có ǵ khác biệt với mọi người. Những nhu cầu, những mơ ước của chúng con đều là nhu cầu và mơ ước của hàng triệu dân miền Nam. Và mọi người đă OK, cho đến ngày Hà Nội đem quân xâm chiếm miền Nam”. Ba tôi gật đầu: “Ba biết rơ những nhu cầu của người miền Nam. Ba hứa sẽ cố gắng hết sức ḿnh để đáp ứng những nhu cầu đó”. Tôi chưa kịp nói ǵ thêm, ông đă đề nghị: “Ḿnh nói chuyện khác đi con”.

 

ĐMD từng tâm sự “Tôi yêu ba tôi v́ tôi yêu người đă xả thân cho đất nước. Tôi có làm phiền ḷng ông, chỉ v́ tôi dám nói lên là ông đă bước quá sâu vào cạm bẫy của một lũ người phản quốc”.

 

Để kéo ông ra khỏi cạm bẫy CS ở tuổi cuối đời, trong các cuộc gặp gỡ sau đó ở Paris (1976) và London (1977), ĐMD gợi ư ông về hưu, đoàn tụ với gia đ́nh với lư lẽ: “Ba đă cống hiến gần hết cuộc đời cho dân tộc. Nay đất nước đă ḥa b́nh, ba 68 tuổi rồi, chúng con muốn ba về sống với má và chúng con. Ba chọn một nước trung lập nào ba thích, dành quảng đời ngắn ngủi c̣n lại để má và chúng con được cận kề bên ba. Đó là lẽ công bằng.” Ông dứt khoát: “Ba là người VN, sanh ra ở VN và sẽ chết ở VN.”

 

Trong khi đó, đại diện MTGPMN tại Paris là Phan Thanh Nam và các đồng chí của ông ta ra sức “động viên” ĐMD thuyết phục bà mẹ trở về nước. Y tuyên dương hành động trở về của bà là một chiến thắng lớn của VN, là cái tát vào mặt TT Gerald Ford và Chính phủ Mỹ đă cho CIA bắt cóc bà đem về Mỹ.

 

ĐMD không có ư định “tát vào mặt” chính quyền Hà Nội khi thuyết phục người cha rời bỏ VN. Hành động này chỉ muốn nói lên sự thức tỉnh của một người CS sau khi đạt được mục tiêu cuối cùng. Nhưng ông phản đối ư kiến của con, cho đó là thái độ vô cùng ích kỷ. Ông phải trở về nước, hoàn thành nhiệm vụ giúp Miền Nam tái thiết, để phát triển vững mạnh trong một thời gian năm bảy năm, trước khi thống nhất với Miền Bắc. Trong khi ông lạc quan ở Paris, th́ số cán bộ MTGPMN sau chiến thắng 30/4/1975 đă thấy rơ thân phận của ḿnh, như câu nói của người xưa “Giảo thố tử, tẩu cẩu phanh” (Thỏ chết th́ chó săn bị làm thịt).

 

Kỹ sư Trương Như Tảng, Ủy viên Trung ương MTGPMN và là Bộ trưởng Tư pháp trong Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng ḥa MN đă bày tỏ sự bất măn khi CS chiến thắng MN, “một quyền lực sắt thép bao trùm khắp nước VN. Lúc thắng trận cũng là lúc CS bắt đầu loại bỏ MTGPMN. Trong buổi tiệc đơn sơ được tổ chức vào năm 1977 để chính thức giải thể MTGPMN, Đảng CS và chính quyền Hà Nội không thèm cử đại diện đến dự”.

 

 Ư định thuyết phục thân phụ ĺa bỏ CS bất thành, ĐMD dấn thân vào nghiệp vụ điệp viên chống CS. Nhờ Phan Thanh Nam đón tiếp một cách nồng hậu ở Paris, cô có dịp đặt chân vào trụ sở MTGPMN và văn pḥng bà Nguyễn Thị B́nh trong thời gian diễn ra cuộc đàm phán Paris. ĐMD đă tiếp xúc với Đại sứ Hà Nội Vơ Văn Sung và phát hiện một số cán bộ CS nằm vùng ở Paris. Những ghi nhận về nhân sự và hoạt động của CSVN tại Paris đều được ĐMD báo cáo cho CIA. Cô giữ mối liên lạc với những người CS bạn của ba cô ở Paris, ông có uy tín lớn đối với họ. Những người CS tin tưởng ĐMD với t́nh thương cha sâu đậm, cô sẽ giúp họ thu thập những tin tức kỹ thuật và t́nh báo từ chồng cô. Lần hồi qua sự giao tiếp, cô được Đại sứ Vơ Văn Sung giới thiệu với Chủ tịch hội Việt Kiều yêu nước ở Mỹ và Đinh Bá Thi, đại sứ CSVN ở Liên Hiệp Quốc. Qua Phan Thanh Nam cô gặp Trương Đ́nh Hùng và một số cơ sở CS hoạt động ở Hoa Thạnh Đốn. Hùng nhờ cô chuyển một số tài liệu mật do Ronald Humphrey (một viên chức cao cấp của bộ Ngoại giao HK được phép đọc tài liệu mật) lấy trộm từ Bộ Ngoại Giao. ĐMD trao những tài liệu mật này cho CIA để tráo thành tài liệu giả chuyển đến Ṭa Đại sứ Hà Nội ở Paris. Humphrey có vợ là cháu của một nữ cán bộ CS, ông liều lĩnh hành động để CS sớm cấp giấy xuất cảnh cho vợ.

 

Bọn phản chiến và các hội Việt kiều yêu nước đă tiếp tay giúp CS chiến thắng ở MN. Sau đó chúng ra sức tuyên truyền, phá hoại và tranh thủ đồng bào tị nạn vừa mới đặt chân đến Pháp và Mỹ. Việc ĐMD phát hiện các ổ CS nằm vùng, các tổ chức Việt Kiều yêu nước và ra toà làm nhân chứng để phá vỡ mạng lưới gián điệp của Hà Nội ở Mỹ là một đóng góp lớn giúp củng cố và phát triển Cộng đồng Người Việt Tự do ở HK trong bước đầu h́nh thành khi làn sóng thuyền nhân ồ ạt đến Mỹ hồi cuối thập niên 1970.

 

Trong lời nói đầu quyển A Thousand Tears Falling, ông Griffin Boyette Bell, cựu Bộ trưởng Tư pháp HK, đề cao “Yung Krall (tức Đặng Mỹ Dung) đúng là một công dân Mỹ vĩ đại. T́nh yêu nước Mỹ đă dẫn dắt cô trở thành nhân chứng then chốt trong vụ án gián điệp mang tên Con Rồng Kỳ Diệu. Tôi nhiệt liệt tán thưởng sự nghiệp của cô đối với nước ta (HK), và tôi vui mừng thấy câu chuyện của ngựi phụ nữ xuất sắc nầy cuối cùng đă được để cho mọi người cùng đọc và biết đến…”

 

Riêng cá nhân tôi, ĐMD c̣n là một người VN yêu nước trong sáng, chống CS có ư thức. Chị đă góp phần giúp HK tiến hành cuộc chiến “cách tân VN khỏi chủ nghĩa CS”. Một nước VN dân chủ tự do, không CS, là nguyện vọng tha thiết của mọi người VN yêu nước. Quyển NGLR là cuộc đấu lư có tính ư thức hệ, bày tỏ thái độ chính trị giữa người con Quốc Gia và người cha yêu nước theo chủ nghĩa CS.

 

2. ĐẾN BIỂN MÁU NGẬP TRÀN:

 

Bài viết này xin không kể đến những tội ác tày trời mà Đảng CSVN đă gây ra trong chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất tại miền Bắc mà chỉ kể những tội ác mà CSVN đă gây ra cho đồng bào miền Nam sau tháng 4 năm 1975. Sau khi chiếm trọn miền Nam, CSVN đă phạm nhiều tội ác chống nhân loại đối với đồng bào miền Nam một cách quy mô và có kế hoạch:

 

Tội đưa đi lưu đày (deportation) 1.5 triệu đồng bào miền Nam tại những nơi rừng thiêng nước độc mà chúng đặt cho cái ngụy danh là “vùng kinh tế mới”. Khí hậu khắc nghiệt tại những nơi lam sơn chướng khí này đă gây ra những cái chết cho nhiều chục ngàn người.

 

Tội xử tử một cách phi pháp (ex-trajudical, or summary, execution) 100.000 quân dân cán chính VNVCH trong thời gian 10 năm kể từ sau tháng 4 – 1975, gây đau thương suốt đời cho hàng trăm ngàn thân nhân ruột thịt của họ.

 

Tội giết 160..000 người bằng cách đuổi theo pháo kích và bắn trực xạ trong nhiều ngày vào đoàn người chạy giặc suốt theo chiều dài của Tỉnh lộ 7B từ Pleiku xuống duyên hải trong tháng 3 năm 1975, để lại đau thương suốt đời cho hàng trăm ngàn thân nhân của họ.

 

Tội giam cầm phi pháp (imprisonment without formal charge or trial) 1.000.000 quân dân cán chính VNCH trong những cái gọi là “trại cải tạo” với thời gian bị giam cầm từ 3 tới 10 năm, và có nhiều người đă bị giam tới 17 năm. Tội ác này đă gây đau khổ tinh thần cho hàng triệu thân nhân ruột thịt của họ.

 

Tội ác thủ tiêu mất tích (enforced disappearance of person) 165.000 quân dân cán chính VNCH bị chết v́ đ̣n thù trong các trại tù cải tạo. Hiện nay VC c̣n đang chôn giấu 165.000 bộ hài cốt của những người này trong rừng núi với chủ tâm trả thù, gây thống khổ tinh thần suốt 43 năm nay cho hàng trăm ngàn cha mẹ, vợ chồng, anh chị em, con cái của họ.

 

Chế độ độc tài khủng bố của VC đă là nguyên nhân xô đẩy 3.000.000 đồng bào miền Nam lao ra biển trên những con thuyền mỏng manh để đi t́m tự do, gây ra những cái chết thảm cho 700.000 đồng bào trên biển cả, để lại đau thương suốt đời cho hàng triệu cha mẹ, vợ chồng, anh chị em, con cái của họ.  

 

Chúng tổ chức vượt biên để thu vàng và cướp nhà của dân: khi thuyền vượt biên tới hải phận quốctế, chúng cho công an dùng thuyền cao tốc đuổi theo bắn ch́m thuyền và giết chết những người đă nộp tiền cho chúng. Đây là một tội ác man rợ của VC đối với đồng bào miền Nam.

 

Một số tội ác kể trên đă đủ chứng minh rằng hầu hết các gia đ́nh tại miền Nam đều là nạn nhân của tội ác chiến tranh và tội ác chống nhân loại của CSVN.

 

*

 

Xin thưa phần trên của bài viết, tôi đă mượn phần tŕnh bày của hai tác giả Lê Quế Lâm Đỗ Ngọc Uyển để tŕnh bày về những nhức buốt của một cuộc chiến đă im tiếng súng trong 43 năm qua; nhưng vẫn c̣n âm thầm tiếp tục tàn phá và vắt kiệt sinh lực của dân tộc Việt Nam và đất nước đang có nguy cơ lệ thuộc ngoại bang.  

 

Phần đầu, tôi mượn phần tŕnh bày của tác giả Lê Quế Lâm về bi kịch mà bà Đặng Mỹ Dung và gia đ́nh bà phải gánh chịu trong cuộc chiến tranh ư thức hệ giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản.

 

Với bi kịch của đời ḿnh, bà Đặng Mỹ Dung đă viết thành tự truyện Ngàn Giọt Lệ Rơi.

 

Phần thứ hai, tôi trích một đoạn ngắn từ bài viết “Con Đường Hoà Giải Dân Tộc” của tác giả Đỗ Ngọc Uyển với ước vọng là sẽ có những người cầm bút sẽ tổng kết coi có bao nhiêu xương máu đă đổ xuống trong cuộc chiến mà ông Hồ Chí Minh đă theo đuổi và quyết tâm áp đặt chủ nghĩa cộng sản cho đất nước Việt Nam.

 

Chỉ trong một gia đ́nh của bà Đặng Mỹ Dung đă ngàn giọt lệ rơi.

 

Trong cuộc chiến “xẻ dọc Trường Sơn” với đoàn quân “Sinh Bắc, tử Nam” của ông Hồ Chí Minh và đảng CSVN, dân tộc Việt Nam đă đổ xuống bao nhiêu máu xương trong cuộc bể dâu này?!

 

Có bao giờ các vị lănh đạo của Đảng CSVN hiện nay nghĩ đến chuyện:

“Đây chén rượu nồng xin rưới xuống

Giải oan cho cuộc bể dâu này!”                                    

(thơ Tô Thuỳ Yên)

 

Hay là quư vị “vẫn quyết tâm tát cạn, bắt lấy” 3 triệu người Việt tỵ nạn hải ngoại là những người đă v́ sự cai trị hà khắc của quư vị mà phải liều chết vượt biển để t́m tự do trên những chiếc thuyền mà mạng sống mỏng manh – như những con muỗi mắc trong nghiên son?! 

 

 

Nguyễn Thiếu Nhẫn

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính