Cần xét lại ư nghĩa đích thực Ngày Quân Lực 19-6 (?!!)

 

Nguyễn Phi Thọ 

 

   

 

Điều 1 trong 6 Điều Tâm Niệm của người chiến sĩ Việt Nam Cộng Ḥa:

Tôi nguyện chấp nhận mọi hy sinh gian khổ để chiến đấu bảo vệ cho sự sống c̣n của Tổ Quốc, của gia đ́nh và của chính bản thân tôi. 

 

Cứ mỗi lần ngày 19 tháng 6 trong năm lại tới, những người cựu quân nhân của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa thường tổ chức đại lễ để tưởng nhớ tới người lính miền Nam một thời qúa khứ oai hùng chiến đấu trên bốn vùng chiến thuật, bảo vệ tổ quốc và ǵn giữ an ninh, mang lại yên b́nh cho đồng bào miền Nam. Thế nhưng không mấy người lính biết rơ nguồn gốc ai đă thành lập ra ngày Quân lực và tại sao có ngày Quân lực? Trước năm 1975 sau khi nền Đệ nhất Cộng ḥa sụp đổ, miền Nam mới có ngày Quân lực. Theo chỗ chúng tôi biết, dưới nền Đệ nhất Cộng ḥa do cố tổng thống Ngô Đ́nh Diệm chỉ có ngày Song Thất 7 tháng 7, ngày Quốc Khánh Đệ nhất Cộng Ḥa 26 tháng 10 và cũng là ngày Quân đội miền Nam thực sự được thành lập sau khi được trao lại từ tay người Pháp, với danh xưng mới Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa. 

 

Nếu tính từ nguyên thủy ngày thành lập Quân đội Việt Nam, đó là ngày 11 tháng 5 năm 1950, Quốc hội Pháp biểu quyết chấp thuận cho thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam. Cùng ngày này Thủ tướng Trần Văn Hữu tuyên bố thành lập Quân đội Quốc gia chống Cộng (Quân sử 4, trang 192) 

 

Sau đó 7 tháng, ngày 8 tháng 12 năm 1950 Bảo Đại, thủ tướng Hữu và Cao ủy Pháp Leon Pignon kư một thỏa ước thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam nhưng Tổng tư lệnh quân đội Pháp ở Đông Dương chỉ huy Quân đội Quốc gia Việt Nam. Ngày 10 tháng 2 năm 1955, quyền chỉ huy Quân đội miền Nam được Pháp trao lại cho Việt Nam. (Đoàn Thêm 1945-1964 trg. 162) 

 

Chúng tôi xin nói sơ qua những biến cố lịch sử từ tháng 11 năm 1963 khi một nhóm tướng lănh nổi loạn và giết chết vị Tổng Tư Lệnh của ḿnh, miền Nam rơi vào một t́nh trạng giống như “thập nhị sứ quân” bên Tàu. Đó là một giai đoạn thật đáng buồn cho quân dân miền Nam. Những biến động đau thương này kéo dài cho đến năm 1965. 

 

Sau khi Tổng thống Diệm bị giết, Dương Văn Minh lên nắm quyền với chức vụ là Trung tướng chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng. Hội đồng chỉ sống được ba tháng, trung tướng Nguyễn Khánh đảo chánh và tự phong ḿnh lên làm quốc trưởng. Sau 6 tháng, ngày 16 tháng 8 - 1964 họ kéo nhau xuống Vũng Tàu thành lập Hội đồng Quân đội Cách mạng với một hiến chương mới (Hiến chương Vũng Tàu). Khánh lên làm chủ tịch Việt Nam Cộng Ḥa và Dương Văn Minh làm cố vấn. 

 

Hiến chương chào đời chưa được bao lâu, Khánh bị chống đối dữ dội, nhất là phía Phật giáo và giới sinh viên. Những cuộc chống đốí tương tự lan tràn ra tới miền Trung. Cuối cùng Khánh chịu không nổi nên ông ta phải xuất hiện tuyên bố hủy bỏ hiến chương rồi từ chức.

 

Tháng 8, Hội đồng Quân đội Cách mạng họp bầu người quốc trưởng, Nguyễn Khánh làm thủ tướng và Trần Thiện Khiêm chỉ huy quân đội. Một tháng sau, “chính phủ” này thành lập ban Thượng Hội đồng Quốc gia, lănh đạo quốc gia để trao quyền, quân đội trở về vị trí chiến đấu bảo vệ đất nước. Mặc dù nói là trao quyền lại cho dân nhưng thực tế cái Uỷ ban lănh đạo quốc gia được nắm giữ là những tướng lănh trong quân đội: Dương Văn Minh làm chủ tịch. T́nh h́nh vẫn tiếp tục xáo trộn qua vụ tướng Dương Văn Đức và tướng Lâm Văn Phát điều quân nổi loạn. Cuộc nổi loạn được hội đồng Quân đội Cách mạng yểm trợ ngầm nhưng “chết yểu” trong b́nh yên. Dương Văn Đức tuyên bố chỉ là một cuộc “biểu dương” mà thôi. 

 

Tháng 9 năm 1964, ông Phan Khắc Sửu được bầu làm chủ tịch Thượng hội đồng. Hội đồng quốc gia có quyền để thực hiện các cơ chế quốc gia, chọn quốc trưởng. Phan Khắc Sửu lại làm quốc trưởng. Ngày hôm sau Nguyễn Xuân Chữ thay Phan Khắc Sửu làm Chủ tịch hội đồng Quốc gia. Nguyễn Khánh rút lui khỏi chính trường. 

 

Tháng 11 Dương Văn Minh được thăng Đại tướng, một ngày sau Nguyễn Khánh cũng lên đại tướng. Các tướng lănh được vinh thăng chức tước liên tục nên quân đội thời bấy giờ có rất nhiều tướng trẻ. Khánh bị áp lực phải thành lập Hội đồng Quân lực để giải quyết những vấn đề quan trọng của đất nước. Tổng tư lệnh mất quyền bính. Khánh có chân lớn trong Hội đồng Quân lực để tính chuyện cho ḿnh trong tương lai. 

 

Chưa được mấy ngày, Hội đồng quân lực tuyên bố giải tán chính phủ Phan Khắc Sửu, chỉ tín nhiệm cá nhân ông Sửu và ông Hương làm thủ tướng. Thủ tướng Hương lại bị phản đối. HĐQL lại bất tín nhiệm giải tán luôn chính phủ. Khánh được quyền đứng ra giải quyết chuyện đất nước. Phan Khắc Sửu vẫn tiếp tục tại chức. 

 

Khánh lên nắm quyền và phong cho Phan Huy Quát lên làm thủ tướng. Đại tá Phạm Ngọc Thảo và Lâm Văn Phát đảo chánh. Phật giáo và sinh viên chống đối. Đảo chánh bất thành, Phạm Ngọc Thảo đào thoát. HĐQL lại truất phế Khánh để giao quyền cho trung tuớng Trần Văn Minh lên làm tổng tư lệnh quân lực. Dương Văn Minh đi làm đại sứ Thái Lan, Nguyễn Khánh làm đại sứ lưu động. 

 

Nói chung, sau khi hạ sát vị Tổng tư lệnh nền Đệ nhất Cộng ḥa, nhóm tướng lănh chẳng biết mô tê ǵ chuyện chính trị, nhưng mục đích là tranh giành chức tước ngôi vị, biến thành những tay sai đắc lực cho chính quyền Mỹ thao túng đường lối quốc gia, hoạch định mọi chuyện chống cộng, để biến Nam Việt Nam thành một đất nước không c̣n chủ quyền. 

 

Mặc dù chính quyền mang tiếng là dân sự do Phan Huy Quát làm thủ tướng, nhưng những bất đồng xảy ra giữa Phan Khắc Sửu và Phan Huy Quát tiếp tục. Trong t́nh trạng “hỗn quân hỗn quan” đó, các đoàn thể chính trị, tôn giáo, sinh viên đồng loạt phản đối Phan Huy Quát. Quân đội trở lại chính trường để rồi có ngày Quân Lực 19 tháng 6. Chúng tôi xin mời độc giả đọc trích đoạn viết về Ngày Quân Lực của tác giả Trần Gia Phụng như sau: 

 

NGÀY QUÂN LỰC (19-6)  

Ngày 25-5-1965, thủ tướng Phan Huy Quát cải tổ chính phủ, bổ nhiệm một số tổng trưởng mới. Quốc trưởng Phan Khắc Sửu không đồng ư. V́ sự bất đồng giữa thủ tướng và quốc trưởng, xảy ra khủng hoảng nội các. Cuộc khủng hoảng trầm trọng thêm khi tổng hội sinh viên, một số đoàn thể chính trị và các đoàn thể giáo dân Ky-Tô giáo lần lượt yết kiến quốc trưởng Phan Khắc Sửu, phản đối chính phủ Phan Huy Quát. (Nguyễn Trân, Công và tội, những sự thật lịch sử, California: Nxb. Xuân Thu, 1992, tt. 542-544. Nguyễn Trân là hội viên HĐQGLP, có mặt trong cuộc họp nầy.)

  

Ngày 9-6-1965, thủ tướng Phan Huy Quát họp báo, tường tŕnh về cuộc khủng hoảng chính trị và đề nghị các tướng lănh đứng ra làm trung gian để giữ thế quân b́nh cho đến khi có một chính phủ dân cử. Trong cuộc họp tối 11-6-1965, các tướng lănh áp lực quốc trưởng Phan Khắc Sửu, thủ tướng Phan Huy Quát cùng HĐQGLP giao trả lại quân đội trách nhiệm và quyền lănh đạo quốc gia mà HĐQL đă ủy thác cho chính phủ dân sự.

 

Vừa v́ bất đồng, vừa v́ áp lực của các tướng lănh, quốc trưởng Phan Khắc Sửu, thủ tướng Phan Huy Quát và chủ tịch Hội đồng Quốc gia Lập pháp Phạm Xuân Chiểu đồng kư bản tuyên cáo ngày 11-6-1965, nguyên văn như sau:

 

“Sau khi duyệt lại t́nh trạng ngày càng một khẩn trương của đất nước, sau khi đă xét lại và xác nhận rằng: những cơ cấu và thể chế Quốc Gia hiện tại không c̣n phù hợp với t́nh thế, sau khi đă hội ư cùng toàn thể tướng lănh Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa tại Phủ Thủ Tướng ngày 11/6/1965, chúng tôi, Quốc Trưởng Việt Nam Cộng Ḥa, Hội Đồng Quốc Gia Lập Pháp, Chánh Phủ Việt Nam Cộng Ḥa đồng thanh quyết định long trọng trao trả lại cho Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa trách nhiệm và quyền hành lănh đạo quốc gia đă được Hội Đồng Quân Lực ủy thác cho chúng tôi chiếu theo Quyết Định số 8 ngày 5/5/1965, Tuyên Cáo số 7 ngày 5/5/1965, Quyết Định số 5 ngày 16/2/1965, Quyết Định số 6 ngày 17/2/1965 và Quyết Định số 4 ngày 16/2/1965.

 

Yêu cầu toàn thể đồng bào các giới không phân biệt giai tầng địa phương, đảng phái và tôn giáo, ủng hộ Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa trong việc lănh đạo toàn Quân và toàn Dân đúng theo tinh thần của Cách Mạng 1/11/1963.” (Trích từ Phạm Phong Dinh, “Ư nghĩa Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa”, tạp chí Thế Giới Mới, Houston, 7-6-2009.) 

 

Ngày 14-6-1965, HĐQL họp tại Sài G̣n, đồng thanh chấp nhận đứng ra lănh trọng trách điều khiển quốc gia một lần nữa, thành lập một ủy ban lănh đạo của quân lực mệnh danh là Ủy ban Lănh đạo Quốc gia (UBLĐQG). Ủy ban LĐQG thay mặt toàn thể quân lực VNCH điều khiển quốc gia, có nhiệm vụ thiết lập thể chế và các cơ cấu quốc gia cùng thành lập một nội các chiến tranh. Sau đây là nguyên văn bản quyết định ngày 14-6-1965 của Hội đồng tướng lănh:

 

“- Sau khi nghiên cứu Bản Tuyên Cáo Chung của Quốc Trưởng, Hội Đồng Quốc Gia Lập Pháp và Chánh Phủ Việt Nam Cộng Ḥa ngày 11/6/1965 trao trả trách nhiệm và quyền hành lănh đạo Quốc Gia cho Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.  

 

Chiếu biên bản Đại Hội Đồng các Tướng Lănh Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa ngày 12/6/1965. Các Tướng Lănh Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, Tư Lệnh các vùng chiến thuật và quân binh chủng đă quyết định:  

 

Quyết Định:  

 

Điều 1. Thành lập một ủy ban lănh đạo của Quân Lực mệnh danh là Ủy Ban Lănh Đạo Quốc Gia.

 

Điều 2. Thành phần của Ủy Ban nói trên gồm có: một Chủ Tịch, một Tổng Thơ Kư, một Ủy Viên phụ trách điều khiển Hành Pháp, Tổng Trưởng Quốc Pḥng, Tổng Tham Mưu Trưởng, các Tư Lệnh Vùng Chiến Thuật, Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô.

 

Điều 3. Ủy Ban Lănh Đạo Quốc Gia thay mặt toàn thể Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa điều khiển Quốc Gia.  

 

Điều 4. Hoàn toàn tín nhiệm và chỉ định:

 

A. Chủ Tịch Ủy Ban Lănh Đạo Quốc Gia: Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu.

 

B. Tổng Thư Kư: Trung Tướng Phạm Xuân Chiểu.

 

C. Ủy Viên phụ trách điều khiển Hành Pháp: Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ.  

 

Điều 5. Ủy Ban Lănh Đạo Quốc Gia có nhiệm vụ thiết lập thể chế và các cơ cấu Quốc Gia cùng thành lập một Nội Các Chiến Tranh.” (Trích từ Phạm Phong Dinh, “Ư nghĩa Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa”, tạp chí Thế Giới Mới, Houston, 7-6-2009.)  

 

Sau khi tuyên bố nhận lănh trách nhiệm đứng ra điều khiển đất nước, các tướng lănh đề cử: trung tướng Nguyễn Văn Thiệu giữ chức chủ tịch Ủy ban Lănh đạo Quốc gia (UBLĐQG), nhiệm vụ và quyền hành quốc trưởng; trung tướng Phạm Xuân Chiểu làm tổng thư kư UBLĐQG; thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ là ủy viên phụ trách điều khiển hành pháp, nhiệm vụ và quyền hành thủ tướng.  

 

Ngày 19-6-1965, HĐQL quyết định giải tán Hội đồng Quốc gia Lập pháp (quyết định số 4/ QLVNCH), ban hành Ước pháp Tạm thời gồm 7 thiên, 25 điều,và thiết lập các tổ chức: Đại hội đồng Quân lực, UBLĐQG, UBHPTƯ, Hội đồng An ninh Quốc gia, Hội đồng Kinh tế và Xă hội, Thượng Hội đồng thẩm phán (quyết định số 5/QLVNCH). Chủ tịch UBLĐQG Nguyễn Văn Thiệu liền kư sắc lệnh 001/a/CT/LĐQG thành lập nội các chiến tranh, gọi là Ủy ban Hành pháp Trung ương (UBHPTƯ) 

 

Đại hội đồng Quân lực gồm tất cả các tướng lănh trong quân đội VNCH. Ủy ban Lănh đạo Quốc gia gồm trung tướng Nguyễn Văn Thiệu (chủ tịch), trung tướng Phạm Xuân Chiểu (tổng thư kư), thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ (ủy viên hành pháp), tổng trưởng Quốc pḥng, tổng tham mưu trưởng, bốn tư lịnh bốn Vùng chiến thuật và tư lịnh Biệt khu thủ đô. Uỷ ban hành pháp Trung ương do trung tướng Nguyễn Văn Thiệu bổ nhiệm bằng sắc lệnh số 001/a/CT/LĐQG ngày 19-6, ngoài chủ tịch là thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ c̣n có 5 tổng uỷ viên, 10 ủy viên và 2 thứ ủy.  

 

Khác với những lần đảo chánh hay chỉnh lư trước đây, lần nầy do tranh chấp giữa các chính khách dân sự và với sự thỏa thuận của phía chính phủ dân sự, các tướng lănh ra nắm chính quyền. Từ đây, ngày 19-6 được xem là ngày kỷ niệm Quân lực VNCH nắm chính quyền, và thường được gọi là NGÀY QUÂN LỰC. (Trích Việt sử đại cương tập 6.) (ngưng trích)

 

Hiểu như vậy, Ngày Quân Lực 19 tháng 6 được các tướng lănh lật đổ nền Đệ nhất Cộng ḥa khai mở để đánh dấu, không phải là ngày thành lập Quân lực VNCH hay biểu lộ sức mạnh oai hùng và bất khuất của một quân lực đầy đủ uy dũng để bảo vệ tổ quốc và đồng bào. Nhưng chỉ là ngày các tướng lănh, sau những cuộc binh biến hỗn tạp mà một số cơ quan truyền thông mỉa mai là cảnh “lục súc tranh công” đứng ra nhận lănh vai tṛ lănh đạo đất nước. Ngày mà nhóm phản tướng, bội tướng có thành tích phá nát bét chính trường miền Nam muốn tạo thanh thế cho chế độ quân phiệt bắt đầu. Cuộc diễn binh đầu tiên đánh dấu Ngày QL 19 tháng 6 được diễn ra rất lớn trên đường Trần Hưng Đạo (Sàigon) vào năm 1966. Cuộc diễn binh này cũng c̣n có ư nghĩa để “dằn mặt” các tổ chức, đảng phái chính trị và tôn giáo muốn âm mưu đứng ra lănh đạo đất nước. Không ai phủ nhận chủ chốt việc lănh đạo đất nước ngày 19 tháng 6 là Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu làm chủ tịch Ủy ban lănh đạo quốc gia (tổng thống), thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ điều hành Hành pháp (thủ tướng) và trung tướng Phạm Xuân Chiểu tổng thư kư. 

 

Nếu muốn biết sự khai sinh đúng nghĩa của quân lực Việt Nam Cộng Ḥa, của các quân, binh chủng... th́ chúng ta phải gạt bỏ những mặc cảm, những đầu óc phe phái, những lệch lạc về tôn giáo đang c̣n ứ đọng suốt hơn nửa thế kỷ qua để nhận xét đúng nghĩa là ngày Quân lực do từ đâu? Trong bài viết về sự thành h́nh Quân lực VNCH, của tác giả Chinh Nhân, sau khi đẩy Pháp ra khỏi Việt Nam, chấm dứt nền đô hộ của thực dân Pháp rồi bỏ luôn chế độ quân chủ, mở đầu một chính thể Cộng Ḥa mà sau này chúng ta gọi là Việt Nam Cộng Ḥa: 

 

Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa được chính thức khai sinh vào những ngày tháng cuối năm 1954, sau ngày 20-7-1954 tức là ngày hiệp định Genève được kư kết giữa Pháp và Cộng Sản Việt Nam. Mỗi Quân Binh Chủng lần lượt nhận lại quyền chỉ huy (chủ quyền) từ tay người Pháp, cho măi tới ngày 26-10-1955 các Quân Binh Chủng mới chính thức được chỉ huy hoàn toàn bởi các Sĩ Quan Việt Nam, đồng thời các cơ sở Hành Chánh, Cảnh Sát, Công An và các cơ quan Tư Pháp cũng được trao trả lại chủ quyền cho người Việt Nam cùng ngày, cho nên ngày 26-10-1955 được coi như ngày người Việt Nam giành lại chủ quyền từ tay người Pháp, sở dĩ như vậy cho nên ngày 26-10 hàng năm thời Đệ Nhất Cộng Hoà chọn là ngày Quốc Khánh cũng có người ngày nay c̣n cho đó là ngày độc lập của người Quốc Gia hay Ngày Quân Lực. (ngưng trích).

 

Sự thành h́nh, một quân đội từ “khố xanh khố đỏ” đă được tân chế độ Dân Chủ c̣n qúa mới mẻ doTổng thống Ngô Đ́nh Diệm lănh đạo, biến thành một quân lực son trẻ nhưng không thua kém ǵ những quân lực quanh vùng Đông Nam Á thời bấy giờ. Tác giả Chinh Nhân đă viết lại sự thay đổi nhanh chóng này như sau: 

 

Cũng từ ngày 26-10-1955 Bộ Tham Mưu hỗn hợp Việt Pháp được cải tổ và cải danh thành Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Công Ḥa, các Bộ Tư Lệnh Quân khu được cải danh thành Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn vào đầu năm 1956; các đơn vị Sư Đoàn Khinh Chiến, Dă Chiến cũng dần dà được canh tân thành các Sư Đoàn Bộ Binh vào đầu năm 1958; các Lữ Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, Liên Đoàn Nhảy Dù cũng theo đà canh tân Quân Đội được bàng trướng thành các Sư Đoàn Tổng Trừ Bị vào cuối năm 1965, các Đại Đội Biệt Động Quân được thành lập thành Tiểu Đoàn rồi Liên Đoàn rồi Sư Đoàn vào đầu năm 1975, các đơn vị Thiết Giáp cấp Chi Đoàn, Thiết Đoàn được canh tân, hiện đại hoá bằng những thiết giáp tân tiến và tăng trưởng thành các Thiết Đoàn, Trung Đoàn Thiết Giáp; các Chiến Hạm Hải Quân cũ kỹ do quân đội Pháp để lại được thay thế bằng những chiến hạm tân tiến hiện thời ạ ạt nhận thêm chiến hạm mới các pḥng Hải Quân bên cạnh Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn được thành lập thành các Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng; các đơn vị Không Quân từ những khu trục cơ cánh quạt được thay thế bằng những Phản Lực cơ siêu âm rồi các Phi Đoàn, Sư Đoàn Không Quân ra đời; các binh chủng, nha sở cũng được trang bị hiện đại hơn và tăng cường quân số cho phù hợp với nhu cầu cuả chiến trường và nhu cầu của các đơn vị không tác chiến. Chính v́ vậy mà một vị tướng lănh tên tuổi ngoại quốc (chúng ta thường có tinh thần vọng ngoại) đă phải tuyên bố xác nhận rằng : Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa là một quân lực tinh nhuệ và hùng hậu đứng vào hàng thứ năm trên thế giới. (ngưng trích)

 

Nếu hiểu đúng nghĩa ngày Quân Lực th́ phải tính từ ngày 11 tháng 5 năm 1950 hay 8 tháng 12 năm 1950. Ngày 10 tháng 2 năm 1955 chỉ là một biến cố chuyển quyền. Những ngày này, dù quân đội Việt Nam được thành lâp nhưng vẫn c̣n bị ràng buộc và chỉ huy bởi quân đội Pháp. Nếu quân đội Việt Nam hoàn toàn được chỉ huy độc lập và không c̣n vướng mắc ǵ tới quân đội Pháp, th́ theo tác giả Chinh Nhân tŕnh bày, cái mốc Ngày Quân Lực phải là ngày 26 tháng 10 chứ không phải ngày 19 tháng 6.  

 

Nhưng suốt 36 năm qua, người lính miền Nam bỏ nước ra đi, v́ thói quen đă có sẵn trước năm 1975, đều chọn ngày 19 tháng 6 để vinh danh quân đội VNCH. Chúng ta đă quên đi ư nghĩa đích thực của ngày Quân Lực mà chỉ nh́n vào một biến cố trở thành thói quen. Khi nhắc đến chiến thắng trận Normandy là phải nhắc tới đại tướng Dwight D. Eisenhower, nói tới cuộc lui binh Waterloo không thể không quên đại tướng Napoleon Bonaparte, nói về trận chiến Nam/Bắc của Đại Hàn không thể không nhớ tới đại tướng MacAthur, viết về nền Đệ Nhất Cộng Ḥa Việt Nam không thể không quên người khai phóng ra nó là cố TT Ngô Đ́nh Diệm, nhắc đến ngày 17 tháng 6 – 1930 truy điệu và tưởng niệm anh hùng Yên Báy là phải nhớ tới nhà cách mạng trẻ Nguyễn Thái Học, viết về người sinh viên quốc gia uy dũng bước ra pháp trường của Cộng sản Việt Nam ngày 8 tháng 1- 1985, phải hướng về Trần Văn Bá, truy điệu chiến sĩ vị quốc vong thân ngày 30 tháng 4 là phải nhắc đến các tướng lănh Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai, Phạm Văn Phú..v.v.. Nhưng hôm nay, chúng ta kỷ niệm Ngày Quân Lực 19-6, có c̣n ai nhắc đến hai tướng lănh lănh đạo đất nước, chỉ huy quân đội, là những cột trụ của Ngày Quân Lực: Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu và thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ?

 

 Làm chủ tịch Ủy ban lănh đạo quốc gia (tổng thống) suốt gần 10 năm, ông Thiệu đă làm được ǵ cho đất nước? Không ai phủ nhận những đóng góp trong chức vụ của ông để ǵn giữ miền Nam khỏi rơi vào tay phương Bắc. Nhưng những đóng góp này không phải do ông tạo ra mà do sự nương dựa vào đống tiền viện trợ Mỹ cũng như sự “chỉ giáo” của người bạn đồng minh không mấy tốt. Khi “đồng minh tháo chạy” th́ ông cũng chấm dứt luôn chuyện lănh đạo đất nước, chỉ huy quân đội, để theo đồng minh tháo chạy. Cuộc tháo chạy của ông cũng đồng nghĩa như là một cuộc đào ngũ, đào ngũ có tính toán, có sắp xếp, đào thoát được sự tiếp tay của người bạn đồng minh phản bội. Trong quân lực của các quốc gia trên thế giới, chưa có một quân nhân nào dám đào ngũ có sắp xếp và tính toán trước. Nếu có tính toán th́ âm mưu đó cũng chỉ ḿnh họ biết. Chưa hết, ông Thiệu là một tổng tư lệnh quân lực, trước khi đào ngũ vẫn c̣n “lừa gạt” quân đội, lừa gạt đồng bào, tuyên bố trở lại chức vụ trung tướng sát cánh với quân đội để bảo vệ đất nước..

 

 Với Nguyễn Cao Kỳ, cũng đă từng giữ chức vụ Thủ tướng trong ngày 19 tháng 6, không thua ǵ ông Thiệu, cũng gạt đồng bào, cố tạo niềm tin với đồng bào, nhưng sau cái tṛ ma giáo đó, thoát thân ra đi như một tên đào binh tầm thường khác. Cái bẩn hơn là bây giờ, chấp nhận ṃ về Việt Nam để làm thân khuyển mă cho chế độ mà trước đây ông tuyên bố sẽ chiến đấu với chúng đến cùng. Đă hèn như vậy lại c̣n đi biêu xấu những chiến hữu và quân lực của ḿnh phục vụ trước đây. Ông Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, có bao giờ đến tham dự Ngày quân lực 19-6 mà những hội đoàn quân đội thường tổ chức hàng năm tại hải ngoại? Lúc c̣n sinh thời sau khi bỏ nước ra đi, ông Thiệu không bao giờ đến tham dự ngày Quân lực. Ông ta sợ xấu hổ chăng. Cũng có thể lắm. Khi c̣n lêu bêu trên đất Mỹ chưa về cúi đầu làm thân khuyển mă với quân thù, ông Kỳ cũng trốn chạy ngày Quân lực; có thể ông ta cảm thấy ngày đó không c̣n ư nghĩa ǵ nữa với người chiến sĩ bị phản bội. Những tướng lănh lựa chọn ngày 19 tháng 6, hầu hết là đám phản tướng. Họ chọn ngày 19 tháng 6 để đánh dấu ngày họ lên cầm quyền chứ không ăn nhập ǵ tới Quân lực VNCH. Đám tướng lănh này sau khi đào tẩu ra khỏi nước, chẳng thấy ông nào đến tham dự đại lễ Ngày Quân Lực. Sau đó chết dần ṃn và chẳng được một lời phân ưu của cá nhân hay hội đoàn quân đội nào. Thật là trớ trêu khi chọn ngày 19 tháng 6 là Ngày Quân Lực! Người quân nhân qủa thực đă khó xử khi ḿnh phải tham dự trước một nghịch cảnh cứ được tổ chức hàng năm. Trớ trêu và khó xử c̣n hơn cả chuyện Cộng sản Việt Nam xây đài tưởng niệm cố Ḥa thượng Thích Quảng Đức, một bậc chân tu của Phật giáo Việt Nam đă hiến thân ḿnh để “bảo vệ đạo pháp, tranh đấu cho độc lập tự do”. Người Phật tử chống Cộng “không khoan nhượng” đứng trước một nghịch lư rất khó giải thích được. 

 

Các hội đoàn quân đội chỉ chú tâm tới ngày Quân Lực, nhưng không màng chi tới những thế hệ kế tiếp sẽ nghĩ sao về những hệ lụy ngày 19 tháng 6?!

 

 Rồi mai đây, những chiến sĩ Mỹ gốc Việt, từ cấp tá (sẽ có cấp tướng) đến người lính, họ hỏi bậc cha anh ngày Quân Lực của quân đội VNCH từ đâu mà có, ai là người khai phóng ra nó, những chiến công nào quân lực của bậc cha anh đạt được? Chúng ta sẽ trả lời làm sao với họ? Hay là chúng ta chỉ biết ú ớ ngày quân lực là... ngày quân lực. Hoặc liều mạng để giải thích ngày QL rằng: đó là ngày các tướng tá hất cẳng chính phủ dân sự, chia phe chia đảng nhảy vào lănh đạo đất nước. Ngày biểu dương uy quyền của các ông “con trời làm cách mạng” bằng mũi súng và lựu đạn, cảnh cáo đảng phái chính trị đừng ḥng lạng quạng xả thân ra cứu nước. Nhưng đến khi tổ quốc lâm chung th́ những ông trời con này cao bay tháo chạy. Lính chúng tôi chỉ biết đánh giặc theo lệnh cấp trên. Không biết những người lính bị buộc buông súng bất hạnh này họ nghĩ sao về ngày Quân lực 19-6? Họ hănh diện hay họ uất hận trong ḷng. Uất hận và bàng hoàng v́ những người khai sinh ra nó toàn là đám phản bội tổ quốc, lừa bịp đồng bào rồi vứt con bỏ chợ. 

 

Người cựu quân nhân bây giờ chỉ biết buông xuôi theo những ǵ đàn anh hoặc cấp chỉ huy cũ của họ bày ra. Họ không c̣n có sự lựa chọn thứ hai. Cứ đến ngày 19 tháng 6 là có diễn hành, có áo măo cân đai, kiếm cung đầy người để biểu dương sức mạnh quân đội, dù biết tập thể quân đội này không c̣n đoàn kết, tập thể này đă phải tan hàng. Tại sao chúng ta lại cứ ôm khu khư cái ngày 19 tháng 6 phải là ngày Quân lực? Nó nói lên được điều ǵ?. Nhưng cần phải nói lên sự thật cho lớp hậu duệ biết th́ lại vướng vào chuyện trớ trêu như chúng tôi nói ở trên. Quân lực Việt Nam Cộng Ḥa c̣n biết bao nhiêu ngày có lư do chánh đáng để kỷ niệm đúng nghĩa của ngày Quân Lực.

 

Nếu người ta v́ mặc cảm với chế độ Đệ Nhất Cộng Ḥa hoặc với người có công đầu thành lập ra quân lực này, th́ thôi để “yên cửa yên nhà”cũng đành vậy, nhưng họ không thể tránh né sự thật để lừa bịp người chiến sĩ mà nay đă gác kiếm cung. Những chiến công oai hùng của các tướng lănh tài ba, những trận đánh long trời lở đất cả thế giới khâm phục như B́nh Long, An Lộc, B́nh Giă, Đồng Xoài, Dakto, Khe Sanh...Những tấm gương hy sinh qủa cảm của người lính miền Nam trong cuộc chiến Mậu Thân, những trận đánh làm quân thù khiếp đảm như trận chiến “mùa hè đỏ lửa”, dựng lại ngọn cờ vàng trên cổ thành Quảng Trị... Tất cả chiến thắng nói trên đều là công trạng chung của các quân binh chủng, của các tướng lănh trẻ tuổi và tài ba. Tại sao chúng ta không chọn một trong những ngày đó để làm Ngày Quân Lực thay thế 19 tháng 6? Tại sao chúng ta lại cứ bám vào một ngày chẳng mang một ư nghĩa tốt đẹp nào, mà chỉ toàn chứa đựng những qúa khứ đau buồn, những chuyện mua quan bán tước, những tranh giành xâu xé trong đám tướng lănh phản quốc và bịp bợm. Họ khai sinh ra nó khi c̣n ngồi trên đầu dân quân, rồi họ lại khai tử nó sau khi đào thoát ra ở nước ngoài. Chúng ta không thể v́ mặc cảm để phải đồng hóa họ là biểu tượng cho Quân lực VNCH nên không ai dám tách rời ngày 19 tháng 6 ra khỏi Ngày Quân Lực. 

 

Chúng tôi không dám phản đối nhưng hoàn toàn cổ vơ và tán đồng kỷ niệm Ngày Quân Lực. Đó là ngày cần có, cần làm và cần tưởng nhớ để vinh danh một quân lực đứng vào hàng đầu Đông Nam Á, hàng thứ năm trên thế giới. Nhưng chúng tôi là những cựu quân nhân chỉ cảm thấy không hài ḷng v́ biết rằng ngày 19 tháng 6 đă mất ư nghĩa. Người lính Việt Nam Cộng Ḥa có bổn phận phải bảo vệ tổ quốc và trách nhiệm ǵn giữ yên b́nh cho đồng bào. Nhưng thời thế đổi thay. Cầm quân cầm súng trong tay mà không giữ được nước, không bảo vệ được dân. Nay bỏ nước ra đi, để dân ở lại chiụ muôn vàn đắng cay, những tướng lănh của ngày 19/6 năm nào giờ đây đúng ra phải tạ tội với dân với nước từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Nó càng đau hơn, đó là ngày các đầu năo trong quân lực: trung tướng Nguyễn Văn Thiệu chuẩn bị giao miền Nam cho Cộng quân, đại tướng Trần Thiện Khiêm đào thoát, Đại tướng Cao Văn Viên giải ngũ khi quân thù đang tới, thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ gạt gẫm đồng bào, đại tướng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, và rất nhiều cấp chỉ huy bỏ chạy để lại người lính bơ vơ không ai chỉ huy. 

 

Ngày 30 tháng Tư phải là ngày người dân đứng ra lo chuyện tưởng nhớ đến quê hương dân tộc, người lính phải tiếp tay với dân và cũng nhân cơ hội nầy để cầu nguyện cho những chiến sĩ đă chết cho tổ quốc, nhất là những chiến sĩ phải chết trong những giờ phút cuối cùng của miền Nam rơi vào tay quân thù phương Bắc. Sau cùng, đây cũng chính là ngày đối diện với đồng bào để tạ tội với họ. Một ngày buồn của quân đội như thế th́ làm sao người cựu chiến binh có thể diện vào những bộ đồ nhà binh thẳng nếp, những bộ đại lễ vừa mới mang về từ tiệm giặt ủi, những dây biểu chương vàng rực rỡ, những huy chương long lánh trên ngực, những cấp bậc uư, tá trên cầu vai, súng ống đầy ḿnh, có đoàn rước quốc quân kỳ kèm theo những khúc quân hành xé tai... Những h́nh thức nầy hoàn toàn không thích hợp cho ngày 30 tháng Tư, nhưng nên dành lại cho Ngày quân lực. Dù có giải thích thế nào chăng nữa, chúng ta phải chấp nhận chúng ta đă bại trận trên chiến trường, nhưng không bại trận trong tâm hồn của mỗi cá nhân người chiến sĩ. Tinh thần bất khuất người lính miền Nam vẫn c̣n ghi măi trong sử xanh. Chính v́ ư nghĩa đó, chúng ta mới chọn đúng ngày Quân Lực để biểu dương tinh thần này, nhưng chúng ta đă chọn lầm ngày 19 tháng 6, đó không phải là ngày nói lên tinh thần v́ nước v́ dân của người chiến sĩ Việt Nam Cộng Ḥa.  

 

Nhưng bước tới Ngày Quân Lực, đó mới chính là ngày của người chiến sĩ Việt Nam Cộng Ḥa năm nào. Các hội đoàn quân đội đă qúa ôm đồm nhắm vào ngày 30 tháng 4 với những h́nh thức không thích hợp như chúng tôi nói ở trên, nên quên đi ư nghĩa đích thực của ngày Quân lực suốt 36 năm qua. Người cựu chiến binh VNCH phải lo làm rạng danh quân lực của ḿnh bằng những chiến công của qúa khứ, biểu lộ tinh thần phục vụ đồng hương hôm nay và trong tương lai. Người dân chỉ là phụ, và họ cũng có bổn phận tiếp tay với lính nếu được lính yêu cầu.

 

Việc lựa chọn để vinh danh Ngày Quân Lực là trách nhiệm của người lính. Nếu sự lựa chọn ngày Quân lực theo cảm tính hay v́ thói quen, v́ phải tránh né sự thật nên không mang ư nghĩa ǵ hết, người dân sẽ không c̣n hăng say yểm trợ cho ngày Quân Lực, thế hệ đàn em sẽ mù tịt về ngày này. Như chúng tôi tŕnh bày ở trên, Ngày Quân Lực đúng nghĩa phải là ngày 26 tháng 10. Khổ thay một nhóm người sẽ ngụy biện rằng ngày đó do chính quyền Ngô Đ́nh Diệm thành lập. Ông ta là kẻ đă "đàn áp Phật giáo, gia đ́nh trị, độc tài" nên bị nhóm phản lọan giết chết rồi. Nhưng họ không hiểu rằng suốt 36 năm qua, năm nào ở hải ngoại dân và quân đều có làm lễ tưởng niệm cố TT Ngô Đ́nh Diệm với đầy đủ quân cách, quân binh chủng tham dự. Trái lại ngày 19 tháng 6 lại do các tướng phản quốc, lừa bịp và đào ngũ trước khi đối diện với quân thù bày ra. Thử hỏi 36 năm qua có tổ chức quân đội nào gởi một lời phân ưu, một nén hương tàn, nói chi tới lễ truy điệu vinh danh các ông tướng khai sinh ra nó rồi cũng khai tử cho nó. Nhưng thôi chuyện đă qua, nhắc lại làm chi thêm đau ḷng, chỉ đường cho bọn cực đoan như Trần Chung Ngọc, Nguyễn Mạnh Quang, có cớ để gây oán gây thù. Chúng ta đă đốt cháy ư nghĩa cao cả và trung thực của ngày này từ nhiều năm qua, nhưng nay là thời điểm phải phục hồi và làm rực sáng trở lại đúng nghĩa Ngày Quân Lực.

  

Chúng tôi biết rằng khi viết những ư kiến riêng tư, không sao tránh khỏi sự chống đối của một nhóm người không đồng quan điểm với chúng tôi. Có thể họ sẽ chụp cho cái mũ “cần lao” và muốn tái sinh chế độ Ngô Đ́nh Diệm. Nhưng chúng ta đang sống trong một đất nước được quyền bày tỏ những ưu tư của ḿnh, đối với dân bản xứ, đó là chuyện b́nh thường. Bài viết nầy chỉ có mục đích để cho thế hệ kế tiếp biết sự thực về Ngày Quân Lực mà chúng ta tổ chức hàng năm.

 

Ngày 19 tháng 6 đă chết theo những ông tướng đào thoát, bỏ quân dân mà chạy. Ngày Quân Lực phải là ngày có ư nghĩa truyền thống của quân đội chứ không phải là ngày làm theo thói quen. Điều đó không nhất thiết phải là ngày 26 tháng 10. Tập thể cựu quân nhân chọn ngày nào cũng được nhưng phải hợp lư cho người lính, trong đó có chúng tôi vui mừng khi tham dự. Họ cảm thấy được đền bù xứng đáng với xương máu đă đóng góp cho quân đội, họ hănh diện về những niên trưởng, huynh trưởng của họ đă có công đầu làm nên Ngày Quân lực. Với những chiến hữu đă nằm xuống, họ mỉm cười nơi cơi thiên thu, không ân hận mặc dù mạng sống ḿnh đă phải đánh đổi để bảo toàn lănh thổ và b́nh yên cho đồng bào. 

 

Chúng ta vẫn c̣n hoài băo to lớn muốn thay đổi một chế độ Cộng sản trên quê hương, th́ nói chi thay đổi một ngày để tưởng nhớ và vinh danh một quân lực kiêu hùng như quân lực Việt Nam Cộng Ḥa./.

 

 

Nguyễn Phi Thọ 

 

-------------------------------------------------------------

 

Lịch Sử Ngày Quân Lực VNCH (19-6)

 

 

 

https://vivi099.files.wordpress.com/2014/04/1-tiec-thuong-a.jpg?w=244&h=300

      LỊCH SỬ NGÀY QUÂN LỰC (19-6)

 

 

1.- T̀NH H̀NH SAU CUỘC ĐẢO CHÁNH NGÀY 1-11-1963

 

Sau khi đảo chánh lật đổ chính phủ Ngô Đ́nh Diệm ngày 1-11-1963, các tướng lănh trong quân đội Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH) thành lập Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng (HĐQNCM) do trung tướng Dương Văn Minh làm chủ tịch và lên nắm chính quyền. Hội Đồng QNCM cử Nguyễn Ngọc Thơ lập chính phủ lâm thời.

 

Chính phủ nầy chỉ tồn tại trong ba tháng và bị trung tướng Nguyễn Khánh chỉnh lư ngày 30-1-1964. Trung tướng Khánh vẫn giữ trung tướng Dương Văn Minh làm quốc trưởng và Nguyễn Khánh tự đứng ra lập chính phủ ngày 8-2-1964.

 

Tại Vũng Tàu, ngày 16-8-1964 trung tướng Nguyễn Khánh họp Hội đồng tướng lănh, mà từ nay được gọi là Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng (chứ không phải là Quân Nhân Cách Mạng). Đồng thời trong cuộc họp nầy, Hội đồng QĐCM thông qua một hiến chương mới, về sau thường được gọi là Hiến chương Vũng Tàu, và bầu trung tướng Nguyễn Khánh lên làm chủ tịch VNCH, trung tướng Dương Văn Minh làm cố vấn.

 

Hiến chương Vũng Tàu ngày 16-8-1964 gồm “Lời nói đầu”, 8 thiên, 62 điều, bị chống đối từ nhiều phía, nhất là trong giới tín đồ Phật giáo và sinh viên học sinh. Nhiều cuộc biểu t́nh xảy ra tại các tỉnh trên toàn quốc, nhất là tại các thành phố phía bắc miền Trung như Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngăi…

 

Tại Sài G̣n, hàng ngàn người biểu t́nh trước chợ Bến Thành ngày 25-8-1964, kéo đến phủ chủ tịch (dinh Gia Long), đả đảo độc tài, đả đảo Hiến chương Vũng Tàu. Đoàn biểu t́nh càng lúc càng đông và không chịu giải tán. Cuối cùng trung tướng Nguyễn Khánh xuất hiện, cũng hô to khẩu hiệu: “Đả đảo độc tài quân phiệt”, tuyên bố hủy bỏ Hiến chương Vũng Tàu và từ chức.

 

Chiều 25-8, HĐQĐCM họp gấp tại bộ Tổng tham mưu. Cuộc họp kéo dài trong nhiều ngày. Ngày 26-8, HĐQĐCM ra tuyên cáo gồm các điểm: thu hồi hiến chương ngày 16-8-1964; sẽ bầu nguyên thủ quốc gia và sẽ ủy cho nguyên thủ quốc gia thực hiện cơ cấu dân chủ; các tướng lănh sẽ trở về với quân đội; ủy cho chính phủ hiện thời tạm điều hành việc nước. Như thế là Hiến chương Vũng Tàu chính thức bị băi bỏ ngày 16-8-1964, nhưng hậu chấn vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến t́nh h́nh.

 

Ngày 27-8-1964, HĐQĐCM quyết định thành lập Ban Lănh đạo Lâm thời Quốc gia (LĐLTQG) gồm tam đầu chế là các trung tướng Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh và Trần Thiện Khiêm, trong đó Dương Văn Minh làm quốc trưởng, Nguyễn Khánh làm thủ tướng, Trần Thiện Khiêm đứng đầu quân đội. Hội đồng QĐCM cử chính phủ Nguyễn Khánh tiếp tục nhiệm vụ, nhưng phải triệu tập Quốc dân Đại hội trong ṿng hai tháng.

 

Ngày 6-9, HĐQĐCM thông báo thành lập Thượng Hội đồng Quốc gia (THĐQG) để cố vấn cho Ban LĐLTQG. Ngày 7-9, HĐQĐCM bầu trung tướng Dương Văn Minh làm chủ tịch Ban LĐLTQG. T́nh h́nh chính trị vẫn không ngừng xáo trộn, cao điểm là binh biến ngày 13-9-1964 do trung tướng Dương Văn Đức và thiếu tướng Lâm Văn Phát lănh đạo. Cuộc binh biến không được HĐQĐCM ủng hộ. Ngày 15-9-1964, trung tướng Dương Văn Đức rút quân và tuyên bố không phải là đảo chánh, mà chỉ có cuộc biểu dương lực lượng để cứu văn uy tín chính phủ và quân đội.

 

T́nh h́nh tạm thời lắng dịu. Ngày 26-9-1964, Thượng Hội đồng Quốc gia (THĐQG) làm lễ tŕnh diện tại Hội trường Diên Hồng (đường Công Lư, Bến Chương Dương). Hôm sau, THĐQG bầu ông Phan Khắc Sửu làm chủ tịch THĐ. Do áp lực từ nhiều phía, ngày 19-10-1964, ban LĐLTQG đưa ra tuyên bố rằng THĐQG có quyền và có bổn phận thực hiện các cơ cấu quốc gia, chọn quốc trưởng và lập chính phủ trước ngày 27-10-1964.

 

Thượng HĐQG công bố Hiến chương Lâm thời ngày 20-10-1964, gồm 10 thiên, 49 điều, theo đó Việt Nam là một nước Cộng ḥa, lănh thổ bất khả phân, chủ quyền thuộc về toàn dân. Quyền lập pháp thuộc về Quốc dân Đại hội (QDĐH), do dân bầu. Quốc dân đại hội có quyền tuyển chọn quốc trưởng. Quốc trưởng đứng đầu ngành hành pháp, chỉ định thủ tướng với sự chấp thuận của QDĐH. Quyền tư pháp thuộc về Hội đồng thẩm phán tối cao. Thượng Hội đồng sử dụng quyền của QDĐH cho đến khi QDĐH được thành lập. Lúc đó, THĐ sẽ là thượng viện.

 

Thượng HĐQG bầu chủ tịch THĐQG là Phan Khắc Sửu làm quốc trưởng VNCH ngày 24-10-1964 và hôm sau 25-10, bầu Nguyễn Xuân Chữ làm quyền chủ tịch THĐQG, thay Phan Khắc Sửu. Ban LĐLTQG liền chính thức chuyển giao quyền hành cho tân quốc trưởng Phan Khắc Sửu ngày 26-10-1964, đồng thời thủ tướng Nguyễn Khánh đệ đơn từ chức.

 

Ngày 31-10-1964, quốc trưởng Phan Khắc Sửu ban hành sắc lệnh SL.005/QT/SL, bổ nhiệm ông Trần Văn Hương lập nội các. Trần Văn Hương thành lập chính phủ hoàn toàn dân sự ngày 4-11-1964. Tuy đă có Hiến chương Lâm thời (20-10-1964) và chính phủ dân sự, Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng được xem như chấm dứt hoạt động, nhưng quyền lực thật sự ngấm ngầm vẫn nằm trong tay các tướng lănh.

 

Ngày 24-11-1964, trung tướng Dương Văn Minh được thăng đại tướng. Một ngày sau, trung tướng Nguyễn Khánh cũng vinh thăng đại tướng. Lúc đó, các tướng mới lên chức khác liên kết thành một thế lực quan trọng thường được gọi là các tướng trẻ (báo chí Mỹ gọi là Young Turks). Ngày 18-12-1964, các tướng trẻ áp lực đại tướng Nguyễn Khánh lập Hội đồng Quân lực (HĐQL) để biểu quyết các vấn đề quan trọng, kể cả việc thăng thưởng trong quân đội. Tổng tư lệnh quân đội không c̣n được toàn quyền. Trong khi đó, đại tướng Nguyễn Khánh cũng muốn lập HĐQL để làm hậu thuẫn cho ḿnh.

 

Ngày 20-12-1964, HĐQL tuyên bố giải tán THĐQG v́ đă gây chia rẽ, lưu nhiệm quốc trưởng Phan Khắc Sửu, tín nhiệm thủ tướng Trần Văn Hương. Tuy nhiên, chính phủ Trần Văn Hương lại bị phản đối, phải cải tổ ngày 18-1-1965, trong đó có 4 tướng lănh tham gia. Dầu vậy, t́nh h́nh vẫn bất ổn. Ngày 27-1-1965, HĐQL quyết định giải tán luôn chính phủ Trần Văn Hương, ủy nhiệm đại tướng Nguyễn Khánh giải quyết cuộc khủng hoảng chính trị, triệu tập ngay Hội đồng Quân dân, lưu nhiệm quốc trưởng Phan Khắc Sửu.

 

Sau một thời gian thăm ḍ, ngày 16-2-1965, đại tướng Nguyễn Khánh, thừa ủy nhiệm HĐQL, bổ nhiệm Phan Khắc Sửu làm quốc trưởng và Phan Huy Quát làm thủ tướng. Ba ngày sau khi chính phủ Phan Huy Quát được thành lập, đại tá Phạm Ngọc Thảo và thiếu tướng Lâm Văn Phát cầm đầu cuộc đảo chánh ngày 19-2-1965. Binh biến bị thất bại chẳng những v́ không được các tướng trẻ ủng hộ, mà c̣n bị phía Phật giáo và sinh viên học sinh phản đối. Phạm Ngọc Thảo bỏ trốn.

 

Sau khi tạm ổn định t́nh h́nh, ngày 20-2-1965, HĐQL quyết định thay thế đại tướng Nguyễn Khánh, và cử trung tướng Trần Văn Minh, tham mưu trưởng Liên quân, lên làm tổng tư lệnh quân lực VNCH. Trong khi đại tướng Dương Văn Minh được đưa đi làm đại sứ Thái Lan từ tháng 12-1964, th́ nay đại tướng Nguyễn Khánh được bổ nhiệm đại sứ lưu động và rời Việt Nam ngày 25-2-1965.

 

Những bất ổn chính trị từ khi chính phủ Ngô Đ́nh Diệm bị sụp đổ cho đến nay đưa đến những hậu quả rất bất lợi cho VNCH. Tuy quân đội Hoa Kỳ gia tăng oanh tạc Bắc Việt, Bắc Việt vẫn tiếp tục xua quân xâm nhập miền Nam, đe dọa VNCH.

 

2.- NGÀY QUÂN LỰC (19-6)

 

Ngày 25-5-1965, thủ tướng Phan Huy Quát cải tổ chính phủ, bổ nhiệm một số tổng trưởng mới. Quốc trưởng Phan Khắc Sửu không đồng ư. V́ sự bất đồng giữa thủ tướng và quốc trưởng, xảy ra khủng hoảng nội các. Cuộc khủng hoảng trầm trọng thêm khi tổng hội sinh viên, một số đoàn thể chính trị và các đoàn thể giáo dân Ky-Tô giáo lần lượt yết kiến quốc trưởng Phan Khắc Sửu, phản đối chính phủ Phan Huy Quát. (Nguyễn Trân, Công và tội, những sự thật lịch sử, California: Nxb. Xuân Thu, 1992, tt. 542-544. Nguyễn Trân là hội viên HĐQGLP, có mặt trong cuộc họp nầy.)

 

Ngày 9-6-1965, thủ tướng Phan Huy Quát họp báo, tường tŕnh về cuộc khủng hoảng chính trị và đề nghị các tướng lănh đứng ra làm trung gian để giữ thế quân b́nh cho đến khi có một chính phủ dân cử. Trong cuộc họp tối 11-6-1965, các tướng lănh áp lực quốc trưởng Phan Khắc Sửu, thủ tướng Phan Huy Quát cùng HĐQGLP giao trả lại quân đội trách nhiệm và quyền lănh đạo quốc gia mà HĐQL đă ủy thác cho chính phủ dân sự.

 

Vừa v́ bất đồng, vừa v́ áp lực của các tướng lănh, quốc trưởng Phan Khắc Sửu, thủ tướng Phan Huy Quát và chủ tịch Hội đồng Quốc gia Lập pháp Phạm Xuân Chiểu đồng kư bản tuyên cáo ngày 11-6-1965, nguyên văn như sau:

 

“Sau khi duyệt lại t́nh trạng ngày càng một khẩn trương của đất nước, sau khi đă xét lại và xác nhận rằng: những cơ cấu và thể chế Quốc Gia hiện tại không c̣n phù hợp với t́nh thế, sau khi đă hội ư cùng toàn thể tướng lănh Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa tại Phủ Thủ Tướng ngày 11/6/1965, chúng tôi, Quốc Trưởng Việt Nam Cộng Ḥa, Hội Đồng Quốc Gia Lập Pháp, Chánh Phủ Việt Nam Cộng Ḥa đồng thanh quyết định long trọng trao trả lại cho Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa trách nhiệm và quyền hành lănh đạo quốc gia đă được Hội Đồng Quân Lực ủy thác cho chúng tôi chiếu theo Quyết Định số 8 ngày 5/5/1965, Tuyên Cáo số 7 ngày 5/5/1965, Quyết Định số 5 ngày 16/2/1965, Quyết Định số 6 ngày 17/2/1965 và Quyết Định số 4 ngày 16/2/1965.

 

Yêu cầu toàn thể đồng bào các giới không phân biệt giai tầng địa phương, đảng phái và tôn giáo, ủng hộ Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa trong việc lănh đạo toàn Quân và toàn Dân đúng theo tinh thần của Cách Mạng 1/11/1963.” (Trích từ Phạm Phong Dinh, “Ư nghĩa Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa”, tạp chí Thế Giới Mới, Houston, 7-6-2009.)

 

Ngày 14-6-1965, HĐQL họp tại Sài G̣n, đồng thanh chấp nhận đứng ra lănh trọng trách điều khiển quốc gia một lần nữa, thành lập một ủy ban lănh đạo của quân lực mệnh danh là Ủy ban Lănh đạo Quốc gia (UBLĐQG). Ủy ban LĐQG thay mặt toàn thể quân lực VNCH điều khiển quốc gia, có nhiệm vụ thiết lập thể chế và các cơ cấu quốc gia cùng thành lập một nội các chiến tranh. Sau đây là nguyên văn bản quyết định ngày 14-6-1965 của Hội đồng tướng lănh:

 

“- Sau khi nghiên cứu Bản Tuyên Cáo Chung của Quốc Trưởng, Hội Đồng Quốc Gia Lập Pháp và Chánh Phủ Việt Nam Cộng Ḥa ngày 11/6/1965 trao trả trách nhiệm và quyền hành lănh đạo Quốc Gia cho Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.

 

– Chiếu biên bản Đại Hội Đồng các Tướng Lănh Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa ngày 12/6/1965. Các Tướng Lănh Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, Tư Lệnh các vùng chiến thuật và quân binh chủng đă quyết định:

 

Quyết Định:

 

Điều 1. Thành lập một ủy ban lănh đạo của Quân Lực mệnh danh là Ủy Ban Lănh Đạo Quốc Gia.

 

Điều 2. Thành phần của Ủy Ban nói trên gồm có: một Chủ Tịch, một Tổng Thơ Kư, một Ủy Viên phụ trách điều khiển Hành Pháp, Tổng Trưởng Quốc Pḥng, Tổng Tham Mưu Trưởng, các Tư Lệnh Vùng Chiến Thuật, Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô.

 

Điều 3. Ủy Ban Lănh Đạo Quốc Gia thay mặt toàn thể Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa điều khiển Quốc Gia.

 

Điều 4. Hoàn toàn tín nhiệm và chỉ định:

 

A. Chủ Tịch Ủy Ban Lănh Đạo Quốc Gia: Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu.

B. Tổng Thư Kư: Trung Tướng Phạm Xuân Chiểu.

C. Ủy Viên phụ trách điều khiển Hành Pháp: Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ.

 

Điều 5. Ủy Ban Lănh Đạo Quốc Gia có nhiệm vụ thiết lập thể chế và các cơ cấu Quốc Gia cùng thành lập một Nội Các Chiến Tranh.” (Trích từ Phạm Phong Dinh, “Ư nghĩa Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa”, tạp chí Thế Giới Mới, Houston, 7-6-2009.)

 

Sau khi tuyên bố nhận lănh trách nhiệm đứng ra điều khiển đất nước, các tướng lănh đề cử: trung tướng Nguyễn Văn Thiệu giữ chức chủ tịch Ủy ban Lănh đạo Quốc gia (UBLĐQG), nhiệm vụ và quyền hành quốc trưởng; trung tướng Phạm Xuân Chiểu làm tổng thư kư UBLĐQG; thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ là ủy viên phụ trách điều khiển hành pháp, nhiệm vụ và quyền hành thủ tướng.

 

Ngày 19-6-1965, HĐQL quyết định giải tán Hội đồng Quốc gia Lập pháp (quyết định số 4/ QLVNCH), ban hành Ước pháp Tạm thời gồm 7 thiên, 25 điều,và thiết lập các tổ chức: Đại hội đồng Quân lực, UBLĐQG, UBHPTƯ, Hội đồng An ninh Quốc gia, Hội đồng Kinh tế và Xă hội, Thượng Hội đồng thẩm phán (quyết định số 5/QLVNCH). Chủ tịch UBLĐQG Nguyễn Văn Thiệu liền kư sắc lệnh 001/a/CT/LĐQG thành lập nội các chiến tranh, gọi là Ủy ban Hành pháp Trung ương (UBHPTƯ).

 

Đại hội đồng Quân lực gồm tất cả các tướng lănh trong quân đội VNCH. Ủy ban Lănh đạo Quốc gia gồm trung tướng Nguyễn Văn Thiệu (chủ tịch), trung tướng Phạm Xuân Chiểu (tổng thư kư), thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ (ủy viên hành pháp), tổng trưởng Quốc pḥng, tổng tham mưu trưởng, bốn tư lịnh bốn Vùng chiến thuật và tư lịnh Biệt khu thủ đô. Uỷ ban hành pháp Trung ương do trung tướng Nguyễn Văn Thiệu bổ nhiệm bằng sắc lệnh số 001/a/CT/LĐQG ngày 19-6, ngoài chủ tịch là thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ c̣n có 5 tổng uỷ viên, 10 uỷ viên và 2 thứ uỷ.

 

Khác với những lần đảo chánh hay chỉnh lư trước đây, lần nầy do tranh chấp giữa các chính khách dân sự và với sự thỏa thuận của phía chính phủ dân sự, các tướng lănh ra nắm chính quyền. Từ đây, ngày 19-6 được xem là ngày kỷ niệm Quân lực VNCH nắm chính quyền, và thường được gọi là NGÀY QUÂN LỰC. (Trích Việt sử đại cương tập 6.)

 

 

TRẦN GIA PHỤNG

(phungtrangia@yahoo.com)

 

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính