Bi sử thuyền nhân

 

Nguyễn Quốc Cường

 

 

 

Trong một tập tài liệu ấn hành vào năm 2000, mang tựa đề “The State of the World’s Refugees 2000, 50 years of Humanitarian Action,” viết về t́nh trạng tị nạn thế giới, để đánh dấu 50 năm hoạt động nhân đạo của Liên Hiệp Quốc, Bà Sadako Ogata, Cao Ủy Trưởng Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, đă nói về ḷng can trường của hàng triệu người tị nạn và lánh nạn trên thế giới đă mất tất cả, ngoại trừ niềm hy vọng, và đă vượt qua biết bao thử thách và chông gai để đi t́m con đường sống.  Bà Ogata đă tuyên dương những người này là “Những người sống sót vĩ đại của Thế Kỷ 20”.  Thế giới đă bước qua Thế Kỷ 21, nhưng bạo lực chiến tranh do cuồng vọng bá chủ của con người vẫn làm nối tiếp thảm kịch tị nạn với những làn sóng di tản lánh nạn mang tên những địa danh mới như Kosovo, Đông Timor, Chechnya và Darfur.  Tuy nhiên có lẽ trong lịch sử của nhân loại, ít khi nào có một cuộc di tản bi thảm và kéo dài như các làn sóng thuyền nhân rời Việt Nam kể từ sau 1975 cho măi đến thập niên cuối cùng của thiên niên kỷ vừa qua.  Sự phi lư của thảm kịch thuyền nhân Việt Nam c̣n nổi bật v́ những người tị nạn Việt Nam đă phải rời quê hương ra đi để t́m quyền sống, trong khi tiếng súng đă không c̣n trên lănh thổ của đất nước họ.  Vào thời đó, khi niềm ước vọng ḥa b́nh mà mỗi người dân Việt đều ấp ủ trong ḷng từ bao nhiêu năm trời mới vừa ló dạng, đáng lẽ toàn dân tộc đă có thể nối tay nhau để cùng kiến tạo một đất nước đă phải chịu quá nhiều khổ đau và mất mát trong gần nửa thế kỷ khói lửa triền miên.  Trái lại, ḷng thù hận quá đà và niềm cuống tín chủ nghĩa mù quáng của những người nắm quyền lực bằng súng đạn đă tiếp tục bao phủ đất nước và dân tộc trong một không gian đàn áp và khủng bố tàn bạo, khiến cho người dân miền Nam thời đó chỉ c̣n một lối thoát là lao ḿnh ra biển cả để t́m con đường sống.  Với một niềm hy vọng và một lời cầu nguyện, hàng chục ngàn gia đ́nh gồm cả trẻ thơ và bô lăo đă ra khơi hướng về những bến bờ hy vọng, bất kể những hiểm nguy mà có lẽ tất cả mọi người đă dự đoán được trước khi quyết định ra đi.

 

Ngay từ cuối năm 1975, những đợt người tị nạn Việt Nam đă bắt đầu đến lánh nạn tại các nước lân bang.  Vào những ngày đó, Thái Lan đă đón nhận 5,000 người tỵ nạn từ Việt Nam qua, tại Hồng Kông cũng đă có 4,000 tị nạn, Tân Gia Ba 1,800 người, và có khoảng 1,250 người cũng đă đến Phi Luật Tân.  Vào tháng 7 năm 1976, khi chế độ Hà Nội loại trừ bộ máy quản chế miền Nam của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam để thực hiện việc thống nhất hai miền, cưỡng chế người dân đi vùng kinh tế mới, và tập trung trên một triệu người miền Nam vào các trại tù cải tạo, những làn sóng di tản bằng đường biển bắt đầu gia tăng.  Và đến cuối năm 1977, đă có trên 15,000 người Việt sang tị nạn tại các nước trong vùng Đông Nam Á.  Cho đến năm 1978, khi nhà cầm quyền Cộng Sản phát động chính sách cải tạo tư sản, và tiếp theo đó là việc xua quân xâm chiếm Cam Bốt, và phải đương đầu với cuộc chiến biên giới với Trung Quốc, làn sóng tị nạn bằng đường biển đă tăng lên gấp bốn lần, với đa số người ra đi thuộc khối người Việt gốc Hoa, để sau đó được đưa sang định cư tại các tỉnh phía Nam Trung Quốc.

 

Vào cuối năm 1978, đă có 62,000 thuyền nhân người Việt tị nạn tại các nước Đông-Nam Á.  Riêng trong tháng 6 năm 1979, đă có trên 54,000 thuyền nhân Việt Nam đến tị nạn tại các nước nói trên.  Những làn sóng tị nạn này đă khiến cho các nước trong khối Đông Nam Á, như Mă Lai Á, Thái Lan, Phi Luật Tân, Tân Gia Ba và Nam Dương tuyên bố không nhận thêm người tị nạn từ Việt Nam, khiến cho những đợt thuyền nhân đến sau đă bị xua đuổi cấm không cho lên bờ.  Cũng kể từ đó, con số thuyền nhân tử vong trên biển cả cũng đă gia tăng.

 

Sau những cuộc hành tŕnh hăi hùng lênh đênh trên đại dương, một số thuyền nhân cũng đă đến được bến bờ tạm dụng.  Những lớp người này đă đem cho thế giới bên ngoài những mẫu chuyện về người cha, người mẹ, đă phải chia nhau những hạt cơm rơi từ miệng những đứa con; đến chuyện chia nhau từng giọt nước quư hơn vàng được vắt ra từ miếng vải thấm mưa, để đánh lừa những cơn đói khát triền miên.  Hay là những chuyện thương tâm về người chết đă cứu được người sống với thịt máu của chính ḿnh.  Hoặc nữa là những chuyện nói nhỏ, kể về những trường hợp phải đương đầu với hải tặc.  Ngoài những mối đe dọa do sự đầy đọa của con người đối với con người, những thuyền nhân này c̣n phải đương đầu với những cơn thịnh nộ của thiên nhiên.  Những cơn phong ba băo táp đă khiến cho không biết bao nhiêu thuyền nhân làm mồi cho biển cả.  Không ai dám phỏng đoán với mỗi người có cơ may đặt chân lên bến bờ tự do, đă có bao nhiêu người hy sinh trên đại dương.

 

Cuối cùng, làn sóng người tị nạn Việt Nam bằng đường biển đă viết lê thiên bi sử của thuyền nhân, và những câu chuyện hăi hùng của các cuộc vượt biển của người tị nạn Việt Nam đă đánh động được lương tâm thế giới.  Vào tháng Ba 1979, chương tŕnh Ra Đi Có Trật Tự ra đời để cố gắng ngăn chặn những làn sóng vượt biển.  Ngoài ra, cũng vào thời gian này, các chương tŕnh cứu người vượt biển đă được một số tổ chức thiện nguyện quốc tế phát động hai chiếc tầu cứu vớt thuyền nhân ngoài biển là Anamur do một tổ chức từ thiện Đức Quốc vận động vào năm 1979 L’Ile de Lumiere của tổ chức từ thiện Pháp Medecins du Monde điều hành vào năm 1980 đă cứu mạng được nhiều thuyền nhân Việt Nam lênh đênh ngoài biển cả trong khoảng thời gian từ 1979 cho đến 1990.

 

Chương Tŕnh Trợ Giúp Thuyền Nhân của Ca Tị Nan Liên Hiệp Quốc Qua các giai đoạn

 

Những chương tŕnh trợ giúp người tị nạn Việt Nam thuộc Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc (The United Nations High Commissioner for Refugees “UNHCR”), đă khởi sự từ năm 1973, và đă có ở Hà Nội kể từ 1975, do lời mời của chính phủ Hà Nội.  Kể từ năm 1973, Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc đă có mặt tại Việt Nam để trợ giúp cho nhiều làn sóng người di tản nội địa, đă phải dời chỗ ở nhiều nơi lánh nạn, khi quân đội Bắc Việt bắt đầu tràn vào vùng Bến Hải để công khai tấn công miền nam sau khi Ḥa Đàm Ba Lê mới được kư kết giữa hai bên.

 

Vào cuối thập niên 1970, thảm kịch những làn sóng thuyền nhân từ Việt Nam vượt biển đi t́m tự do đă tác động mạnh vào dư luận quốc tế và trở thành động cơ thúc đẩy Cao Ủy Tị Nạn Liên hiệp quốc phát động một chương tŕnh trợ giúp quy mô lớn đặc biệt nhắm vào những người tị nạn Việt Nam bắt đầu đổ xô ra biển cả để t́m đường thoát khỏi cuộc sống đầy đọa dưới chế độ Cộng Sản.  Những làn sóng di tản bằng đường biển từ thời đó đă mang đến cho thiên bi sử thuyền nhân Việt Nam kéo dài gần 20 năm, từ 1975 cho đến cuối thập niên 1990.

 

Từ 1979 đến 1991: Chương Tŕnh Ra Đi Có Trật Tự(Orderly Departure Program, “ODP”)

 

Vào những năm cuối cùng của thập niên 1970, những thông tin về thảm kịch thuyền nhân Việt Nam đă làm rung động dư luận thế giới, và thúc đẩy Liên Hiệp Quốc vào cuộc để t́m một giải pháp cho vấn đề.  Vào thời đó, UNHCR đă thiết lập Chương Tŕnh ODP để đưa những người muốn rời khỏi Việt Nam ra đi bằng những phương tiện an toàn hơn, trong khuôn khổ của một chương tŕnh trợ giúp người tị nạn do Liên Hiệp Quốc bảo trợ.

 

Sau khi những lời kêu cứu cảu chính những thuyền nhân thoát nạn, cũng như những nỗ lực vận động của các tổ chức thiện nguyện quốc tế, khơi động sự chú tâm của cộng đồng thế giới, Liên Hiệp Quốc đă tổ chức một hội nghị tại Geneve vào tháng Ba 1979 để t́m một giải pháp cho vấn đề thuyền nhân Việt Nam.  Tại hội nghị này, một Bị Vong Lục đă được kư kết theo đó Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc được ủy thác trách nhiệm thiết lập một chương tŕnh ra đi có trật tự, để giúp cho những người muốn rời khỏi Việt Nam có thể ra đi bằng những phương tiện an toàn hơn.  Cho đến khi chương tŕnh ODP được trao phó cho tổ chức thiện nguyện quốc tế International Organization for Migration(IOM) vào cuối năm 1991, UNCHR đă giúp đỡ cho 330,000 thuyền nhân, trong đó có 13,252 người Cam Bốt, rời khỏi các trại tị nạn tại Đông Nam Á để đi định cư tại các nước thứ Ba.

 

Từ năm 1988 đến 1997: Trợ giúp hồi hương(Thuyền nhân Việt Nam) theo Chương Tŕnh Hành Động Toàn Diện CPA.

 

Với việc thông qua Chương Tŕnh Hành Động Toàn Diện vào năm 1989 (Comprehensive Plan of Action CPA) dành cho những người tị nạn Đông Dương, UNHCR đă thiết lập những thể thức để đưa người tị nạn hồi hương ở một quy mô rộng lớn.  Chương tŕnh này dành cho những thuyền hân đă được thanh lọc, và không hội đủ điều kiện để được định cư tại các nước thứ ba. 

 

Trong khuôn khổ của Chương Tŕnh CPA, UNHCR đă cấp những khoảng trợ cấp tái định cư trực tiếp cho những thuyền nhân chấp thuận hồi hương dưới h́nh thức một khoản tiền mặt.  Ngoài ra, UNHCR cũng thực hiện một chương tŕnh kiểm tra hậu hồi hương theo chương tŕnh này.  Mục đích của chương tŕnh kiểm tra hậu hồi hương là để theo dơi việc định cư những người hồi hương và tránh những trường hợp nhữg thuyền nhân bị chính quyền Việt Nam trừng phạt v́ đă ra đi tị nạn.

 

Vào cuối năm 1988, đă có trên 110,000 thuyền nhân từ các trại tị nạn Á Châu hồi hương và được tái định cư tại những địa phương họ đă rời trước đây.  Chương tŕnh Hành Động Toàn Diện CPA của UNHCR chính thức chấm dứt vào ngày 30 tháng 6 năm 1996, đối với những trại tị nạn tại các nước Đông Nam Á, và vào ngày 30 tháng 6, 1997 tại các trại tị nạn Hồng Kông.

 

Thảm kịch thuyền nhân Việt Nam chỉ thực sự chấm dứt vào năm 1999, sau khi chương tŕnh tái định cư những thuyền nhân hồi hương theo chương tŕnh CPA được hoàn tất.

 

SỐ THUYỀN NHÂN TRONG TỪNG GIAI ĐOẠN

(Nguồn: The State of the World’s Refugees 2000, 50 Years of Humanitarian Action, UNHCR)

 

Bản 1: Tổng kết số thuyền nhân đến lánh nạn tại các nước tạm dung trong từng giai đoạn

 

Nước Tạm Dung   1975-1979      1980-1984       1985-1989       1990-1995     Tổng Cộng

 

Mă Lai:                      24,103             76,205            2,860            1,327             254,495

Hồng Kông:               79,906             28,975            59,518          7,434               95,833

Nam Dương:              51,156             36,208           19,070         15,274             121,708

Thái Lan:                    25,723             52,468           29,850           9,280            117,321

Phi Luật Tân:            12,299             20,201            17,829           1,393              51,722

Tân Gia Ba:                 7,858             19,868             4,578              153              32,457

Nhật Bản:                    3,073                4,635             1,834           1,529             11,071

Ma Cao:                     4,333                 2,777                  17                   1              7,128

Nam Hàn:                     409                   318                  621                   0              1,348

Các nước khác:          2,566                  340                  321                   0              3,277

Tổng cộng:              311,426           241,995           186,498          56,391          796,310

 

CÁC NƯỚC NHẬN ĐỊNH CƯ NGƯỜI TỊ NẠN ĐÔNG DƯƠNG

KỂ CẢ THUYỀN NHÂN VIỆT NAM TỪ 1975 ĐẾN 1995

(Nguồn: The State of the World’s Refugees 2000, 50 Years of Humanitarian Action, UNHCR)

 

Bản 2: Số thuyền nhân được định cư tại các nước trên thế giới

 

Nước Định Cư:          Cambodia                  Lào                 Việt Nam           Tổng Cộng

 

Hoa Kỳ                        150,240                 240,147            424,490               822,977

Úc Đại Lợi:                   16,308                  10,239            110,996                137,543

Gia Nă Đại                   16,818                  17,274            103,053                 137,145

Pháp:                             34,364                  34,236              27,071                  95,671

Anh Quốc:                         273                       346              19,355                  19,974

Tây Đức                            874                    1,706             16,848                   19,428

Tân Tây Lan:                 4,421                    1,273               4,921                   10,628

Nhật Bản                        1,061                    1,273               6,469                    8,803

Thụy Sĩ:                         1,638                       593                6,239                    8,470

Ḥa Lan:                          465                         33                7,565                     8,063

Na Uy:                              128                           2                6,064                     6,194

Thụy Điển:                         19                         26                6,009                     6,054

Đan Mạch:                         31                         12                4,482                    4,725

Bỉ:                                     745                       989                2,051                    3,785

Phần Lan:                          37                           0                 1,859                    1,902

Các nước khác:            8,063                    4,688                7,070                   19,821

 

Tổng Cộng:                235,484                 320,856           754,842              1,311,183

 

Nguồn: http://saigontimesusa.com/bai/thuyennhan/bisuthuyennhan.shtml

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính