V́ sao Việt cộng xóa nḥa môn học Sử dân tộc?

 

Nguyễn Nhơn

 

 

Đó là v́ lẽ nầy đây:

"… V́ vậy mà thấy xuất hiện tài liệu mệnh danh”Tài liệu huấn luyện cán bộ kiều vận”trong đó trùm an ninh t́nh báo Nguyễn Tâm Bảo chỉ đạo mạnh mẻ bọn t́nh báo hải ngoại thi hành nghị quyết 36 như vầy:

“Thế hệ trẻ hôm nay, ngoài cái đức tính thực dụng và tinh thần chụp giật, cũng như niềm khao khát tiền bạc, công danh, ám ảnh bởi chủ nghĩa hưởng thụ, th́ chỉ c̣n le lói ‘tinh thần dân tộc’ vẫn c̣n sót lại trong máu huyết của mỗi người Việt.

 

Đây là con dao hai lưỡi, là con giao long đang nằm yên, mà chúng ta cần phải biết lèo lái một cách khôn ngoan để không xảy ra một tiểu Thiên An Môn ở Ba Đ́nh.”

 

Chỉ c̣n le lói chút tinh thần Dân tộc trong huyết quản mà bọn trùm việt gian cọng sản c̣n lo sợ như vậy nên chúng phải t́m mọi cách bịt kín để không cho ḍng máu dân tộc trổi dậy sẽ như cuồng phong, vũ bảo cuốn trôi mọi thứ rác rưới việt cọng bán nước buôn dân. Để bịt kín, bọn phản quốc vc cần phải xóa nḥa việc học lịch sử Dân tộc.

 

Thiên An môn Bắc Kinh – Tiểu Thiên An môn Ba Đ́nh

 

Trích: “Sự kiện Thiên An Môn không chỉ là biến cố lịch sử năm 1989, nó c̣n tiếp diễn cho đến tận hôm nay, khi bộ máy cai trị Trung Quốc bất chấp mọi nỗ lực kêu gọi tự do và ḥa b́nh của những người dân hiền ḥa để tiếp tục đàn áp họ bằng nhiều chiêu thức đẫm máu và tinh vi hơn.

 

Chúng ta nghĩ ǵ về sự kiện Thiên An Môn (1989) và h́nh ảnh những thanh niên Tây Tạng xả thân làm những bó đuốc sáng ngời?

 

Mọi sự so sánh đều là khập khiễng, bởi khát vọng tự do dân chủ th́ thời nào cũng giống nhau.

 

Từ Thiên An Môn năm xưa, có ai nghĩ về hiện tại Việt Nam hôm nay không?

(Mẹ Nấm (Danlambao) - Máu đă đổ trên quảng trường & Lịch sử bị xóa bỏ)

Đừng sợ những ǵ cộng sản làm
Hăy làm những ǵ cộng sản sợ

 

“Từ Thiên An Môn năm xưa, có ai nghĩ về hiện tại Việt Nam hôm nay không?”

 

Ngày 5 tháng 6 năm 2011, ngày lịch sử thời hiện đại, lần đầu tiên, sau 36 năm dài tăm tối, người dân Bến Nghé – Đồng Nai, từ Vũng Tàu - Bà Rịa, Xuân Lộc Miền Đông qua Long An – Mỹ Tho miền Tây, kéo nhau từ 5 – 7 ngàn tụ hội về Sài G̣n, biểu dương ḷng yêu nước chống tàu xâm lăng Hoàng Sa – Trường Sa. Bàng bạc đàng sau khẩu hiệu yêu nước ấy là ư đồ chống nội gian việt cộng.

 

V́ vậy mà thấy xuất hiện tài liệu mệnh danh ”Tài liệu huấn luyện cán bộ kiều vận”trong đó trùm an ninh t́nh báo Nguyễn Tâm Bảo chỉ đạo mạnh mẻ bọn t́nh báo hải ngoại thi hành nghị quyết 36 như vầy:

“Thế hệ trẻ hôm nay, ngoài cái đức tính thực dụng và tinh thần chụp giật, cũng như niềm khao khát tiền bạc, công danh, ám ảnh bởi chủ nghĩa hưởng thụ, th́ chỉ c̣n le lói ‘tinh thần dân tộc’ vẫn c̣n sót lại trong máu huyết của mỗi người Việt.

 

Đây là con dao hai lưỡi, là con giao long đang nằm yên, mà chúng ta cần phải biết lèo lái một cách khôn ngoan để không xảy ra một tiểu Thiên An Môn ở Ba Đ́nh.”

 

Vậy đó, đâu phải bọn việt cộng chỉ nghĩ tới biến cố Thiên An Môn mà chúng thật sự lo sợ về “Một Tiểu Thiên An Môn ở Ba Đ́nh”.

 

Chúng sợ v́ chúng biết rằng, mặc dầu bằng chế độ giáo dục ngu dân, tuổi trẻ chỉ biết làm theo “Đội”, theo “Đoàn”. Ra đời làm theo lịnh “Đảng”, sống đời nô lệ, giá áo, túi cơm!

 

Nhưng tuổi trẻ việt Nam với “truyền thống Lạc Long - Bốn ngàn năm văn hiến”, mặc dù đọa lạc lẽ nào, ḍng máu bất khuất dân tộc vẫn tiềm tàng trong huyết quản. Chỉ cần một biến động gây thức tỉnh th́ con giao long liền vùng dậy chiến đấu chống lại bọn sói lang việt cọng phản nước, hại dân.

 

Cần thiết “Một Đại Tấn công Ba Đ́nh”

 

Tàu đă có một Thiên An Môn bi tráng. Ta cần thiết một đại tấn công Ba Đ́nh xóa bỏ một lần cho tất cả hoạn hoạ cọng sản gây tai ương cho Đất nước và Dân tộc từ 70 năm nay.

 

Trong bài viết “Tại sao Trung cộng Dại dột?”, tác giả Ngô Nhân dụng kết luận:

“Nhưng Trung Cộng có lo ngại chính Việt Cộng sẽ thay đổi hay không? Điều này khó xẩy ra. Đạo quân t́nh báo Trung Cộng vẫn nắm chắc đảng Cộng sản Việt Nam trong tay. Giới lănh đạo Việt Cộng vẫn tiếp tục để cho Trung Cộng thao túng về kinh tế, chính trị, ngoại giao, không một cá nhân nào trong hàng ngũ lănh đạo Việt Cộng đủ sức thay đổi.

 

Cho nên, mối lo thực của Trung Cộng là cả chế độ cộng sản Việt Nam sẽ tan ră và sụp đổ trước khi Trung Cộng củng cố vững chắc việc mua đứt các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. T́nh báo của Bắc Kinh cũng biết chế độ cộng sản Việt Nam đang mong manh. Bất cứ một chính quyền mới nào ở Việt Nam mà không thuộc đảng cộng sản cũng có thể thay đổi quan điểm đối ngoại. Đặc biệt là trong mối bang giao giữa Việt Nam và Trung Quốc, một chính quyền không cộng sản có thể xóa bỏ trên danh nghĩa tất cả các cam kết đối với Trung Cộng, trong đó có lá thư của Phạm Văn Đồng. Khi đó, tất cả công tŕnh của đảng Cộng sản Trung Hoa thực hiện ở Biển Đông sẽ bị thế giới nh́n bằng con mắt khác.

 

Tóm lại, Trung Cộng không dại dột. Họ chỉ lo xa, tính kỹ, “tiên hạ thủ vi cường” khi lo “dân Việt Nam có thể thay đổi cuộc cờ, không biết lúc nào!”

 

“Để cho dân Việt Nam có thể thay đổi cuộc cờ”, tuổi trẻ Việt Nam cần biết rằng, vận mệnh Đất nước không thể quyết định bằng cách “vận động Quốc tế” suông hoặc chỉ “phản biện trong phạm vi cơ chế” mà được.

 

Vận mệnh của Đất nước và Dân tộc phải do người dân Việt hy sinh chiến đấu để giành lại chủ quyền Quốc gia từ tay ngụy quyền toàn trị việt cộng.

 

V́ vậy mà tuổi trẻ Việt Nam, để xứng danh là người chủ tương lai của Đất nước phải tự ḿnh thức tỉnh, tự ḿnh đứng dậy, tự ḿnh đi như những Đinh Bộ Lĩnh, Trần Quốc Toản, Nguyễn Huệ tổ tiên ngày trước.

 

Thời đại truyền thông điện tử, thời thế xoay chuyển nhanh như chớp, chúng ta không c̣n nhiều thời gian để quyết định mà phải nhanh chóng nhận định t́nh h́nh và cương quyết quả cảm hành động.

 

Việt cọng vẫn lo sợ một “Tiểu Thiên An Môn Ba Đ́nh”, ta đánh thẳng vào tử huyệt Ba Đ́nh của chúng.

 

 

Nguyễn Nhơn

 

 

http://nghiencuuquocte.org/2017/08/16/ve-nan-say-dam-chu-tau/

 

Về nạn ‘say đắm chữ Tàu’

 

Nguyễn Hải Hoành

 

 

Tâm lư sùng bái chữ viết tồn tại mấy ngh́n năm nay là một loại tín ngưỡng chỉ có ở người Hoa. Chữ Hán do họ phát minh chủ yếu ghi ư, không ghi âm, v́ thế các cộng đồng nói tiếng địa phương khác nhau có thể dùng chung thứ chữ này, qua đó hiểu nhau, nhờ vậy thực hiện được việc thống nhất đất nước – sự nghiệp gian khó nhất trong lịch sử Trung Hoa. Tính siêu việt ngôn ngữ và công lao thần kỳ ấy của chữ Hán khiến nó được quư trọng tới mức thần thánh hóa. Người Hoa tin vào truyền thuyết thánh nhân bốn mắt Thương Hiệt làm chữ: mỗi lần tạo một chữ th́ quỷ thần lại kinh hăi khóc rống lên v́ thiên cơ bị lộ. Ngoài ra, tính chất ghi ư làm cho chữ Hán ẩn chứa những triết lư cao siêu, chỉ người tài giỏi mới hiểu, v́ thế gọi là chữ thánh hiền. Đặc trưng h́nh vẽ mang lại cho chữ Hán vẻ đẹp độc đáo, viết chữ trở thành nghệ thuật hội họa thư pháp. Do được sùng bái, chữ Hán không chỉ là hệ thống kư hiệu ghi Hán ngữ mà c̣n là vật mang, là biểu trưng của văn hóa Trung Hoa, thậm chí người Hoa cho rằng mọi thứ tốt, xấu của nền văn hóa ấy đều liên quan tới chữ Hán.  

 

Chữ Hán vốn rất khó học lại bị thần bí hóa đă trở thành thứ tri thức cao siêu khiến dân chúng kính sợ, v́ thế chữ ra đời hơn 3.000 năm mà năm 1949 chỉ có chừng 10% người Trung Quốc (TQ) biết. Nạn sùng bái chữ sinh ra quan niệm lệch lạc người biết nhiều chữ là người tài giỏi, từ đó h́nh thành một tầng lớp trí thức giỏi thuộc ḷng, không giỏi sáng tạo, xa rời thực tế, chỉ biết chữ suông mà chẳng biết ǵ về kỹ năng sinh tồn, khoa học công nghệ. Luận Ngữ viết Học nhi ưu tắc sĩ – ai học giỏi, tức biết nhiều chữ, ắt được làm quan cai trị. V́ thế xă hội bị ḱm hăm, dăm ngh́n năm lịch sử, mấy trăm triệu dân không có lấy một trí tuệ tầm cỡ thế giới như Aristotle, Platon,… của một Hy Lạp nhỏ bé, cội nguồn của chữ abc.

 

Khi TQ ḍm ngó ngôi vương siêu cường quốc lại xuất hiện thuyết chữ Hán ưu việt, cho rằng chữ Hán tiên tiến nhất thế giới. Từ năm 1989 thuyết này tràn ngập TQ; không ít quan chức, trí thức kể cả viện sĩ cũng tin theo, dân thường lại càng tin sái cổ.

 

Hai ngh́n năm trước, tâm lư sùng bái chữ Hán theo chữ này vào Việt Nam và để lại hậu quả tai hại. Trong bài Văn Quốc ngữ trên tạp chí Nam Phong số 2 năm 1917, học giả Phạm Quỳnh viết về tâm lư mà ông gọi là say đắm chữ Tàu ấy như sau:

… Ta chẳng nên oán ǵ các cụ ta ngày xưa v́ say đắm chữ Tàu nên lăng bỏ tiếng Nôm, để cho con cháu ngày nay khổ v́ có nước mà không có văn, có người mà không có cách nói cho nhau nghe ngoài những câu nhật dụng thường đàm…

 

Và ông chỉ ra lối thoát khỏi tai họa ấy: Chữ Quốc ngữ chính là cái bè để cứu vớt bọn ta trong bể trầm luân vậy… Trước ta không có ai làm văn bằng Nôm… Xin đồng bào ta chớ lăng bỏ văn quốc ngữ. Tương lai nước nhà chính ở đó.

 

Ông kêu gọi mọi người chỉ viết văn bằng chữ Quốc ngữ mà ông coi là công cụ kỳ diệu để giải phóng trí tuệ. Đúng thế, nhờ dùng thứ chữ nghĩ và nói thế nào th́ viết thế ấy, tư duy người ḿnh được cởi trói, nền văn minh Việt đạt được những thành tựu hơn hẳn mấy ngh́n năm trước.

 

Tiếng Việt sau khi dùng chữ Quốc ngữ đă phát triển vượt bậc, dân tộc ta hiện sở hữu một ngôn ngữ nói và viết hoàn hảo (không như chữ Hán bị chê bai và cải cách hơn trăm năm nay chưa xong), hoàn toàn thích hợp với tư duy người Việt, diễn đạt được mọi khái niệm khoa học xă hội-nhân văn, khoa học công nghệ tiên tiến nhất của nhân loại, đáp ứng yêu cầu tin học hóa, ḥa nhập quốc tế… Vốn từ ngữ tiếng ta cực giàu và giàu thêm măi, chuyển ngữ được mọi ngoại ngữ. Chữ Việt có khả năng hiếm thấy ghi âm được hầu hết ngữ âm tiếng Anh, tiếng TQ… trong khi chữ của các thứ tiếng ấy không ghi âm được nhiều ngữ âm tiếng Việt…

 

Nhưng lạ thay, nước ta ngày nay vẫn có người say đắm chữ Tàu. Năm 1994, một nhà ngôn ngữ học nổi tiếng nói chữ Hán ưu việt hơn chữ abc; ông tỏ ư tiếc là nước ta bỏ chữ Hán dùng chữ Quốc ngữ; ông tin vào dự đoán ba chục năm nữa cả thế giới sẽ dùng chữ Hán. Thực tế cho tới nay chưa thấy nước nào dùng chữ Hán, ngược lại người TQ đua nhau học tiếng Anh. V́ người Hoa đông nhất nên chữ Hán được nhiều người dùng nhất, nhưng trong việc biên soạn các văn bản ban đầu ở Liên Hợp Quốc, chữ Hán lại rất ít được dùng, chứng tỏ nó chẳng hề ưu việt.[1]

 

Mới đây một tiến sĩ Hán Nôm kiến nghị :

 

§  Chính phủ ta công nhận tiếng TQ hiện đại và tiếng Anh là hai ngôn ngữ chính thức(NNCT) của Nhà nước Việt Nam, như vậy nước ta sẽ có một NNCT thứ nhất (tiếng Việt) và hai NNCT thứ hai;

§  Mọi văn bản hành chính giấy tờ từ cấp thấp nhất đến cao nhất, mọi giao dịch, buôn bán, chứng chỉ… đều phải dùng 3 NNCT;

§  Phải dần dần coi một ngoại ngữ là ngôn ngữ giảng dạy chính thức ở các trường, bậc đại học sẽ giảng dạy bằng ngoại ngữ;

§  Người Việt phải biết ít nhất một ngoại ngữ là tiếng Anh hoặc tiếng TQ.[2]

 

NNCT là ngôn ngữ dùng để viết Hiến pháp và mọi văn bản pháp lư của nhà nước. Xưa nay các quốc gia độc lập bao giờ cũng chỉ chọn tiếng mẹ đẻ làm NNCT; không chọn ngoại ngữ. Tiếng TQ và tiếng Anh không phải là tiếng mẹ đẻ của người Việt nên dĩ nhiên không thể được coi là NNCT. Việc dùng 3 NNCT để soạn và in mọi văn bản hành chính trong cả nước là việc làm phản tác dụng, vô ích, gây tốn kém lăng phí cực lớn về dịch thuật và in ấn, trên thực tế không thể nào làm được. Hiến pháp CHXHCN Việt Nam đă quy định tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia, tức NNCT của nhà nước.

 

Chỉ những nước có nhiều sắc tộc lớn, nhiều ngôn ngữ lớn mới có hơn một NNCT. Như Singapore có 4 sắc tộc chủ yếu là các cộng đồng người Hoa, Malay, Tamil, và người Âu-Á (Eurasian, nói tiếng Anh). Nước này chọn Anh ngữ là NNCT thứ nhất; các cộng đồng dùng tiếng Anh để giao tiếp với nhau và đối ngoại; tiếng Hoa, Malay, Tamil là các NNCT thứ hai.

 

Việt Nam có 53 dân tộc thiểu số, từ ngàn xưa toàn dân nước ta đồng ḷng chỉ dùng tiếng của người Kinh làm ngôn ngữ chung. Sau ngày Việt Nam giành độc lập, tiếng Việt vững chắc chiếm địa vị NNCT duy nhất của nước ta. Việc công nhận bất cứ NNCT nào khác sẽ có thể làm suy yếu địa vị độc tôn của tiếng Việt, gây mất ổn định ngôn ngữ, tạo nguy cơ bất ổn chính trị.

 

Cần thấy rằng, khi quy định 3 NNCT th́ ai cũng có quyền dùng một trong 3 ngôn ngữ đó để nói và viết ở mọi trường hợp (tại ṭa án, các diễn đàn…), có quyền yêu cầu Nhà nước phải tổ chức giảng dạy 3 ngôn ngữ này và phải dùng chúng trên tất cả mọi đài, báo, xuất bản phẩm các loại… Nước ta không thể có đủ kinh phí để làm như vậy. Khi toàn dân nói và viết bằng 3 thứ tiếng th́ xă hội sẽ rất rối ren, dễ kéo theo các bất ổn khác, nhất là khi có sự tiếp tay từ bên ngoài.

 

Ngoài ra, chừng nào TQ chưa từ bỏ ư đồ bành trướng th́ chúng ta vẫn cần cảnh giác với việc phổ cập tiếng Hán ở ta, thứ vũ khí thời Bắc thuộc họ đă dùng để đồng hóa, tiến tới xóa bỏ quốc gia Việt Nam. May sao tổ tiên ta đă làm thất bại âm mưu đó. Hiện nay với mong muốn trở thành siêu cường, TQ đang mở cả ngh́n Học viện Khổng Tử miễn phí dạy tiếng Hán khắp toàn cầu. Ư đồ coi Hán ngữ là NNCT của Nhà nước Việt Nam và tổ chức học, dùng thứ tiếng đó trong toàn dân là đi ngược lại ư chí của tổ tiên ta và đáp ứng tốt nhất chính sách bành trướng văn hóa của TQ.

 

Tóm lại, người Việt Nam nếu có nhu cầu và điều kiện đều nên học ngoại ngữ, như tiếng Anh, tiếng TQ. Nhưng việc lấy bất cứ ngoại ngữ nào làm NNCT của Nhà nước ta đều sẽ ảnh hưởng xấu tới chủ quyền quốc gia, v́ thế dứt khoát không thể chấp nhận!

 

Nguyễn Hải Hoành là dịch giả và nhà nghiên cứu tự do hiện sống tại Hà Nội.

——————

[1] Tỷ lệ dùng 6 ngôn ngữ làm việc trong soạn thảo văn bản gốc tại cơ quan LHQ: tiếng Anh 80%, Pháp 15%, Tây Ban Nha 4%, c̣n lại 1% : tiếng Nga, A Rập, TQ. (theo Châu Hữu Quang, nhà ngôn ngữ số một TQ).

 

[2] http://tiasang.com.vn/-giao-duc/Can-som-cham-dut-tinh-trang-don-ngu-o-Viet-Nam-9999.

 

 

Bài diễn thuyết bằng quốc văn của ông Phạm Quỳnh

 

04:12' CH - Thứ tư, 07/12/2016

 

Truyện Kiều c̣n, tiếng ta c̣n. Tiếng ta c̣n, nước ta c̣n"

(Phạm Quỳnh)

 

Bài diễn thuyết về Truyện Kiều này được Phạm Quỳnh đọc nhân lễ kỷ niệm ngày giỗ Nguyễn Du vào ngày 8 tháng 12 năm 1924, tức ngày mồng 10 tháng 8 năm Giáp Tư do Hội Khai trí tiến đức của ông tổ chức. Bài được đăng lại tại Tạp chí Nam Phong số 86. Bài diễn thuyết này mở đầu cho một cuộc tranh căi nổi tiếng vào đầu thế kỷ XX, được người sau mệnh danh là Vụ án truyện Kiều...



Phạm Quỳnh (17 tháng 12 năm 1892 - 6 tháng 9 năm 1945) là một nhà văn hóa, nhà báo, nhà văn và quan đại thần triều Nguyễn (Việt Nam). Ông là người đi tiên phong trong việc quảng bá chữ Quốc ngữ và dùng tiếng Việt - thay v́ chữ Nho hay tiếng Pháp - để viết lư luận, nghiên cứu. Ông có tên hiệu là Thượng Chi, bút danh: Hoa Đường, Hồng Nhân.


Ông được xem là người chiến đấu bất bạo động nhưng không khoan nhượng cho chủ quyền độc lập, tự trị của Việt Nam, cho việc khôi phục quyền hành của Triều đ́nh Huế trên cả ba kỳ (Bắc, Trung, Nam), chống lại sự bảo hộ của Pháp và kiên tŕ chủ trương chủ nghĩa quốc gia với thuyết Quân chủ lập hiến 

 

Thưa các Ngài,

 

Hôm nay là ngày giỗ cụ Tiên-điền Nguyễn Tiên-sinh, là bậc đại-thi-nhân của nước Nam ta, đă làm ra bộ văn-chương tuyệt-tác là truyện Kim-Vân-Kiều.


Ban Văn-học Hội Khai-trí chúng tôi muốn nhân ngày giỗ này đặt một cuộc kỷ-niệm để nhắc lại cho quốc-dân nhớ đến công-nghiệp[1] một người đă gây-dựng cho quốc-âm ta thành văn-chương, để lại cho chúng ta một cái « hương hỏa » rất quí-báu, đời đời làm vẻ-vang cho cả giống-ṇi.

Chúng tôi thiết-nghĩ một bậc có công với văn-hóa nước nhà như thế, không phải là ông tổ riêng của một nhà một họ nữa, mà là ông tổ chung của cả nước; ngày giỗ ngài không phải là ngày kỷ-niệm riêng của một nhà một họ nữa, chính là ngày kỷ-niệm chung của cả nước.

Hiện nay suốt quốc-dân ta, trên từ hàng thượng-lưu học-thức, dưới đến kẻ lam-lũ làm ăn, bất-cứ già trẻ, lớn bé, đàn ông, đàn bà, ai ai cũng biết truyện Kiều, ai ai cũng thuộc truyện Kiều, ai ai cũng kể truyện Kiều, ai ai cũng ngâm truyện Kiều, như vậy thời ai ai cũng đều hưởng cái công-nghiệp của Cụ Tiên-điền ta, ai ai cũng phải nhớ ngày giỗ Cụ và nghĩ đến cái ơn của Cụ tác-thành cho tiếng nước nhà.


Muốn cảm cái ơn ấy cho đích-đáng, hẵng thử giả-thiết Cụ Tiên-điền không xuất-thế[2], Cụ Tiên-điền có xuất-thế mà quyển truyện Kiều không xuất-thế, quyển truyện Kiều có xuất-thế mà v́ cớ ǵ không lưu-truyền, thời t́nh-cảnh tiếng An-Nam đến thế nào, t́nh-cảnh dân-tộc ta đến thế nào?


Văn-chương người ta thiên kinh vạn quyển, dẫu có thiếu mất một quyển cũng chẳng hại ǵ. Văn-chương ḿnh chỉ độc có một quyển, vừa là kinh, vừa là truyện, vừa là Thánh-thư[3] Phúc-âm[4] của cả một dân-tộc, ví lại khuyết nốt th́ dân-tộc ấy đến thế nào?


Than ôi! mỗi lần nghĩ tới mà không khỏi rùng ḿnh, chột dạ, sửng-sốt, rụng-rời, tưởng như ḥn ngọc ở trên tay bỗng rơi xuống vỡ tan-tành vậy. Rồi mới tỉnh ra, sực nhớ đến mấy câu Kiều, vỗ bàn đập ghế, gơ dịp[5] rung đùi, lên giọng cao-ngâm:


Lơ-thơ tơ liễu buông mành,

Con oanh học nói trên cành mỉa-mai,


hay là:


Phong-trần mài một lưỡi gươm,

Những phường giá áo túi cơm xá ǵ,


bỗng thấy trong ḷng vui-vẻ, trong dạ vững-vàng, muốn nhẩy muốn múa, muốn reo muốn ḥ, muốn ngạo-nghễ với non sông mà tự-phụ với người đời rằng: Truyện Kiều c̣n, tiếng ta c̣n, tiếng ta c̣n, nước ta c̣n, có ǵ mà lo, có ǵ mà sợ, có điều chi nữa mà ngờ!...


Có nghĩ cho xa-xôi, cho thấm-thía, mới hiểu rằng truyện Kiều đối với vận-mệnh nước ta có một cái quí-giá vô-ngần.


Một nước không thể không có quốc-hoa, truyện Kiều là quốc-hoa của ta; một nước không thể không có quốc-túy, truyện Kiều là quốc-túy của ta; một nước không thể không có quốc-hồn, truyện Kiều là quốc hồn của ta. Truyện Kiều là cái « văn-tự »[6] của giống Việt-Nam ta đă « trước-bạ »[7] với non sông đất nước này. Trong mấy ngh́n năm ta chôn rau[8] cắt rốn, gửi thịt gửi xương ở cơi đất này, mà ta vẫn h́nh như một giống ăn trọ ở nhờ, đối với đất nước non sông vẫn chưa từng có một cái văn-tự văn-khế phân-minh, chứng-nhận cho ta có cái quyền sở-hữu chính-đáng. Măi đến thế-kỷ mới rồi mới có một đấng quốc-sĩ[9], v́ ṇi-giống, v́ đồng-bào, v́ tổ tiên, v́ hậu-thế, rỏ máu làm mực, « tá-tả »[10]một thiên văn-khế tuyệt-bút, khiến cho giống An-Nam được công-nhiên[11], nghiễm-nhiên[12], rơ-ràng, đích-đáng làm chủ-nhân-ông một cơi sơn-hà gấm vóc.


Đấng quốc-sĩ ấy là ai? Là Cụ Tiên-điền ta vậy. Thiên văn-khế ấy là ǵ? Là quyển truyện Kiều ta vậy.


Gẫm trong người ấy báu này,

Chẳng duyên chưa dễ vào tay ai cầm!


Báu ấy mà lọt đến tay ta, thật cũng là một cái phúc-duyên cho ta, nhưng báu ấy ở trong tay Cụ lại chính là một cái túc duyên[13] của Cụ. Thiên văn-tự tuyệt-bút kia là gồm bao nhiêu giọt máu, bao nhiêu giọt lệ kết-tinh lại mà thành ra, những khi đêm khuya thanh-vắng vẫn thường tỉ-tê thánh-thót trong ḷng ta, như


Giọt sương gieo nặng cành xuân la-đà


vậy.

Cái áng văn-chương tuyệt-tác cho người đời đó, an-tri lại không phải là một thiên lịch-sử thống-thiết của tác-giả?


Truyện Kiều quan-hệ với thân-thế Cụ Tiên-điền thế nào, lát nữa ông Trần Trọng-Kim sẽ diễn-thuyết tường để các ngài nghe.


Nay tôi chỉ muốn biểu-dương cái giá-trị của truyện Kiều đối với văn-hóa nước ta, đối với văn-học thế-giới, để trong buổi kỷ-niệm này đồng-nhân cảm biết cái công-nghiệp của bậc thi-bá nước ta lớn-lao to-tát là dường nào.


Đối với văn-hóa nước nhà, cái địa-vị truyện Kiều đă cao-quí như thế; đối với văn-học thế-giới cái địa-vị truyện Kiều thế nào?


Không thể so-sánh với văn-chương khắp các nước, ta hẵng so-sánh với văn-chương hai nước có liền-tiếp quan-hệ với ta, là văn-chương Tàu và văn-chương Pháp. Văn-chương Tàu thật là mông-mênh bát-ngát, như bể như rừng. Nhưng trong rừng văn bể sách đó, tưởng cũng ít quyển sánh được với truyện Kiều, mà xét cho kỹ có lẽ không có sách nào giống như truyện Kiều. Gốc truyện tuy do một bộ tiểu-thuyết Tàu mà ra, nhưng vào tay Cụ Tiên-điền ta biến-hóa hẳn, siêu-việt ra ngoài cả lề-lối văn-chương Tàu, đột-ngột như một ngọn cô-phong ở giữa đám quần-sơn vạn-hác vậy. Có người sánh truyện Kiều với Li-tao, nhưng Li-tao là một bài than, từ đầu đến cuối toàn một giọng bi-đát thảm-thương, so với Cung-oán của ta có lẽ đúng hơn. Có người lại sánh với Tây-xương, nhưng Tây-xương là một bản hát, từ-điệu có véo-von, thanh-âm có réo-rắt, nhưng chẳng qua là một mớ ca-từ cho bọn con hát, không phải là một nền văn-chương chân-chính. Cứ thực th́ truyện Kiều dẫu là đầm-thấm cái tinh-thần của văn-hóa Tàu, dẫu là dung-ḥa những tài-liệu của văn-chương Tàu, mà có một cái đặc-sắc văn-chương Tàu không có. Cái đặc sắc ấy là sự « kết-cấu ». Nhà văn, nhà thơ Tàu, ngoài những bài thơ bài văn nho-nhỏ ngăn-ngắn, phàm làm sách chỉ biết cách biên-tập, không sành cách kết-cấu. Biên-tập là cóp-nhặt mà đặt liền lại; kết-cấu là thu-xếp mà gây-dựng lên, thế nào cho thành một cái toàn-bức các bộ-phận điều-ḥa thích-hợp với nhau, không thêm bớt được chút nào. Truyện Kiều là một cái toàn-bức như thế, mà là một bức tranh thế-thái nhân-t́nh vẽ sự đời như cái gương tầy liếp vậy.


Xét về cách kết-cấu th́ văn-chương nước Pháp lại là sở-trường lắm. Cho nên truyện Kiều có thể sánh với những áng thi-văn kiệt-tác của quí-quốc, như một bài bi-kịch của Racine hay một bài văn tế của Bossuet vậy. Đó là nói về cái thể-tài văn-chương. C̣n về đường tinh-thần thời trong văn-học Pháp có hai cái tinh-thần khác nhau, là tinh-thần cổ-điển và tinh-thần lăng-mạn. Tinh-thần cổ-điển là trọng sự lề-lối, sự phép-tắc; tinh-thần lăng-mạn là trong sự khoáng-đăng, sự li-kỳ. Truyện Kiều gồm được cả hai cái tinh-thần ấy, v́ vừa có cái đạo-vị thâm-trầm của Phật-học, vừa có cái nghĩa-lư sáng-sủa của Nho-học, vừa có cái phong-thú tiêu-dao của Trang Lăo, lấy lẽ phải ông Khổng mà chế lại sự thần-bí của nhà chùa, sự khoáng-dật của hai họ. Nhưng mà ngay trong văn-chương nước Pháp tưởng cũng không có sách nào giống hẳn như truyện Kiều, v́ truyện Kiều có một cái đặc-sắc mà những nền kiệt-tác trong văn-chương Pháp không có. Đặc-sắc ấy là sự « phổ-thông ». Phàm đại-văn-chương, không những ở nước Pháp, ở nước nào cũng vậy, chỉ có những người thượng-lưu học-thức mới thưởng-giám được, kẻ b́nh-dân không biết tới. Người Pháp không phải là ai ai cũng biết đọc kịch Racine hay là đọc văn Bossuet. Người Nam thời ai ai cũng biết ngâm Kiều, kể Kiều, « lẩy » Kiều để ứng-dụng trong sự ngôn-ngữ thường, kẻ thông-minh hiểu cách thâm-trầm, kẻ tầm-thường hiểu cách thô-thiển, nhưng ngâm-nga lên thảy đều lấy làm vui tai, sướng miệng, khoái trí, tỉnh hồn.


Thử hỏi cổ kim Đông Tây đă có một áng văn-chương nào cảm người được sâu và được rộng như thế chưa. Tưởng dễ chỉ có một truyện Kiều ta là có thể tự-cao với thế-giới là văn-chương chung của cả một dân-tộc 18,20 triệu người, già, trẻ, lớn, bé, giỏi, dốt, sang, hèn, đều thuộc ḷng và đều biết hay cả.


Như vậy th́ truyện Kiều, không những đối với văn-hóa nước nhà, mà đối với văn-học thế-giới cũng chiếm được một địa-vị cao-quí.


Văn-chương ta chỉ có một quyển sách mà sách ấy đủ làm cho ta vẻ-vang với thiên-hạ, tưởng cũng là một cái kỳ-công có một trong cơi văn thế-giới vậy.


Cái kỳ-công ấy lại dũ-kỳ nữa là ngẫu-nhiên mà dựng ra, đột-nhiên mà khởi lên, trước không có người khai đường mở lối, sau không có kẻ nối gót theo chân, đột-ngột giữa trời Nam như cái đồng-trụ để tiêu-biểu tinh-hoa của cả một dân-tộc. Phàm văn-chương các nước, cho được gây nên một nền thi-văn kiệt-tác, phải bao nhiêu nhà thơ, bao nhiêu nhà văn, trong bao nhiêu năm lao-công lục-lực, vun-trồng bón-xới mới thành được. Nay bậc thi-bá nước ta, đem cái thiên-tài ít có trong trời đất, đúc cái khí thiêng bàng-bạc trong non sông, một ḿnh làm nên cái thiên-cổ-kỳ-công đó, dẫu khách thế-giới cũng phải b́nh-t́nh mà cảm-phục, huống người nước Nam được trực-tiếp hưởng-thụ cái ơn-huệ ấy lại chẳng nên ghi-tạc trong ḷng mà thành-tâm thờ-kính hay sao?


Cuộc kỷ-niệm hôm nay là chủ-ư tỏ ḷng quốc-dân sùng-bái cảnh-mộ Cụ Tiên-điền ta; lại có các quí-hội-viên Tây và các quí-quan đến dự cuộc là để chứng-kiến cho tấm ḷng thành-thực đó. Nhưng c̣n có một cái ư-nghĩa nữa, là nhân ngày giỗ này, đốt ḷ hương, so phím đàn, chiêu hồn quốc-sĩ.


Thác là thể phách, c̣n là tinh anh,


áng tinh-trung thấp-thoáng dưới bóng đèn, chập-chừng trên ngọn khói, xin chứng-nhận cho lời thề của đồng-nhân đây. Thề rằng: « Truyện Kiều c̣n, tiếng ta c̣n, tiếng ta c̣n, nước ta c̣n, c̣n non c̣n nước c̣n dài, chúng tôi là kẻ hậu-sinh xin rầu ḷng giốc chí cố gia-công trau-chuốt lấy tiếng quốc-âm nhà, cho quốc-hoa ngày một rực-rỡ, quốc-hồn ngày một tỉnh-tao, quốc-bộ ngày một tấn-tới, quốc-vận ngày một vẻ-vang, ngơ-hầu khỏi phụ cái chi hoài-băo của tiên-sinh, ngậm cười chín suối cũng c̣n thơm lây! »

 

Chú thích:


1) công nghiệp: Công lao và sự nghiệp đối với xă hội.

2) xuất thế: ra đời, nói một cách trân trọng.

3) Thánh thư: sách Thánh.

4) Phúc âm: Tin lành.

5) dịp: nhịp.

6) văn tự: giấy tờ do hai bên thỏa thuận kư kết mua bán.

7) trước bạ: đăng kư văn tự với một cơ quan nhà nước để có tính pháp lư.

8) rau: nhau.

9) quốc sĩ: người tài nổi tiếng trong cả nước.

10) tá tả: viết dùm người khác.

11) công nghiên: một cách công khai.

12) nghiễm nhiên: (thực hiện) một cách tự nhiên và đàng hoàng, điều mà trước đó không ai ngờ.
13) túc duyên: duyên sẵn từ kiếp trước.

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính