SA-7 Sờ mông

 

 

"Điếc không sợ súng" thường được dùng để chỉ những anh chàng pilot vừa mới ra trường và tham dự hành quân, cho dù họ bay trực thăng hay phản lực. Cảm giác phơi phới được lướt trên bầu trời mênh mông như một cánh chim vừa thoát khỏi sự kềm tỏa, h́nh ảnh rừng núi hay ruộng đồng mang màu xanh mướt dưới chân trông thật yên b́nh cũng như tiếng động cơ rền vang giữ trời lấn át mọi tiếng súng địch, nếu không có những sự chuẩn bị đề pḥng cho những trường hợp bất trắc trước mỗi lúc cất cánh, vẽ nghiêm trọng trên khuôn mặt của các vị đàn anh hướng dẫn nhiều kinh nghiệm chiến trường, người ta không dễ nhận ra nét băn khoăn do dự của mỗi người pilot trẻ khi xuất trận...


Bài viết sau đây của một pilot A-37 trẻ thuộc toán xuất ngoại thứ nh́ của Liên Khóa 72-73, tốt nghiệp trường bay Sheppard, về nước từ tháng 4/1974 và về Phi Đoàn Ó Đen 548 Phan Rang, đă tham gia chiến đấu cho đến ngày cuối cùng, được trích ra từ đặc san "Không Gian Hằn Nỗi Nhớ" của Khóa 72A. Xin trân trọng cám ơn quư NT khóa 72A

 


 

Nguyễn Thanh Phương 72A

 

 

Dù là khóa út ít của Không Lực Việt Nam Cộng Ḥa, ít nhiều chúng ta đă góp mặt cho tới ngày tàn của cuộc chiến. Vào đầu năm 1974, các trự đi Mỹ trong toán đầu tiên đă bắt đầu về nước và phân tán ra các phi đoàn A-37. Toán thứ nh́ về vài tháng sau đó gồm có Đỗ Minh Hùng (tự Hùng đầu ḅ) Trần Văn Tỵ, Nguyễn Thanh Phương (tự Phương lùn), Lư Anh Dũng, Liêm Cá Ngác và Quang Tuyết Trắng. Toán nầy đi đủ về thiếu v́ có hai trự mắc kẹt lại học T-38 là Chí Bao Tử và Hùng Khỉ.


Sau khi bắt thăm và phân tán mỏng ra các phi đoàn A-37 từ Đà Nẵng xuống Cần Thơ, tụi tôi đă theo các phi tuần phó hoặc phi tuần trưởng đi đánh hằng ngày. Dạo ấy khu trục đă xếp cánh gần hết, A-37 đă bắt đầu bao vùng và khởi sự bị rơi rụng v́ chiến trường quá nóng bỏng, nhất là sau khi Ban mê Thuột thất thủ trong trận chiến cao nguyên. Thị xă Ban Mê Thuột, nơi đặt dinh Tỉnh Trưởng Đắc Lắc cùng với Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 BB bị cộng quân bao vây tứ phía. Sau khi quận Thuần Mẫn bị mất, quốc lộ 21 nối liền Ban Mê Thuột và Nha Trang qua quận Khánh Dương bị gián đoạn. Trong khi đó quận Đức Lập bị mất nên con đường từ Ban Mê Thuột đi Quảng Đức cũng không c̣n xử dụng được. Sau khi anh dũng kháng cự với lực lượng quá chênh lệch, Ban Mê Thuột cuối cùng đă thất thủ khoảng 48 tiếng sau đợt pháo kích đầu tiên của địch quân.


Từ khi ra Phi đoàn, tôi đi ghế phải với anh Lư Tống hầu như mỗi ngày. Chúng tôi đă đánh nhiều trận, có khi giải tỏa áp lực địch khi chúng công đồn, chận đánh đoàn xe chúng chuyển quân, thiêu hủy kho tiếp liệu hậu cần của địch, hoặc có khi đánh tăng. Dù vậy, chỉ có trong những ngày đánh mặt trận Ban Mê Thuột tôi mới thực sự cảm thấy sợ, cho dù anh Tống hay chọc tôi là điếc không sợ súng, bởi mới ra trường chưa phân biệt được cường độ pḥng không. Ở Ban Mê Thuột, khi đến vùng là đă thấy pḥng không bắn xối xả. Nh́n lên cũng như ngang dọc chỉ thấy toàn là những cụm lửa như cái thúng hoặc những cụm khói bông đan kín bầu trời. Ch́ trong một buổi sáng thôi mà chúng tôi đă bị rớt 3 chiếc A-37, hai chiếc từ Phan Rang và một chiếc từ Phù Cát, cho dù là phe ta đă phải đánh tự trên cao.

 


Trong một phi vụ tôi cùng đi với anh Lư Tống đáp ứng quân bạn nhờ khóa họng vẹm. Chúng đă vào thị xă và bố trí súng cộng đồng trong một khách sạn để bắn qua bên kia đường là Bộ Tư Lệnh. Pḥng không đă là một cái khó, nhưng khó hơn nữa là việc bọn chúng và phe ta chỉ cách nhau có một con đường. Rủi mà bà không nhập, nhích tay chút xíu thôi để ông đại tá Tỉnh Trưởng và ông Sư Đoàn Trưởng có bề ǵ th́ chắc khó sống.


Briefing xác định trục đánh với bên L-19 xong xuôi, anh Tống bất chấp lệnh an phi phải đánh từ trên cao, anh đă mang tàu xuống thấp và nói với tôi bằng giọng hài hước: "Như vầy mới bảo đảm chết cha mấy thằng Việt cộng".


Khi xuống thấp mới thấy pḥng không bắn dữ. Dù tôi chưa có kinh nghiện phân biệt hướng và loại súng, mỗi lần mảnh đạn ghim vô tàu tôi đều cảm nhận được. Tàu hơi rùng ḿnh, hơi khựng hay hơi chao một chút xíu, thoáng nghe như có tiếng kim loại chạm vào nhau, xé nhau rất sắc. Sau khi đánh xong pass thứ hai và đổi hướng đi ra, th́nh ĺnh có một trái 37 ly nổ một cái oành gần ngay đầu cánh bên phía tôi. Dù không ăn miểng nhưng bị sức ép không khí nên tàu bị mất điều khiển trong giây lát- nó chao đảo, bềnh bồng như chiếc lá, dù có ngoáy stick cách mấy cũng không có áp phê ǵ cả.

 

Về tới phi trường, anh Tống kéo chúng tôi ra phía sau tầu để cùng đếm lỗ đạn. Sau đó anh Tống bị cù lũ (PĐT) dũa te tua như cái mền rách v́ vụ bay thấp phạm luật an phi trầm trọng. Ổng hăm sẽ ground nếu ảnh c̣n tái phạm. Từ văn pḥng cù lũ đi ra, anh nhún vai một cái rất Tây và nói với anh em:

- Đánh giặc mà! Đánh sao th́ đánh miễn chết giặc là ăn tiền.


Trong một phi vụ khác, Biệt Động Quân nhờ chúng tôi lên đánh giải tỏa áp lực địch đang đè nặng phi trường Phụng Dực. Hôm đó trời xấu, trần mây thấp, chúng tôi phải canh lỗ đục mây nhào xuống. Vứa đánh xong pass thứ nhất, đang kéo tàu lên cao độ th́ nghe tiếng la chói lói hốt hoảng của phi tuần bạn và L-19 nói có SA-7 và chỉ kịp hô "nhảy dù! Nhảy dù !" Không đợi nhắc lần thứ hai, chúng tôi khom người xuống giựt handle kích hỏa và hỏa tiễn đẩy hai cái ghế bắn ra khỏi tàu. Chỉ tích tắc sau đó, một tiếng nổ lớn rồi một cụm lửa như cây đuốc lớn văng tung tóe. Tôi biết ḿnh thoát chết trong gang tấc, bởi SA-7 c̣n xơi tái luôn F-5, đừng nói chi con vịt đẹt A-37.


Dù của tôi bị rớt gần b́a rừng và vướng trên cây. Tôi bị dập mặt đau đớn ê càng. Tôi đang phăng dây leo xuống th́ nghe rơ tiếng la hét với giọng Bắc đặc sệt. Xuống tới đất tôi ba chân bốn cẳng nhắm b́a rừng chạy thục mạng. Ư nghĩ phen nầy để tụi nó bắt được th́ ḿnh chết chắc làm cho tôi càng sợ, và càng sợ th́ chạy càng lẹ, bất kể gai góc, bụi rậm chằng chịt.


Ra tới b́a rừng tôi thấy có 3 chiếc M-113 chạy về phía ḿnh. Gần tới nơi th́ một chiếc trở đầu de lại và mở cửa, c̣n hai chiếc kia xả đạn đại liên vô rừng. Từ chiếc mở cửa, hai bóng rằn ri mũ nâu phóng ra xốc hai bên nách tôi thiếu điều nhấc bổng hai chân rồi phóng vô ḷng xe gọn bâng. Khi ba chiếc chạy về hướng quân bạn, tôi c̣n nghe tiếng đạn trúng lốp bốp chát chúa vào vỏ sắt của chiếc xe đang chở tôi. Thở hổn hển, tim đập mạnh muốn vỡ lồng ngực, tôi nắm chặt tay của hai bạn Biệt Động Quân và cám ơn họ cứu mạng. Họ nh́n tôi cười và nói tỉnh bơ:

- Thiếu úy đừng cám ơn tụi tui mà hăy cám ơn ông thiếu úy Thiết Giáp ḱa. Ổng t́nh nguyện đi cứu thiếu úy đó. Tụi tui chỉ đi theo "chơi" thôi. Ông phi công kia coi bộ nhảy dù hay hơn thiếu úy à ! Dù của ổng rớt vô ngay chóc bên đại đội chỉ huy.

Thế là tôi được cứu thoát bởi những người bạn Biệt Động Quân, Thiết Giáp can trường, Bộ Binh dũng mănh đầy t́nh huynh đệ chi binh. Đường đời muôn vạn nẻo, nhất là sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975, nhưng trong thâm tâm tôi lúc nào cũng nhớ ơn và cầu nguyện mọi sự an lành tốt đẹp đến cho họ.

 


Nguyễn Thanh Phương 72A

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính