Em đọc Sử Việt:

Trống Đồng: Đặc điểm Văn minh -  Văn hóa Lạc Việt

 

 

Hiện tại bọn phản quốc bán nước cầu vinh việt cọng đang mưu toan xóa nḥa việc học Lịch sử Dân tộc để chúng chuẩn bị thay thế việc học sử Việt sang học sử tàu theo như cam kết trong mật ước Thành Đô và cũng để xóa nḥa Tinh thần Dân tộc v́ chúng lo sợ, một khi tinh thần Dân tộc bất khuất chống tàu xâm lăng trổi dậy, toàn dân Việt sẽ vùng lên quét sạch bọn măi quốc cầu vinh việt cọng ra khỏi cỏi bờ Đất Việt.


Để chống lại âm mưu xóa nḥa Lịch sử Dân tộc của loài quỷ đỏ phản quốc, ta cổ vơ toàn dân đọc Sử Việt.

 

TRỐNG ĐỒNG: Bản quyền Lạc Việt

Ai là người sáng chế ra trống đồng?

 

Tàu nói: H́nh chim trên trống mặt trống đồng là h́nh con c̣, con sếu.

 

“Theo học phái Trung Quốc, h́nh những “con chim bay” được khắc chạm trên trống đồng Ngọc Lũ (ở ṿng thứ ba ngoài cùng) là loại c̣, sếu; và họ tin rằng chính cư dân nước Sở ở đồng bằng Trung Nguyên Trung Quốc ngày xưa đă dùng trang trí trống đồng, sau đó mới lan truyền xuống các tộc ít người khác ở phía Nam.

 

Ta nói: Đó là con chim Lạc, biểu tượng Vật tổ của giống ṇi Lạc Việt.

 

(Tiếng b́nh dân là con chim cồng cộc. Dân quê Miền Nam gọi: Chim bói cá)

 

“Trong khi ấy, học phái Việt Nam tuy cũng chấp nhận là loại c̣, sếu, nhưng nh́n nhận đó là biểu tượng vật tổ “chim Lạc” của nhân dân Việt Nam. Dù vậy, theo kinh nghiệm hiểu biết cá nhân, chúng tôi nhận diện: đó không phải là h́nh thù của loại c̣ sếu trong tư thế đang bay, v́ khi bay, chân chúng phải duỗi thẳng để bay. Nhưng, đây là LOẠI CHIM LẶN BẮT CÁ trong những đầm nước mặn hoặc nước lợ, dọc theo các vùng duyên hải, mà người địa phương B́nh Định và một sổ tỉnh Miền Trung gọi là: CHIM CỒNG CỘC. Tra từ điển tiếng Anh, chúng tôi thấy có từ “cormorant”, hoặc “anhinga”, và được Từ điển Lạc Việt dịch là “chim cốc”. Xin xem h́nh đính kèm: Chim cồng cộc đang lội trong đầm kiếm cá. Chim cồng cộc trong tư thế bay lượn. Khi bắt cá, chim cồng cộc lặn sâu dưới nước và lặn xa hàng chục mét. Với tư thế của chim trong h́nh khắc chạm trên mặt trống đồng Ngọc Lũ, chúng tôi tin đó là tư thế của chim cồng cộc trong lúc rượt đuổi bắt cá. Chúng đang đưa ngang đôi cánh để vừa lái và vừa quạt, phối hợp với hai chân cũng đang trong tư thế quắp lại để quạt nhanh về phía trước. Những lúc “trời êm, bể lặng”, người đánh bắt cá đứng trên thuyền cũng có thể trông thấy cái tư thế rượt đuổi cá của chim, giống y hệt như trong h́nh khắc chạm trên trống đồng. Xin xem h́nh dưới được trích mượn từ bài viết “T́m hiểu ư nghĩa những h́nh vẽ trên bề mặt trống đồng Ngọc Lũ” của học giả Lê Văn Siêu và do Lê ngọc Minh cập nhật ngày 9/9/2010.[3] Chim lạc khắc trên bề mặt trống đồng Ngọc Lũ Như vậy, theo thiển ư chúng tôi, người Việt xưa muốn biết chỗ nào có cá nhiều trong sông biển, có thể phải theo dơi sự xuất hiện của loại chim nước này. Và v́ thế, cũng theo hiểu biết chúng tôi, đây mới là lí do xác thực để dân chúng Lạc Việt chọn loài chim nước này làm vật tổ. Bằng chứng là cho đến nay, không những chúng ta c̣n trông thấy những h́nh thù chiếc thuyền được chạm khắc trên trống đồng với đầu thuyền h́nh đầu chim và đuôi thuyền h́nh đuôi chim; mà ngay trên sông biển Việt Nam ngày nay, chúng ta vẫn c̣n trông thấy những chiếc ghe thuyền có vẽ h́nh mắt chim ở đầu ghe thuyền. Ngoài ra, sự xuất hiện của loại chim lặn bắt cá này ắt phải tùy thuộc vào thời tiết và mùa cá xuất hiện. Theo câu chuyện kể của học giả Đào Duy Anh, được Tiến sĩ Lê Mạnh Hùng dẫn lại trong sách Nh́n lại SỬ VIỆT của ông, th́ sở dĩ có tên gọi Lạc Việt là v́: Ngày xưa có một bộ lạc ở vùng biển Phúc Kiến, Trung Quốc. Hàng năm cứ theo gió mùa họ lại nhân gió bắc mà vượt biển đến các miền duyên hải ở phương Nam, đại khái là vùng Hải Nam và vùng đồng bằng sông Hồng và sông Mă của Việt Nam. Đến mùa gió nồm họ lại vượt trở về nơi căn cứ. Trong những cuộc vượt biển hàng năm đó, họ tự ví ḿnh như con chim lạc, một loại chim nước ở vùng Giang Nam mà đến mùa đông họ thấy cũng rời vùng Giang Nam mà bay về nam đồng thời với việc xuất dương của họ. Đến mùa gió nồm họ lại cũng thấy những con chim lạc này cất cánh quay trở về vùng Giang Nam đồng thời với họ. Rồi ư niệm đó chuyển thành quan niệm tô-tem khiến họ nhận con chim lạc kia làm vật tổ. Cái tên vật tổ đó trở thành tên của bộ lạc và bộ tộc đó trở thành bộ tộc Lạc.[...] Sau này, khi nước Việt đời Xuân Thu bị nước Sở diệt, những tù trưởng dân Lạc ở xứ Mân (Phúc Kiến) kéo cả bộ lạc di cư về vùng đồng bắng miền Bắc Việt Nam mà trước đó họ đă biết rằng rất ph́ nhiêu. Đến đây họ c̣n giữ tên thị tộc cũ là Lạc. Và chính bằng tên ấy, Lạc, mà các nhà sử gia Trung Hoa gọi họ.

 

Mặt khác, cũng theo thiển ư chúng tôi, tên gọi “chim Lạc” này cũng có thể có ư nghĩa liên hệ với tên “sông Lạc”, “ruộng Lạc”, cũng như “Lạc Việt”, “Lạc Hồng”, v.v… Chẳng hạn, theo lời kể của sách cổ Thủy Kinh Chú dẫn lại Giao Châu ngoại vực kư, th́: “Đời xưa đất Giao Chỉ khi chưa chia thành quận huyện, ruộng đất được gọi là Lạc điền, nước lên xuống theo thủy triều. Dân cư cấy bừa trên ruộng đó để sinh sống” (Lê Mạnh Hùng, sđd, tr. 67). Hoặc theo nhận xét của cố Linh mục Giáo sư Lương Kim Định, được tác giả Phạm Trần Anh trích dẫn và viết lại trong sách Huyền tích Việt , th́ “Hồng Hộc, chim nước của Việt tộc thể hiện nguyên lí Âm Dương Giao Chỉ v́ nó vừa bay lên trời vừa xuống dưới nước.” (*)

 

TRỐNG ĐỒNG: Biểu tượng uy quyền Bộ tộc

 

Chúng tôi rất kính phục và cảm ơn các nhà khảo cổ Tây phương nhất là ở trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp, để rất nhiều năm tháng và tâm tư cùng đem những sử học, mày ṃ, khảo sát, suy luận và giả thiết. Các vị ấy đă viết nên cả những bộ sách lớn khiến trống đồng trở thành một vật nổi tiếng trên Thế Giới. Nhờ các vị mà rất đông những nhà học giả của nước chúng tôi khi đề cập đến di sản văn hoá này cũng đă khiến được cho quần chúng b́nh dân biết đại khái rằng ngày xưa các bộ lạc của tổ tiên ḿnh thờ vật tổ là con chinh tên là Lạc, thờ thần mặt trời ( v́ h́nh vẽ ở trung tâm mặt trời loé ra nhiều tia sáng),lại có những h́nh người đội mũ cánh chim, mặc áo x̣e ra như lông cánh chim, rồi có cả mắt chim ở đầu mũi thuyền, đầu mũi tên, trên mái chèo, bánh lái thuyền, …

 

Nhiều vị xác quyết rằng bộ lạc cổ xưa này sau đó di cư đến các hải đảo Thái B́nh Dương, nên có liên hệ bà con với bộ lạc Dayak ở Bornéo, c̣n có h́nh thuyền giống như trên trống dùng vào dịp tang lễ. Nhiều vị khác c̣n thêm tại miền Bắc có bộ lạc hay hoá trang cái đầu thành đầu chim trong lễ nghi cúng kiếng theo điệu trống đồng.

 

Trống vốn không biết nói, cũng không biết thế nào mà dám căi. Thôi thà tuỳ người ta nhớ được một tiền tích nào ở đâu th́ sẵn ghép cho nó những nội dung khác nhau. Ra sao nó cũng phải chịu.

 

Chúng tôi chỉ trộm nghĩ rằng, trống đồng xưa chỉ tù trưởng mới được phép có, nó như một ấn ngọc tỷ, biểu tượng uy quyền của vị Hoàng Đế, người ta chả nên lầm mà hiểu nó như một sản phẩm công nghệ để trao đổi trong phiên chợ, và hiểu những h́nh vẽ là để cho vui mắt người mua dùng.(**)

 

TRỐNG ĐỒNG: Quyển lịch vạn niên

 

Tài ba và nhiệm vụ của tù trưởng

 

Một tù trưởng hẳn phải có nhiều đám dân đến hỏi những việc thuộc đời sống hằng ngày của họ. Ông phải có hiểu biết ǵ hơn họ và chỉ bảo họ ra sao?

 

Chẳng hạn, có đám hỏi đêm nay có thể đi săn được không?

 

Liệu có trăng không? Trăng lên vào chặp tối hay gần sáng?

 

Ngày mai nước có lên không? Có thể cho thuyền ra khơi đánh cá được không?

 

Mùa này nên ở nhà hay đi hái trái?

 

Đă nên giả gạo để ủ làm rượu dùng vào ngày lễ nào đó chưa?

……

 

Ông tù trưởng phải có nhiệm vụ biết ngày giờ, sáng tối, trăng tṛn trăng khuyết, tiết trời nóng lạnh, mưa gió, con nước, t́nh h́nh muôn thú, cũng như những dịp lễ lạt phải chuẩn bị trước. Sự tích lũy kinh nghiệm của nhiều đời tù trưởng đă phải được ghi lại, cũng như phải có ǵ để mà ghi lại, để mà làm việc và hướng dẫn quần chúng.

 

Một quyển lịch cổ xưa

 

V́ các lư lẽ trên, vị tù trưởng phải có một quyển lịch năm, tính theo tuần trăng, theo mùa màng khí tiết, đặt ngay cạnh ḿnh, để dân hỏi ǵ là tra ngay ra được câu trả lời.

 

Lịch ấy vạch trên đồ đất nung th́ dể vỡ, dễ ṃn, không truyền được nhiều đời. Vạch trên mặt trống đồng th́ thật là tiện, gọn, đúng với vật biểu tượng uy quyền của ḿnh cùng cả ḍng tù trưởng.

 

Vậy những h́nh vẽ trên mặt trống đồng Ngọc Lũ là một quyển Âm Lịch, có tháng đủ, tháng thiếu, có đêm trăng tṛn, trăng khuyết, hay không có trăng, lại có cả năm nhuận và chu kỳ 18 năm để tính tháng dư, cũng như có những chỉ vạch về 4 mùa trong năm.

 

Nếu vậy th́ không những không có ǵ là mê tính (thờ chim, vật tổ mặt trời, mặt trăng, ca vũ để cầu thần linh,…) mà có vẻ như người xưa c̣n có tinh thần thực tế, hợp lư, khoa học, chính xác, chưa biết chừng người đời nay c̣n phải giật ḿnh là đằng khác nữa.

 

 

Kết luận:

 

Mặt trống đồng Ngọc Lũ quả đúng là một quyển lịch được sắp xếp và vẽ một cách thông minh. Trừ một vài chi tiết chưa hiểu rơ như đă nói, những nét chính của h́nh vẽ đă khiến ta chân thành khâm phục rằng: Với mức độ hiểu biết và tiến hoá của đời nay cũng chưa chắc có người bố trí nổi một bản ghi thời gian tài t́nh như thế.(**)

 

HỒI TRỐNG MÊ LINH

 

Một xin trả sạch nước thù

Hai xin thu lại nghiệp xưa họ Hùng

Ba kẻo oan ức ḷng chồng

Bốn xin vẽn vẹn sở công lịnh nầy

 

Bà Trưng quê ở châu Phong,

Giận người tham bạo thù chồng chẳng quện

Chị em nặng một lời nguyền,

Phất cờ nương tử thay quyền tướng quận

Ngàn Tây nổi áng phong trần,

Ầm ầm binh mă xuống gần Long biện

Hồng quần nhẹ bước chinh yên,

Đuổi ngay Tô Định dẹp tan biên thành

Đô kỳ đóng cơi Mê Linh,

Lĩnh nam riêng một triều đ́nh nước ta.

 

TRĂM NĂM BIA ĐÁ TH̀ M̉N

NGÀN NĂM BIA MIỆNG VẪN C̉N TRƠ TRƠ

 

Mă Viện: Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt

Minh Tư Tông Chu Do Kiểm (Sùng Trinh): “Đồng trụ chí kim đài dĩ lục”

(Trụ đồng đến nay rêu đă xanh)

 

Giang Văn Minh, sứ thần Đại Việt: “Đằng Giang tự cổ huyết do hồng”

(Sông Đằng từ xưa máu c̣n đỏ)

 

 

Người sưu tập

Nguyễn Nhơn

 

(*) vns.hnue.edu.vn/Tư-liệu/Lịch-sử/article/16

TRỐNG ĐỒNG: phản ánh nét văn hoá Việt Nam nói riêng và Đông Nam Á nói chung,

(**) Việt Nam Văn Minh Sử - Lê Văn Siêu

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính