V́ sao mà nhớ tiếc Nền Giáo Dục Truyền thống Việt Nam Cộng Ḥa?

 

Nguyễn-Nhơn

 

 

Người Việt ở Nga, Nhật, Hàn, Anh, Canada hay bất cứ nơi đâu đều t́m thấy thành công và xây dựng cho ḿnh một cuộc sống tốt đẹp. Nhưng họ không có được những điều đó khi ở trong nước.

Vậy sự khác biệt là ǵ?

Có phải v́ người trong nước lười biếng, c̣n người ngoài nước siêng năng? Khó thuyết phục trong khi một công nhân ở Âu hay Mỹ chỉ làm trung b́nh 40 giờ, c̣n trong nước th́ dù tăng ca 6 ngày một tuần cũng không đủ ăn.

Nếu người dân trong nước bị miêu tả là thụ động th́ tại sao khi ra nước khác họ lại chủ động. V́ CNXH ḱm chế họ hay v́ kinh tế tư bản đă thúc đẩy nghị lực con người.

Tại sao cùng một dân tộc, nói cùng thứ tiếng, cùng màu da và cùng văn hoá nhưng kết quả lại khác. Nếu không phải là cơ chế th́ là ǵ. Thật khó để suy nghĩ khác nguyên nhân nào khác.

Cho nên đừng nói với tôi là người Việt thế này, người Việt thế họ. V́ chế độ nào, người Việt đó. [05.11.2019]

Ku Búa @ Cafe Ku Búa - Chế độ nào Ngượi Việt đó

 

Đi xa hơn chút nữa, căn do là như vầy:

·         Chế độ nào – Nền Giáo dục nấy

·         Nền Giáo dục nào đào tạo ra con người nấy

 

- Nền Giáo dục Việt Nam Cộng Ḥa mang Đặc tính:

 

DÂN TỘC – NHÂN BẢN – KHAI PHÓNG

 

Đào tạo ra con người Việt Nam mang Truyền Thống Dân tộc, biết thương người và không cố chấp hẹp ḥi.

 

- Nền Giáo dục xă hội chủ nghĩa VONG BẢN – PHI NHÂN theo chủ nghĩa DUY VẬT đào tạo ra con người duy vật – vụ lợi – Phi đạo lư

 

V́ vậy mà công dân xă hội chủ nghĩa đi tới đâu, trộm cắp, phạm pháp tới đó.

 

Đó là lỗi của chế độ toàn trị việt cọng mà các vị có hiểu biết trong nước đều thấy mà không dám nói thẳng, nói né là “Lỗi Cơ chế.”

Đừng nói người Việt sống dưới các chế độ Âu Mỹ làm chi.

 

Hăy nói về chính chúng ta, dưới thời Việt Nam Cộng Ḥa với một nền Giáo dục Dân tộc – Nhân bản – Khai phóng đào tạo ra người Việt Quốc gia Việt Nam Cộng Ḥa mang t́nh tự Dân Tộc - Khiêm ḥa - Nhân ái, ham chuộng Khoa học Kỷ thuật và học theo Tính tốt của Dân tộc khác.

 

V́ vậy mà khi thoát nạn việt cọng, người Việt Quốc Gia VNCH đi tới dâu cũng thành công, nêu gương tốt cho Dân tộc Viêt.

 

30 Tháng Tư Nói Về Giáo-Dục Việt-Nam Cộng-Ḥa

 

Năm học lớp nh́ trường làng, tức lớp hai trường tỉnh, vừa học thông mặt chữ, ê a đọc Quốc văn Giáo khoa thư:

"Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra"

 

Núi Thái Sơn ở đâu không biết, chỉ biết là công cha cao như núi. Nguồn nước từ đâu cũng không hay, chỉ biết ḷng thương của mẹ ngọt ngào như nước Mội Thầy Thơ trong vắt.

 

Đó là ḷng hiểu để trong gia đ́nh. Khi ra ngoài xă hội th́ phải biết thương người như thể thương thân:

"Thấy người hoạn nạn th́ thương,

Thấy người tàn tật lại càng trông nom.

Thấy người già yếu ốm ṃn,

Thuốc thang cứu giúp, cháo cơm đỡ đần."

 

Ra trường tỉnh, đọc Đại Nam Quốc sử Diễn ca:

“Bà Trưng quê ở châu Phong,

Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên.

Chị em nặng một lời nguyền,

Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân.

Ngàn Tây nổi áng phong trần,

Ầm ầm binh mă xuống gần Long biên.

Hồng quần nhẹ bước chinh yên,

Đuổi ngay Tô Định dẹp tan biên thành.

Đô kỳ đóng cơi Mê Linh,

Lĩnh nam riêng một triều đ́nh nước ta."

 

Đôi khi cũng ca ngâm:

"Ai đấp non sông trường tiền...

Ai kết nên tấm vải hồng...

Xua tan giặc Đông Hán,

Xua tan giặc Đồng Lân"

 

Ngày băi trường, xem các anh diễn kịch Hội nghị Diên Hồng:

"Toàn dân nghe chăng?

Sơn hà nguy biến

Hận thù đằng đằng

Biên thùy rung chuyển...

…..........

Trước nhục nước nên ḥa hay nên chiến?

Quyết chiến!

Thế nước yếu lấy ǵ lo chiến chinh?

Hy sinh!"

 

Ơn thủy thổ, ơn tấc đất, ngọn rau, phải hết ḷng yêu nước, chống xâm lăng. Đó là nghĩa vụ của người trai Đất Việt.

 

Tôi vừa trích dẫn đôi hàng từ hai tài liệu căn bản Quốc văn Giáo khoa thư và Đại Nam Quốc sử Diễn ca, tiêu biểu về nền giáo dục truyền thống quê nhà Việt Nam: T́nh yêu thương Gia đ́nh, t́nh tự Dân tộc.

 

Từ đó, các nhà giáo dục Miền Nam dựng lên triết lư giáo dục cho hai nền Cộng Ḥa chánh thống như sau đây:

 

Triết lư giáo dục

Năm 1958, dưới thời Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Trần Hữu Thế, Việt Nam Cộng ḥa nhóm họp Đại hội Giáo dục Quốc gia (lần I) tại Sài G̣n. Đại hội này quy tụ nhiều phụ huynh học sinh, thân hào nhân sĩ, học giả, đại diện của quân đội, chính quyền và các tổ chức quần chúng, đại diện ngành văn hóa và giáo dục các cấp từ tiểu học đến đại học, từ phổ thông đến kỹ thuật... Ba nguyên tắc "nhân bản" (humanistic), "dân tộc" (nationalistic), và "khai phóng" được chính thức hóa ở hội nghị này.Đây là những nguyên tắc làm nền tảng cho triết lư giáo dục của Việt Nam Cộng ḥa, được ghi cụ thể trong tài liệu Những nguyên tắc căn bản do Bộ Quốc gia Giáo dục ấn hành năm 1959 và sau đó trong Hiến pháp Việt Nam Cộng ḥa (1967).

 

1. Giáo dục Việt Nam là giáo dục nhân bản. Triết lư nhân bản chủ trương con người có địa vị quan trọng trong thế gian này; lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người trong cuộc đời này làm căn bản; xem con người như một cứu cánh chứ không phải như một phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất cứ cá nhân, đảng phái, hay tổ chức nào khác. Triết lư nhân bản chấp nhận có sự khác biệt giữa các cá nhân, nhưng không chấp nhận việc sử dụng sự khác biệt đó để đánh giá con người, và không chấp nhận sự kỳ thị hay phân biệt giàu nghèo, địa phương, tôn giáo, chủng tộc... Với triết lư nhân bản, mọi người có giá trị như nhau và đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục.

 

2. Giáo dục Việt Nam là giáo dục dân tộc. Giáo dục tôn trọng giá trị truyền thống của dân tộc trong mọi sinh hoạt liên hệ tới gia đ́nh, nghề nghiệp, và quốc gia. Giáo dục phải bảo tồn và phát huy được những tinh hoa hay những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Dân tộc tính trong văn hóa cần phải được các thế hệ biết đến, bảo tồn và phát huy, để không bị mất đi hay tan biến trong những nền văn hóa khác.

 

3. Giáo dục Việt Nam là giáo dục khai phóng. Tinh thần dân tộc không nhất thiết phải bảo thủ, không nhất thiết phải đóng cửa. Ngược lại, giáo dục phải mở rộng, tiếp nhận những kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xă hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và xă hội, làm cho xă hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới.

 

Hiến pháp Đệ nhị VNCH 1967 long trọng qui định:

 

ĐIỀU 11

 

1- Văn hóa giáo dục phải được đặt vào hàng quốc sách trên căn bản dân tộc, khoa học và nhân bản

2- Một ngân sách thích đáng phải được dành cho việc phát triển văn hóa giáo dục

 

Tới đây, đáng lẽ kết thúc bài viết được rồi, nhưng chẳng đặng đừng phải viết thêm một đoạn về cái gọi là nền giáo dục xă nghĩa tồi tệ, không lèo, không lái, đưa thế hệ trẻ Việt Nam vào mê lộ tối tăm!

 

Ai mà chẳng buồn rầu khi nghe một bé gái thỏ thẻ hỏi ông: “Ông ơi! Cháu đọc sách học hoài mà không biết hai bà Trưng đánh giặc nào?!”

 

Ai mà không ngạc nhiên thảng thốt khi nghe thấy, sinh viên tung hê tài liệu về đề cương lịch sử bay như bươm bướm khi được tin miển thi đề thi lịch sử!

 

Chúng nó, bọn cọng sản phản nước, hại dân chỉ biết cúc cung thần phục chủ Tàu đến nổi che dấu lịch sử cho trẻ thơ không biết kẻ thù xâm lăng đất nước, tàn hại dân tộc là ai.

 

Chúng nó bịt mắt thanh niên về lịch sử tổ tiên, chỉ dạy một điều về chém giết sắt máu theo lịch sử đảng: Đánh đâu thắng đó, đánh nhỏ thắng to, đế quốc nào cũng đánh thắng, bất kể xương, máu chất chồng!

 

V́ sao mà ra nông nỗi? Là v́ lẽ nầy đây:

 

Triết lư giáo dục

 

Nền giáo dục Việt Nam dưới chính thể Cộng ḥa Xă hội Chủ nghĩa Việt Nam chưa có lời phát biểu rơ ràng và chính thức về triết lư giáo dục của ḿnh. Có người cho rằng Việt Nam cần thiết phải có một triết lư giáo dục và đặt vấn đề là phải chăng "giáo dục [Việt Nam] chưa có một triết lư phù hợp với nhu cầu đổi mới và hội nhập".

Tháng 9 năm 2007, Học viện Quản lư Giáo dục thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Namtổ chức hội thảo khoa học "Triết lư giáo dục Việt Nam" nhằm t́m câu trả lời cho các câu hỏi: Triết lư giáo dục là ǵ? Việt Nam đă có triết lư giáo dục chưa? Tại sao triết lư giáo dục lại quan trọng?...Ở hội nghị này, nhiều đại biểu cho rằng nền giáo dục Việt Nam từ trong truyền thống và hiện đại đều có triết lư giáo dục, thể hiện qua những câu như: "Không thầy đố mày làm nên"; "Muốn sang th́ bắc cầu kiều, muốn con hay chữ phải yêu mến thầy"; "Học thầy không tày học bạn"; "Tiên học lễ, hậu học văn"; "Học phải đi đôi với hành"; "V́ lợi ích mười năm trồng cây, v́ lợi ích trăm năm trồng người"; "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu"; v.v... Tuy vậy, theo tường tŕnh của Tạp chí Cộng Sản, hội nghị này vẫn chưa đưa ra được một định nghĩa cụ thể về triết lư giáo dục của Việt Nam. Các bài tường tŕnh của Tạp chí Cộng Sản, và của tạp chí Thông tin Khoa học Xă hội,không nhắc đến triết lư nhân bản, dân tộc, và khai phóngtừng tồn tại ở miền Nam Việt Nam từ năm 1955 đến 1975.

 

Hởi ơi! Giáo dục mà không có nguyên lư dẫn đường th́ cũng giống như con thuyền không lái. Cho nên thế hệ trẻ hồ chí mén đâu có biết con đường nào khác ngoài “con đường bi đát, bác đi.”

 

Con đường đó đi đến mục tiêu nầy đây:

 

Mục tiêu giáo dục

 

Mục tiêu phấn đấu chung của cơ sở giáo dục đại học và cao đẳng của Việt Nam là thực hiện nghiêm túc Nghị quyết 142 của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam. Nghị quyết này chỉ rơ những mục tiêu giáo dục như sau:

"... Xây dựng cho được một độ ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật và quản lư kinh tế đông đảo vững mạnh, ngày càng hoàn chỉnh về tŕnh độ và ngành nghề, vừa có phẩm chất chính trị tốt, tuyệt đối trung thành với Đảng, với giai cấp công nhân, với dân tộc, liên hệ chặt chẽ với công nông, vừa có tŕnh độ khoa học kỹ thuật và nghiệp vụ giỏi, nắm vững những quy luật của tự nhiên và quy luật xă hội, có năng lực tổ chức và động viên quần chúng, đủ sức giải quyết những vấn đề khoa học, kỹ thuật và quản lư kinh tế do thực tế nước ta đề ra và có khả năng tiến kịp tŕnh độ khoa học, kỹ thuật tiên tiến trên thế giới."

 

Vậy đó, cái nền giáo dục trọng “hồng hơn chuyên”, giỏi dở bất biết miển “tuyệt đối trung thành với đảng” là được.

 

Một nền giáo dục như vậy mà không đưa đất nước đến chỗ tan hoang, dân t́nh hỗn loạn mới là chuyện lạ!

 

Ba mươi tháng Tư: Ngày Quốc hận! Đâu phải v́ mất giàu sang, danh vọng mà hận. Chỉ v́ cọng sản tàn phá Đất nước, đẩy Dân tộc vào chỗ diệt vong, truyền thống dân tộc tự ngàn xưa đành mai một cho nên mới hận!

 

“Thù nước, lấy máu đào đem báo”. Giặc cọng c̣n tàn bạo hơn giặc ngoại xâm. Chúng là giặc diệt chủng. Tuổi trẻ Việt Nam muốn tự cứu ḿnh, cứu dân, cứu nước th́ phải đứng thẳng người lên, giáp mặt bạo quyền và chiến đấu không tiếc máu xương như thế hệ cha, anh đă làm như thế!

 

 

Nguyễn-Nhơn

----------------------------------------
Phụ đính

 

Chế độ nào Người Việt đó

 

Khi nh́n đất nước và dân chúng hiện nay, quá dễ để đổ thừa tất cả những vấn đề lên những con người sinh sống. V́ họ hữu h́nh, ai cũng có thể trông thấy được. Cho nên khi ai đó nhận xét “Người Việt thế này, người Việt thế nọ” th́ rất khó để nói khác. Nhưng đó chính là vấn đề. Chúng ta chỉ nh́n người Việt trong nước dưới thể chế hiện tại và quên rằng có nhiều “phiên bản” của người Việt khác đang tồn tại trên thế giới. Hăy làm chút so sánh nhé.


NGƯỜI VIỆT Ở CHXHCNVN

1. Thu nhập/năm: $2,500.

2. Tài sản: $18,000.

3. Tuổi thọ: 76 năm.

4. Dân trí: thấp.

5. Tính t́nh: "tẩy năo.”

 

NGƯỜI VIỆT Ở NGA

1. Thu nhập/năm: $7,000.

2. Tài sản: $10,000.

3. Tuổi thọ: 71 năm.

4. Dân trí: chưa cao.

5. Tính t́nh: "Bắc Kỳ" (ở đây không nói tốt hay xấu).

 

NGƯỜI VIỆT Ở MỸ

1. Thu nhập/năm: $60,000 (Cao hơn mức b́nh quân).

2. Tài sản: $187,000.

3. Tuổi thọ: 78 năm.

4. Dân trí: cao.

5. Tính t́nh: "Tự tin.”

 

NGƯỜI VIỆT Ở ĐỨC (CHÂU ÂU)

1. Thu nhập/năm: $49,000.

2. Tài sản: $70,000.

3. Tuổi thọ: 80 năm.

4. Dân trí: cao.

5. Tính t́nh: "ổn định.”

 

NGƯỜI VIỆT Ở AUSTRALIA

1. Thu nhập/năm: $50,000.

2. Tài sản: $190,000.

3. Tuổi thọ: 82 năm.

4. Dân trí: cao.

5. Tính t́nh: "vui tính.”

 

NGƯỜI VIỆT Ở NHẬT

1. Thu nhập/năm: $40,000.

2. Tài sản: $100,000.

3. Tuổi thọ: 83 năm.

4. Dân trí: trên trung b́nh.

5. Tính t́nh: "cần cù.”


Tuy số liệu chỉ mang tính chất tương đối và khó chính xác, nhưng có thể dùng để so sánh. Tại sao một người Việt ở trong nước chỉ có thể kiếm được $2,500 mỗi năm và có lượng tài sản chỉ tầm $18,000. Đó là con số hơi cao, đa số người dân hiện nay là nông dân cho nên giá trị thấp hơn rất nhiều.

Trong khi đó, khác với những đồng bào ở trong nước, người Việt sinh sống ở các quốc gia khác lại thành công tương đương với người bản xứ hoặc hơn.
Ở Mỹ, một người Mỹ gốc Việt có thu nhập b́nh quân $60,000/năm, hơn mức trung b́nh toàn nước. Ở Châu Âu th́ một người Việt b́nh thường có tuổi thọ 80 năm với tài sản trung b́nh là $70,000 hoặc hơn.

Người Việt ở Nga, Nhật, Hàn, Anh, Canada hay bất cứ nơi đâu đều t́m thấy thành công và xây dựng cho ḿnh một cuộc sống tốt đẹp. Nhưng họ không có được những điều đó khi ở trong nước.

Vậy sự khác biệt là ǵ?

Có phải v́ người trong nước lười biếng, c̣n người ngoài nước siêng năng? Khó thuyết phục trong khi một công nhân ở Âu hay Mỹ chỉ làm trung b́nh 40 giờ, c̣n trong nước th́ dù tăng ca 6 ngày một tuần cũng không đủ ăn.

Nếu người dân trong nước bị miêu tả là thụ động th́ tại sao khi ra nước khác họ lại chủ động. V́ CNXH ḱm chế họ hay v́ kinh tế tư bản đă thúc đẩy nghị lực con người.

Tại sao cùng một dân tộc, nói cùng thứ tiếng, cùng màu da và cùng văn hoá nhưng kết quả lại khác. Nếu không phải là cơ chế th́ là ǵ. Thật khó để suy nghĩ khác nguyên nhân nào khác.

Cho nên đừng nói với tôi là người Việt thế này, người Việt thế họ. V́ chế độ nào, người Việt đó. [05.11.2019]

Ku Búa @ Cafe Ku Búa

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính