Ngậm ngùi thảm cảnh tháng Tư!

Ngàn dặm thăm chồng

 

Nguyễn thị Ngoan 

 

 

Vác đất sét nung gạch được chừng ba tháng. Thân gầy, đói, từ hầm sâu lặt lè vác nặng bước lên, đường trơn trợt té lên, té xuống như cơm bửa. May, được chuyển qua K5, sung vào đội Rau Xanh, nghĩa là trở lại nghề cuốc đất. Thời gian lững lờ trôi, trôi bằng bặc tính ra được hơn hai năm. Từ ngày ra Bắc đến nay đă bốn năm dư. Ngày ấy, bỗng nhiên được lịnh chuẩn bị ra gặp mặt vợ hiền. Tiểu tựa: Ngàn dặm thăm chồng không phải là ví von mà là c̣n hơn sự thật, bởi nhà từ tỉnh Biên Ḥa, xuống ga B́nh Triệu, chầu chực qua đêm mới lên được tàu hỏa Thống nhất viển du ra Bắc. Từ Saigon ra Hà Nội đường xa 1,772 Km, tức là đă trên ngàn dặm. Từ ga Hàng Cỏ mẹ và đứa con út 12 tuổi dắt díu nhau lên xe lửa Lào Cai, đổ xuống ga Ấm Thượng, gồng gánh đồ đạc xuống đ̣ ngang sang Sông Hồng, măi vào Bến Ngọc. Đổ bộ, vượt Dốc Phục Linh cao ngất nghễu rồi mới vào xóm A Mai, tới trại. Đúng là:

 

Trèo đèo, vượt suối, sang sông

Gánh gạo nuôi chồng nước mắt rơi rơi

 

Cảnh vợ chồng ngâu gặp mặt nhau sau hơn bốn năm cách biệt mới thật là thảm! Chiếc bàn tiếp tân thiệt dài, ngồi hai bên được hơn mười cặp vợ chồng tù. Chiếc bàn lại rất rộng, chồng ngồi một bên, vợ bên kia, cách gần hai tầm tay với. Cả hai đàng phải vươn hết tầm tay mới lần được tay nhau. Ngồi ngay đầu bàn, trên ghế cao giống như trọng tài đấu tennis là ông “chỉ biết c̣n đảng, c̣n ḿnh” mắt ḍm lom lom theo dỏi. Cho nên bao niềm thương nhớ đành nuốt vào gan ruột, không nói nên lời! Chỉ biết lần t́m tay nhau, “mặt nh́n mặt, cầm tay, bâng khuâng không nói một câu...”. Đành phải hỏi nghiêm trang việc con cái học hành, lao động tốt cho đúng nội qui, không thôi buổi viếng thăm bị cúp! Thảm hơn hết là: Ngàn dặm t́m chồng, trèo đèo, vượt suối, sang sông để chỉ được nh́n mặt nhau trong mười lăm phút phù du!

​(Trích: Các kiểu Đi Tù xă nghĩa - Nguyễn Nhơn)

 

 

Quà cho Anh

 

Từ ngày nhận được thư Anh

Đắn đo lo lắng, ba cân phần quà.

Thêm vào rồi lại bớt ra,

Món nào ấp ủ t́nh xa đậm đà.

Gởi Anh đôi bốt Bốt Bata ,

Ấm chân vững bước đạp chà gốc gai.

Gởi Anh bánh thuốc rê cay,

Đốt ư thức hệ thành mây phiêu bồng.

Đốt giai cấp đốt Hồ ngông,

Lênin, Các Mác theo gịng khói tuôn.

Gởi Anh bánh tổ đổ khuôn,

Bền ḷng chặt dạ, giữ đường kiên trung

Bao nhiêu đau đớn hăi hùng

Xin Anh hăy nhớ Em chung mối sầu.

Gởi anh chiếc nón phết dầu

Che mưa, đỡ nắng, làm gàu, làm thau

Gởi anh đường cát trắng phau

Dịu niềm cay đắng, nâng cao tinh thần.

Gởi Anh tập giấy trắng ngần,

Gởi niềm tâm sự lời gần ư xa.

Gởi Anh chiếc áo bà ba,

Quê hương nhuộm đỏ cửa nhà nát tan.

Gởi thêm Anh chiếc áo hàn,

Đông về ấp lạnh hè sang gối đầu.

Gởi thêm mấy chiếc khăn hầu,

Lót vai gánh nặng quấn đầu trời sương.

Muối vừng muối xả thêm đường,

Mặn ṃi t́nh nghĩa yêu thương ngọt ngào.

Đậu tương một hũ thêm vào,

Anh em thân ái yêu nhau kiếp tù.

Thương Anh thêm lọ dầu cù,

Nhức đầu, trúng gió, đêm thu một ḿnh

Ba cân đă đủ vừa xinh,

Thư ḿnh Em thế tấm h́nh vợ con,

Nhắn Anh c̣n nước c̣n non,

C̣n t́nh c̣n nghĩa ta c̣n gặp nhau.

 

B́nh Dương

Nguyễn thị Ngoan

 

 

 

Đoàn quân âm thầm

 

 

Có đoàn quân nào âm thầm,

Mà dũng cảm bền gan.

Có đoàn quân nào hiên ngang

Mà dịu dàng đằm thắm.

Từ rừng sâu núi thẳm,

Tận mũi, vịnh, cù lao,

Từ chót vót non cao,

Đến đảo xa bủa sóng.

Không thiết giáp, cà nông

Mà chỉ có tấm ḷng chung thủy.

Không học trường Vơ Bị,

Mà xuất quỉ, nhập thần

Từ hốc hẻm xa gần

Đều có bước chân đặt để.

Không học trường Đồng Đế

Mà chẳng nệ śnh lầy.

Văn thư, tài liệu đủ dầy

Không một ngày Hành Chánh.

Đêm ngày di hành đạt mức

Không qua Thủ Đức, Quang Trung,

Không Hải, Lục, Không quân,

Mà mọi vùng xông xáo.

Đâu màn: Lào Kay, Trảng Táo

Chẳng ngại: Suối Máu, Đầm Dơi,

Dù: Đá Bạc mù khơi,

Mặc: nắng trời Thanh Hoá

Sá ǵ Phú Yên sỏi đá,

Bất chấp Mộc Hoá muỗi ṃng.

Trèo đèo, lội suối, giang sông.

Vác, mang, đội, xách, gánh, gồng, thồ, khuân.

Hồng trần bạc mái đầu xanh,

Trắng ngà mắt biếc, long lanh lệ vàng.

Từ ngày giặc dữ ngập tràn,

Bỏ kim, bỏ bút, ḅ đàn, bỏ trâm.

Nhập vào đoàn ngũ âm thầm

Không lương, không chức, không diễn văn, dàn chào,

Không mai vàng, mai bạc, không sao

Chiến trường trang bị: thanh tao nụ cười.

Dấn thân, xuất trận một thời

Bể yên sóng lặng bây giờ, là ai?

 

B́nh Dương

Nguyễn Thị Ngoan

 

 

30 tháng 4 với những lối cũ chẳng sao quên…

Mời các anh chị, các bạn cùng đọc

Bh

 

Đường Ra Vĩnh Phú

 

Bích Huyền 

 

Ngồi trong toa của con tàu Thống Nhất, tôi vẫn chưa hoàn hồn. Tay khư khư ôm chặt chiếc túi xách trong ḷng, tôi nh́n theo Diễm đang cố len lỏi t́m lối ra giữa những người đang đứng lố nhố tranh giành nhau xếp đồ đạc. Gần ra tới cửa, Diễm c̣n ngoảnh lại nh́n tôi, đôi mắt đỏ hoe. Tôi cũng khóc. Nước mắt tôi làm nḥa đi h́nh ảnh Diễm trong giây phút ngắn hai chị em chia tay nhau. Diễm như bị xô xuống khỏi con tàu... 

 

Xa xa, sân ga B́nh Triệu dưới những ngọn đèn vàng vọt không đủ sáng, cảnh tượng vô cùng hỗn độn. Người đi, kẻ lại, người mang, kẻ vác... xô đẩy, chen lấn nhau. Tiếng la hét, tiếng gọi nhau í ới trên một khoảnh đất gồ ghề, tăm tối. Tôi cũng vừa từ đám đông đó lên đây. Bọn cán bộ nhà nước được lên tàu trước từ ga Phạm Ngũ Lăo, trên những toa riêng hoặc những toa có giường nằm...

 

”Thật may, nếu không có Diễm đi tin th́ làm sao ḿnh c̣n đủ hành lư!” Lần đầu tiên tôi thấy Diễm khỏe quá! Hai tay hai túi xách nặng, cồng kềnh, chen đám đông phăng phăng mở lối cho tôi lên tàu. Bọn cướp giật trà trộn giựt xách tay, rạch ví, móc túi. Tiếng la thất thanh. tiếng chửi thề. Tiếng khóc, tiếng gọi nhau... tất cả tạo thành một âm thanh hỗn loạn. Thần kinh tôi như muốn đứt ra. Hai chị em chỉ kịp bám lấy song sắt của toa tàu là đă như có người đẩy lên rồi. “Ḱa! Nó giựt đồng hồ của tôi!” “Trời ơi! Ví của tôi đâu mất rồi!” Mặc kệ. mạnh ai nấy chen. Chân tôi bị dẫm lên đau điếng. Áo quần tôi tả tơi, xốc xếch, đầu tóc rối bời.

 

Giờ đây, tôi ngồi trên tàu, dưới kia cảnh tượng vẫn đang tiếp diễn... 

 

Tiếng c̣i hú vang báo hiệu sắp đến giờ khởi hành. Tiếng c̣i dài văng vẳng trong đêm tối. Ngày xưa c̣n bé, tôi đă từng được học những bài văn tả cảnh sân ga. Niềm vui sum họp, nỗi buồn chia ly. Tiếng c̣i tàu lanh lảnh âm vang trong ḷng tùy theo tâm trạng của mỗi người. Ḷng tôi hôm nay, tiếng c̣n nghe ghê rợn quá! Như tiếng rú, tiếng thét đe dọa những con người thất thế - như tôi - một thân một ḿnh đi thăm nuôi chồng “học tập cải tạo” tại một nơi rừng sâu, nước độc tận cùng miền Bắc.

 

Không có một bóng người đứng trên thềm ga đưa tiễn. Không có một ngọn đèn vàng lẻ bóng hắt hiu, như tiếng hát của nữ ca sĩ Thanh Thúy u buồn ngày nào trong một ca khúc tiễn đưa nào đó... Xa rồi, chỉ có hàng ngàn con người lam lũ, hối hả, vội vàng trên sân ga giành giựt tranh nhau từng miếng cơm sạn mốc, từng manh áo rách. 

 

“Giấy tờ đâu? Mở túi này ra!” Giọng hách dịch của tên kiểm soát. Rồi những khuôn mặt lạnh lùng của toán công an kinh tế phía sau. Một tên nghênh ngang cầm đèn pin, bất kể rọi vào cả mắt hành khách. Một tên cầm chiếc gậy ngắn, xấc xược thọc thọc vào hành lư của khách... Đến lượt tôi: “Giáo viên. Về Bắc nghỉ hè à? A, đi thăm nuôi chồng học tập cải tạo. Thăm nuôi tù th́ nói mẹ nó ra đi. Học tập học tiếc cái nỗi ǵ với cái bọn ngụy ác ôn đó. Thôi, khỏi xét.” Lẽ dĩ nhiên, xét làm ǵ ba cái đồ lương thực. Họ muốn bắt những con buôn. Tôi cố nén tức giận, tủi hờn, và mừng rỡ nhận lại tờ giấy phép. Không có tờ giấy này tôi không thể vượt qua mọi cửa ải từ Nam ra Bắc. Chạy chọt hàng bao nhiêu nơi, chờ đợi hàng bao nhiêu ngày, tôi mới có được mảnh giấy đen thui này đây. 

 

Họ di chuyển xuống hàng ghế dưới, tiếp tục hạch sách, lục lọi. Và hành khách tiếp tục năn nỉ, van xin. Hàng hóa nào có nhiều nhặn ǵ cho cam! Chục mét vải. Dăm gói bột ngọt. Rổ rá nhựa, xô xách nước, b́nh nước mắm... Vậy mà có người vẫn khóc ngất khi bị tịch thu. Nồi cơm độn ḿ, độn khoai tay chỉ mong vào tiền lời nhỏ nhoi đă mất cả rồi.

 

Tiếng máy x́nh xịch. Tiếng c̣i tàu rú lên từng hồi như thúc giục, như đồng lơa với những việc làm sai trái trên con tàu mang tên Thống Nhất Bắc Nam. 

 

Bên ngoài trời tối, không một ánh sao. Sương khuya lạnh buốt. Vài con đom đóm lập ḷe. Chung quanh tôi, mọi người đều đă nằm ngủ la liệt. Người trải miếng ni-lông dưới chân ghế chật hẹp, người nằm ngả nghiêng trên đồ đạc, ngổn ngang chật cả lối đi. Vơng mắc chi chít. Tiếng ngáy, tiếng thở mệt nhọc vang lên. Tôi mệt mỏi tựa đầu vào thành ghế gỗ. Có lẽ chỉ c̣n có một ḿnh tôi thao thức nên thấy đường dài. Nhớ mẹ, nhớ con, nhớ nhà.

 

Thế là tôi đă phải xa nhà, xa những người thân yêu, vượt mấy ngàn cây số, đi đến một nơi xa lạ. Làm sao tránh khỏi lo âu? “Thân gái dặm trường”, lời nói người xưa thật đúng tâm trạng của tôi bây giờ. 

 

Cũng trên quăng đường này, trong toa xe lửa của một thời xa lắc - thuở c̣n đi học - ánh mắt long lanh, giọng cười ṛn ră reo vui suốt cuộc hành tŕnh. Trại hè Nha Trang. trại hè Thống Nhất Huế. Trại hè sinh viên Huế-Saigon Đà Lạt. Mỗi mùa hè là một mùa tưng bừng hứa hẹn. C̣n đâu nữa những tiếng cười khúc khích, tinh nghịch của các bạn tôi trong những đêm không ngủ? Các bạn học cũ của tôi, giờ phiêu bạt nơi đâu? Phạm Hữu Lộc, Bùi Thức Phước, Nguyễn Long Hải, Duy Trác... trong những trại tập trung cải tạo của Cộng Sản. Ấu Oanh, Hoàng Oanh, Ngọc Diệp, Kim Oanh... bán đứng buôn chạy quần áo cũ, thuốc tây. Hồng Thủy, Hồng Hảo, Ngọc Tâm, Hương Kiều Loan... ngàn trùng cách biệt. 

 

Tôi cố quên đi những gương mặt đang say men chiến thắng Nguyễn Đắc Xuân, Cao Thị Quế Hương, Kim Tuyến. Tôi ngậm ngùi thương tiếc Lê Hữu Bôi, bị thảm sát trong biến cố Tết Mậu Thân 1968 tại Huế. Bốn năm “giải phóng miền Nam” rồi, bốn năm quay cuồng, vật lộn với cuốc sống mới, có bao giờ được một vài phút suy tư ? 

 

Qua mỗi lần tàu ghé một sân ga, bất kể ngày đêm, hàng hóa rỡ xuống, chất lên nhanh chóng gọn nhẹ. Bọn chỉ huy đoàn tàu kết hợp cùng bọn công an kinh tế buôn bán th́ c̣n sợ ǵ ai xét. Trong khi những người dân, hàng chỉ có một chút xíu thôi mà vẫn bị ḍm ngó, hoạch họe đủ điều.

 

Những giỏ soài Nha Trang của vợ chồng chú bộ đội ngồi trước mặt tôi đă biến mất. Những giỏ soài treo tọng teng trên đầu, những giỏ soài la liệt dưới sàn tàu đều trống trơn. Họ đă bán được khi trạm dừng rồi. Càng đi xa hơn th́ hành lư trên tàu càng vơi nên hành khách c̣n có lối đi. Hành khách buôn dọc đường. Xă hội chủ nghĩa cấm buôn bán cá thể mà hầu như cả nước đều buôn. Cán bộ công nhân viên mua được nửa kư đường, lon sữa, mươi gam bột ngọt mỗi tháng đều mang ra chợ bán cho người buôn, kiếm chút tiền bù đắp vào đồng lương ít ỏi. Cũng nhờ đó mà tôi mới mua được những thực phẩm thăm nuôi chồng. Tôi thở dài ngao ngán cho kiếp sống đói nghèo. 

 

Tàu càng rời xa miền Nam, làng mạc càng hiu hắt. Bốn năm tiến nhanh, tiến mạnh lên chủ nghĩa xă hội là đây? Đồng ruộng khô cằn, xóm làng xơ xác. Con tàu đưa tôi vượt qua vĩ tuyến 17, tới miền Trung “Ôi, quê hương xứ dân gầy” của nhạc sĩ Phạm Duy. Dân không chân lấm tay bùn - v́ đồng ruộng bỏ hoang - mà sao đen đủi. Gương mặt ngơ ngơ ngẩn ngẩn, đứng trước những thau nước chờ khách trên tàu xuống mua rửa mặt, rửa chân.

 

Một bà cụ lưng c̣ng xuống, manh áo vá không đủ che thân, xách ấm nước đi bán rong. Đường tàu mỗi lúc một xấu, nhất là Thanh Hóa. Con tàu tṛng tranh nghiêng ngả. Đồ đạc rơi đổ cả vào người. 

 

Làng quê miền Bắc kia sao? Tôi ngỡ ḿnh đang nằm mơ. Bởi hiện thực quá phũ phàng.

Việt Nam đất nước ta ơi,

Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn...”

 

Miền Bắc hai mươi năm xây dựng xă hội chủ nghĩa, nhân dân đi vào con đường làm ăn tập thể. Đồng ruộng xóa mờ ranh giới, bao la bát ngát thẳng cánh c̣ bay... Chỉ là h́nh ảnh tưởng tượng của cán bộ vẽ ra, khi tuyên truyền, khoác lác với dân miền Nam. Trước mắt tôi... đồng khô, nắng cháy. Xa xa xóm làng hoang vắng. Quán nước bên đường che bằng một mái tranh cũ nát, chiếc chơng tre lỏng chỏng một vài món quà lặt vặt: viên kẹo bột vàng, trái chuối thâm đen. Điếu cầy tre, ấm nước, ly trà cũ bẩn... Mỗi lần tàu ngừng, hành khách tranh nhau mua từng bát cơm khô cứng, lèo tèo một ít rau xào... 

 

Tôi đến Ga Hàng Cỏ - Hà Nội sau ba ngày, ba đêm trên tàu như một người bị tra tấn. Ră rời, mệt mỏi. Hà Nội hiện ra trong mắt tôi với tất cả sự nghèo nàn, lạc hậu. Đèn đường vàng vọt. Trong nhà, ánh điện lù mù nhưng tôi vẫn nh́n thấy nhà nhà ngồi quanh mâm cơm để dưới đất. Đó là h́nh ảnh đầu tiên về Hà Nội.

 

Nhà anh chị tôi ở tầng thứ tư của một khu nhà tập thể vùng Kim Liên. Chỉ là một pḥng nhỏ hai mươi mét vuông. Độc nhất một cái giường cũ mọt dành cho bố mẹ và đứa con út c̣n bé. Hai đứa con lớn học đại học nằm dưới đất. Kệ sách vở đụng trần nhà. Dưới gầm giường lỉnh kỉnh bát chén, nồi niêu, xô nước. Gia đ́nh anh chị tôi điển h́nh cho giới trí thức Hà Nội: chồng, cán bộ nghiên cứu khoa học, vợ bác sĩ. Tôi rùng ḿnh lo sợ tương lai. 

 

Hà Nội với những con đường nhỏ hẹp, đầy ổ gà, bụi bậm. Hà Nội với nhà cửa cũ nát, xiêu vẹo. Hà Nội với con người nhâng nhâng, nháo nháo, chửi thề nói tục. Không phải một thủ đô văn minh lịch sự như theo lời những cái máy nói đă mạt sát Sàigon, ca tụng Hà Nội - mà trong những buổi học tập chính trị ṛng ră qua năm tháng, chúng tôi đă phải nghe. Hà Nội trong kư ức tôi, trong thơ, trong nhạc... chỉ là hư ảo. 

 

Lên ga B́nh Triệu, xuống ga Hàng Cỏ: kinh hoàng. Tiếp tục cuộc hành tŕnh, tôi đáp tàu đi Vĩnh Phú. Ga nhỏ, người đông. Mùi hôi thối dưới đất, mùi mồ hôi nồng nặc trong ánh nắng hè gay gắt. Tôi muốn nôn oẹ. Lại bị hạch sách, nạt nộ khi làm thủ tục để được lên tàu. Lại chen lấn, xô đẩy. Tôi chạy măi t́m cửa lên tàu. Toa nào cũng chật cứng người. Cuối cùng chỉ c̣n giành được một chỗ đứng ở cuối nơi toa tàu nối nhau. Khi con tàu ra khỏi thành phố, một số thanh niên leo lên nóc, tôi mới có một chỗ để ngồi bó gối.

 

“Ban năy tao leo lên toa chở lợn, gà. Bị đuổi xuống.”

 

“Xă hội này là súc vật sướng hơn!”

 

Tôi nghe tuổi trẻ miền Bắc nói chuyện như thế. 

 

Gió thổi mát lạnh. Trời vần vũ cơn mưa. Cứ ngồi như thế này cho đến tối hay sao? Thế rồi sức chịu đựng của tôi vẫn vượt qua những trận mưa trời làm ướt sũng toàn thân, những trận mưa than từ ống khói tàu nhả xuống. Cũng may là than đá, nếu không biết bao nhiêu hành khách kém may mắn không được ngồi trong toa như tôi sẽ bị nhuộm đen như thế nào?

 

Con tàu nặng nề đi qua những cánh rừng cọ xác xơ, những đồi chè cằn cỗi thưa thớt dưới cơn nắng cháy.

 

“Đẹp vô cùng Tổ Quốc ta ơi,

Rừng cọ, đồi chè, đồng xanh ngào ngạt

Nắng chói sông Lô, ḥ ô tiếng hát

Chuyến phà dào dạt bến nước B́nh Ca...

 

Tôi không hiểu sao Tố Hữu lại có thể làm được những câu thơ với những h́nh ảnh tươi đẹp như thế? 

 

Ga Ấm Thượng là trạm cuối cùng tôi xuống. Nơi đây chỉ là một túp lều tranh vách nát giữa vùng đất đ́u hiu của miền thượng du Bắc Việt. Bốn bề hiu hắt, vắng vẻ. Trời chập choạng tối. Ánh đèn dầu leo lắt run rẩy như muốn tắtlàm tăng thêm vẻ hoang vu.

 

Tôi sẽ ở lại đây một đêm.

 

Sau một ngày dài ngồi bó gối trên tàu, tôi muốn ngả lưng trên chiếc giường tre ọp ẹp có trải manh chiếu nát. Những con rệp lâu ngày bị đói rủ nhau ra tung hoành làm tôi phải bật dậy suốt đêm. Sáng sớm đă có tiếng x́ xầm ở bên ngoài. Dân quanh vùng lén mang chuối, gạo, gà... bán cho những người thăm nuôi tù. Họ giành nhau để được tên cán bộ nhà ga phân phối khuân vác từng thùng lương thực xuống thuyền để lấy tiền công.

 

Sang đ̣ ngang, lại chuyển đ̣ dọc. Tiền khuân vác, tiền chuyên chở, bao nhiêu cũng phải trả.

 

Con thuyền cũ cḥng chành v́ nặng hành lư. Khách trên thuyền chỉ có khoảng năm người. Từ Saigon hay từ các tỉnh miền Nam đi thăm nuôi. Thuyền không có mái. Hơi nóng từ trên trời giội xuống, từ dưới nước bốc lên. Tôi như muốn ngất lịm đi v́ say sóng. Đây là con sông Lô trong nhạc Văn Cao. Không có tiếng ḥ, tiếng hát trên sông. Chỉ có tiếng mái chèo đập nước, tiếng sóng vỗ ́ oạp vào mạn thuyền. Hai bên bờ sông, chỉ toàn là cây dại. Hoàn toàn im lặng.

 

Khi mặt trời đứng bóng, thuyền cập bến đ̣ Ngọc. Trái với tên Bến Ngọc, bến đ̣ này toàn sỏi đá lởm chởm. Từ bờ sông lên tới đường đi, chúng tôi phải trèo lên từng phiến đá sắc cạnh. Phụ nhau kéo đồ đạc lên rồi ngồi chờ xe trâu tới thuê chở chuyển đồ vào trại. 

 

Tôi ngồi tựa lưng vào một gốc cây khô. Bên kia sông, không một mái nhà. Cỏ cây chằng chịt. Phía sau lưng, hoang vắng. Một lối đi nhỏ mất hút sau rặng cây rậm rạp. Đứa bé trai khoảng trên mười tuổi, không biết từ đâu xuất hiện. Chiếc quần ngắn cũ chắp vá đủ màu bọc ngoài đôi chân gầy guộc. Lấm lét nh́n chung quanh, nó đến gần chúng tôi, khẽ nói:

“Cho nhà cháu vác vào trại nhá! Tiền công rẻ hơn xe trâu.”

“Trại có gần đây không hả cháu? Đi chừng bao lâu? ...”

 

Chợt thằng bé chạy vụt vào lùm cây.

“Này, chị kia, nói chuyện ǵ với nó thế?”

 

Tên công an, mặt non choẹt, vác súng đi tới: “Gia đ́nh nhà đó “nà” bọn “nười” lao động. Không chịu sản xuất, chỉ định “nàm thuê.”

 

Đưa đôi mắt nh́n khắp lượt có vẻ đe dọa, hắn hất hàm nói tiếp: “Đợi đấy. Sẽ có xe của Hợp tác xă phục vụ. Ai không tuân lệnh, cúp thăm nuôi.”

 

“Việt Nam tham dự Thế Vận Hội mang về ba cúp: Cúp điện, cúp nước, cúp lương thực. Giờ đây lại sắp lănh thêm một cái cúp nữa.” Tiếng th́ thầm, rúc rích của hai thanh niên đi cùng chuyến.

 

Tiếng lọc cọc từ xa mỗi lúc một gần. Xe trâu đến. Những mảnh cây ngang dọc sơ sài đóng vào nhau. Bốn bánh xe đẽo bằng gỗ. Sợi dây thừng lớn nối từ cổ xe vào ḿnh một con trâu già. Cán bộ hợp tác xă nhảy xuống khỏi xe. Chúng mời nhau điếu thuốc lá Thủ Đô. Lương thực được chúng tôi khuân chất lên xe. Bao nhiêu thùng là bấy nhiêu tiền. Thùng to, nhỏ giá chở khác nhau. Tên cán bộ ngồi trên một thùng đồ vững vàng nhất. Chiếc roi mây quất nhẹ vào ḿnh trâu để con trâu bước đi. Ngướ thăm nuôi lẽo đẽo đi bộ theo sau.

 

Trời nắng. Đường gồ ghề những đá. Người và vật lê bước nặng nhọc. Đi, đi măi... Sâu tít vào rừng. Đường ṿng vèo tưởng như không có lối ra. Qua những con suối cạn, ́ ạch măi chúng tôi mới đẩy được xe qua. Tên cán bộ ngừng lại cho con trâu nghỉ mệt. Dăi nhớt đầy miệng, trâu thở ph́ pḥ. Tội nghiệp cho cả trâu. Tội nghiệp cho cả người thăm nuôi. Cổ tôi khô. Đầu nhức như búa bổ. Tôi ngồi vật xuống cỏ... 

 

Trời đă xế chiều, ánh nắng nhạt dần. Người và vật vẫn tiếp tục cuộc hành tŕnh trong yên lặng. Có tiếng lá khô vỡ vụn. Không phải tiếng xào xạc của lá cây rơi rụng. Không phải tiếng chân chạy của thú rừng.

 

Cặp mắt tôi như sáng lên. Một toán người bẻ lá đi ra. Có người thân quen không nhỉ? Bộ quân phục của binh chủng thủy quân lục chiến dù phai màu theo năm tháng, dù bị rách vá bởi kiếp đọa đầy, vẫn không làm mất đi vẻ thông minh sáng sủa của những người tù. Vai vác cuốc, tay cầm xẻng, bi đông nước lủng lẳng thắt lưng, các anh nh́n chúng tôi với ánh mắt cảm thông, chia sẻ.

 

Tên công an thấp bé ôm súng chạy xộc lên phía trước. Tôi đi sát bờ cỏ, len lén rắc kẹo lên lối đi. Những mảnh giấy cuộn tṛn thật nhỏ vội vàng chuyền tay. Lời nhắn gửi của các anh gửi về Saigon.

 

Quăng đường rộng hơn, bằng phẳng. Đó đây, thấp thoáng mái nhà. Tôi gặp Ngô Kim Thái, bạn học cũ Trưng Vương đi trở ra. Chúng tôi chỉ kịp chào hỏi nhau vài ba câu. Sắp tới K5. “K1 hả? C̣n đi lâu lắm...”

 

Xe trâu mỗi lúc một nhẹ hơn khi ghé qua một K. Tôi là người cuối cùng, đi vào K có con số nhỏ nhất. Lố nhố vài người đến trước đứng trên thềm. Mọi người nhanh nhẹn phụ giúp chuyển đồ trong khi tôi trả tiền xe.

 

Xếp đồ vào pḥng qui định, tôi chỉ kịp nhận giường chiếu là buông ḿnh nằm mê mệt.

“Chị! Dậy đi chị! Không tŕnh giấy, ngày mai làm sao được gặp?”

 

Nghe đến giấy tờ, tôi bật người lên. Quên cả nhức đầu. Tú, người lay gọi tôi, có gương mặt trái soan, c̣n rất trẻ. Tú đi chuyến tàu đêm, đến đây từ sáng.

“Pḥng tắm ở đâu?”

 

“Pḥng tắm hả?” Tú cười chỉ về hướng sau nhà.

 

“Mấy tấm phên che không kín. Có c̣n hơn không. Nhưng nước bẩn lắm. Phải xuống tít dưới kia lấy nước ở suối. Em có mua được một cái xô. Cho chị mượn đó.” Tôi cảm ơn người bạn mới.

 

“Trước anh làm ǵ?”

 

“Chiến tranh chính trị.”

 

“Cấp bậc?”

“Trung tá. Chức vụ luôn nhé! Tham Mưu Trưởng trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt.”

 

“Chết, chức to quá! Chồng em cũng chiến tranh chính trị. Cấp úy nhỏ nhất thôi. Mà chị ơi, đúng rồi! Chính trị tội nặng nhất. Họ gọi là thành phần ác ôn, tập trung tại K1. Không biết họ nhốt mấy ổng có gần đây không nhỉ?” Tú th́ thầm. “Họ cấm không cho người thăm nuôi ra khỏi khu này, cho nên... em chẳng biết ǵ hơn.” 

 

Tôi nh́n quanh. Vẫn cỏ cây chằng chịt. Chỉ có hàng rào chung quanh khu tiếp tân này là được cắt xén cẩn thận, ngay ngắn. Ngôi nhà ba gian. Tường cây, mái bằng lá cỏ khô, nền đất. Hai gian dành cho thân nhân. Khoảng sân nhỏ với những bồn hoa, luống cây cảnh xếp bằng sỏi đá đơn sơ. Khung cảnh nơi đây chắc chắn phải có bàn tay của những người tù. Ḷng tôi chùng xuống. Ngậm ngùi. Phía xa là nhà bếp. Trong ánh lửa bập bùng, thấp thoáng bóng người mẹ già, người vợ trẻ lui cui đun nấu thức ăn tươi cho ngày mai. Thịt gà kho gừng, thịt bằm ớt rang khô. Bát canh rau, thịt kho trứng... Những món ăn quen thuộc như ch́m vào quên lăng - v́ bên ngoài cũng thiếu thốn, có được ăn đâu?

 

“Chị có nh́n thấy những cây nhang cắm trên cành cây phía đằng kia không? Của một bà pḥng bên cạnh. Ổng chết lâu rồi.”

 

Tôi lạnh người. Sáng nay mới biết. Dă man. Để người ta lặn lội ra đây?

Đêm xuống. Bao trùm núi rừng. Tôi thao thức không ngủ. Lo lắng. Chỉ mong trời sáng. Cuối cùng tôi cũng thiếp đi được một chút để rồi được đánh thức bởi tiếng khua động của mọi người chung quanh. 

 

Giây phút chờ đợi như kéo dài. Hơn tám giờ, hai tên công an ôm giấy tờ đến, lững thững trong khi mọi người nôn nóng. Gọi tên ai, người đó mới được vào pḥng đợi.

 

“Con chị tên ǵ?”

 

Kỳ quá! Hôm qua đă ghi rồi mà. Người đàn bà ấy đă đứng tuổi, đi cùng chuyến đ̣ với tôi. Tên công an th́ chưa đến hai mươi tuổi. Bà đáng tuổi bà, tuổi mẹ hắn.

 

“Thưa ông...”

 

“Này, chị phải bỏ ngay cái giọng quan niêu phong kiến ấy đi nhá!”

 

Giọng rụt rè: “Thưa anh...”

 

“Ai anh em ǵ với cái nhà chị?”

 

Tiếng nói cất lên như một tiếng thở dài:

“Thế bây giờ tôi phải gọi như thế nào đây?”

 

“Gọi nà cán bộ. Báo cáo cán bộ. Biết chưa?” 

 

Lần lượt mỗi người vào như bị hỏi cung. Mỗi người bị tên công an vặn vẹo, nạt nộ. Gian pḥng nhỏ hẹp, chỉ đủ kê một cái bàn nhỏ ở góc cửa ra vào, tên công an ngồi làm cái việc hỏi cung. Một cái bàn dài, rộng kê ở giữa. Thân nhân ngồi một dăy. Phía bàn đối diện dành cho tù nhân. Vị trí của mỗi người tùy theo sự sắp xếp của công an.

 

Và giây phút chờ mong đă đến. Người thân của chúng tôi đă được giải tới. Mọi người trong pḥng nhốn nháo. Người ngồi bên trong đứng lên để được nh́n rơ hơn. Những người tù thong dong bước tới mỗi lúc một gần. Quần áo mang trên người c̣n nguyên nếp gấp. Quần áo mang theo, nhưng lần này sao rộng thùng th́nh như đi mượn. Cặp mắt ai cũng sáng lên khi nhận ra người thân yêu. 

 

 

Tên công an áp giải bắt xếp hàng ở dưới sân. Hắn hất hàm cho từng người vào. Hơn bốn năm xa cách, chúng tôi nhận ra ngay những nét thay đổi của nhau. Thời gian và khổ cực. Cuộc sống bên ngoài cũng chẳng mấy tự do. Khóc th́ sẽ bị đuổi ra. Nhưng những giọt nước mắt vẫn lặng lẽ rơi.

 

Năm phút. Mười phút. Thời gian trôi nhanh. Gần hết giờ thăm. Những câu hỏi, câu trả lời lạc lơng. Toàn những chuyện đă viết trong thư. Đôi mắt tên công an gườm gườm. Mấy cái gai nhọn lúc nào cũng muốn đâm vào da thịt. 

 

Đi suốt cả chiều dài đất nước để có được mười lăm phút gặp nhau. Quà sắp lên xe trâu. Tôi nh́n theo chồng đứng vào hàng để giải về. Chúng tôi theo ra cổng, nhưng chỉ được đứng bên hàng giậu nh́n theo cho đến khi toán người đă khuất vào lùm cây.

 

“Cùng trông lại mà cũng chẳng thấy

Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu

Ngàn dâu xanh ngắt một màu

Ḷng chàng ư thiếp ai sầu hơn ai?

 

Thuở c̣n đi học, nghe cô Tỉnh giảng Kiều say mê. Nhưng chỉ thích Chinh Phụ Ngâm, để rồi ngày nay phải mang nỗi buồn cô phụ. Tôi nuốt nước mắt nghẹn ngào. Bỗng dưng vạn vật mờ tất cả...

 

 

Trích từ tập hồi kư Lối Cũ Chẳng Sao Quên

(The Trail I Never Forget)

tác giả: Bích Huyền

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính