Toàn dân! Nghe chăng? Sơn Hà nguy biến!

 

Nguyễn Nhơn

 

 

Hỡi đông bào Việt Nam, trước thảm cảnh của dân tộc, trước nguy cơ đất nước của chúng ta bị tập đoàn Việt cộng HCM sau khi bán đất chia phần, chúng lại trao tay cho Tàu cộng để dân ta thành tập đoàn nô lệ mới cho chúng. Hỏi xem, dân ta phải làm gỉ đây?

Hởi con cháu của Trưng, Triệu. Hậu duệ của những Ngô Vương, Lê Lợi, Trần hưng Đạo, Quang Trung…. mang ḍng máu của Tiên Long nên làm ǵ đây?

- Ta cứ lặng lờ ngủ yên, cúi đầu vui theo những ngày phù du nô lệ?

- Hay ta sẽ cùng nhau cuồn cuộn như ḍng thác không ngừng chuyển động, cùng đứng lên theo tiếng gọi của tiền nhân, trảm nội thù diệt ngoại xâm, đưa non sông về một mối thanh b́nh thái lạc?

- Cách riêng, Này anh, này chị, hỡi em, c̣n giữ tấm áo Việt Nam, chúng ta nghĩ ǵ về con đường Cứu Quốc hôm nay?

( Bảo Giang - Sơn Hà nguy biến )

Toàn dân! Nghe chăng? Sơn hà nguy biến!

Hận thù đằng đằng! Biên thùy rung chuyển

Tuông giày non sông rền vang tiếng vó câu

Gây oán ngh́n thu


Toàn dân Tiên Long! Sơn hà nguy biến!

Hận thù đằng đằng! Nên ḥa hay chiến?

Diên Hồng tâu lên cùng Minh đế báo ân

Hỡi đâu tứ dân!


Ḱa vừng hồng tràn lan trên đỉnh núi

ôi Thăng Long! Khói kinh kỳ phơi phới

Loa vang vang, chiếu ban truyền bốn hương

Theo gió bay khắp miền sông núi réo đời.


Ḷng dân Lạc Hồng nh́n non nước yêu quê hương

Giống anh hùng nâng cao chí lớn

Giống anh hùng đua sức tráng cường.

Ta lên đường ḷng mang tâu đến long nhan

Gịng Lạc Hồng xin thề liều thân liều thân!


Đường c̣n dài

Hờn vương trên quan tái

Xa xa trông áng mây đầu non đoài


Trông quân Nguyên tàn phá non sông nhà

Đoạt thành tŕ toan xéo giày lăng miếu

Nh́n bao quân Thoát lấn xâm tràn nước ta

ôi sông núi nhà rền tiếng muôn dân kêu la


(Hỏi) Trước nhục nước nên ḥa hay nên chiến?

(Đáp) Quyết Chiến!


(Hỏi) Trước nhục nước nên ḥa hay nên chiến?

(Đáp) Quyết Chiến!


Quyết chiến luôn

Cứu nước nhà

Nối chí dân hùng anh


(Hỏi) Thế nước yếu lấy ǵ lo chiến chinh?

(Đáp) Hy Sinh!


(Hỏi) Thế nước yếu lấy ǵ lo chiến chinh?

(Đáp) Hy Sinh!


Thề liều thân cho sông núi


Muôn Năm Lừng Uy!!

 

Ngày xưa, giặc thát đát muôn phần hung hiểm nhưng toàn ân Việt trên dưới đoàn kết một ḷng.

 

Với tinh thần Quyết chiến - Hy sinh, tổ tiên ta 3 lần thắng giặc nguyên mông:

TRẦN THÁI TÔNG ĐẠI THẮNG QUÂN MÔNG CỔ LẦN THỨ 1

 

Năm 1254, quân Mông Cổ đánh chiếm nước Đại Lư, ở vùng Vân Nam. Mông Cổ đương thời là đế quốc to lớn và hùng mạnh nhất thế giới, ch́ếm đóng từ Á sang Âu.

 

Năm 1257, từ Vân Nam, tướng Ngột Lương Hợp Thai (Uriyangqatai) đem 3 vạn quân Mông Cổ và hơn 1 vạn quân Đại Lư tấn công Đại Việt, chiếm Thăng Long, đốt phá và giết mọi người trong thành. [Ngột Lương Hợp Thai là công thần thứ 3 của Nhà Nguyên, từng tham gia các trận đánh chiếm nước Kim, nước Đức, Ba Lan, Bagdad, và diệt nước Đại Lư].

Nửa đêm ngày 28 tháng 1 năm 1258, từ nơi trú quân là Hoàng Giang, Trần Thái Tông cùng Thái tử Trần Hoảng ngự lâu thuyền ngược sông, bất ngờ đánh thẳng vào quân Mông Cổ. Quân Mông Cổ cho rằng lực lượng quân Trần đă kiệt quệ sau trận thua đầu nên rất chủ quan, do đó khi bị tập kích đă không kịp trở tay, bị thua to. Sau khi bị phá tan tại Đông Bộ Đầu, quân Mông Cổ không giữ nổi Thăng Long nữa. Họ đồng loạt tháo chạy thẳng về Vân Nam.

 

TRẦN HƯNG ĐẠO ĐẠI PHÁ QUÂN MÔNG LẦN THỨ 2

Năm 1279, Nam Tốnghoàn toàn bị Đại Nguyên thôn tính. Tháng 8 năm này, hoàng đế nhà Nguyên là Hốt Tất Liệtra lệnh đóng thuyền chiến chuẩn bị đánh Đại Việt Nhật Bản

 

Nhà Nguyên chia làm 3 đạo tiến đánh Đại Việt. Đạo chủ lực do Thoát Hoan và Ariq Qaya chỉ huy từ Ninh Minhtiến vào Lộc Châu (nay là Lộc B́nh,Lạng Sơn). Ngày 27 tháng 1 năm 1285 (dương lịch), đạo quân này chia làm 2 mũi tiến quân, một do Bolqadar chỉ huy theo đường Khâu Ôn (nay là Ôn Châu, Lạng Sơn), một do Satartai và Lư Bang Hiến chỉ huy đi theo đường núi Cấp Lĩnh (tức là từ Lộc B́nh đi Sơn Độngngày nay). Đại quân của Thoát Hoan đi sau mũi thứ hai của Satartai và Lư Bang Hiến. Chống lại đạo quân thứ nhất này của quân Nguyên là lực lượng chủ lực của quân Trần do đích thân Trần Quốc Tuấnchỉ huy.

 

Đạo thứ hai chỉ gồm hơn 1 ngh́n quân Mông Cổ và Vân Nam do Nasirud Din từ Vân Nam vào Đại Việt qua vùng Tuyên Quang tiến theo sông Chảy. Vị chỉ huy quân Trần ở vùng này là Trần Nhật Duật.

 

Đạo thứ ba là đạo quân đang chiến đấu ở Chiêm Thành do Toa Đô chỉ huy, tiến vào Đại Việt muộn hơn hai cánh trên, vào khoảng tháng 3 dương lịch, từ phía Nam.

 

Tháng 5 đầu tháng 6 năm 1285, nghĩa là khoảng 1 tháng sau khi rút về Thanh Hóa để thoát khỏi gọng ḱm của quân Nguyên, quân Trần lại quyết định từ Thanh Hóa trở lại miền Bắc phản công quân Nguyên. Quân Trần chia làm 2 cánh. Một cánh do Trần Quốc Tuấn chỉ huy quay trở lại Vạn Kiếp khóa đường rút lui của địch. Một cánh do Trần Quang Khải chỉ huy phản công dọc theo sông Hồng.

 

Trận Hàm Tử – Tây Kết

 

Để pḥng thủ mặt phía Nam của thành Thăng Long, quân Nguyên dựng 2 căn cứ liền kề nhau ở hai bờ sông Hồng, một ở Hàm Tử Quan (cửa Hàm Tử – nay ở Khoái Châu, Hưng Yên) và một ở Chương Dương Độ (bến Chương Dương – nay ở Thượng Phúc, thuộc Thường Tín, Hà Nội). Tháng 5, Trần Quang Khải

dẫn quân tấn công đồng thời 2 căn cứ này.

 

Toa Đô và Ô Mă Nhi ở Thanh HoáNghệ An giao chiến với quân Trần do Trần Quang Khải chỉ huy mấy lần đều bị đẩy lui. Lương thực gần cạn, tới mùa hè nóng bức, quân Nguyên không hợp thời tiết, hai tướng bèn bỏ ư định truy t́m vua Trần mà vượt biển ra bắc để hội binh với Thoát Hoan.

 

Trần Quang Khải thấy quân Nguyên rút ra bắc bèn báo với vua Trần. Vua Trần cùng các tướng nhận định rằng: Quân Nguyên nếu c̣n mạnh, ắt truy kích vua Trần từ hai mặt nam bắc; nay cánh phía bắc không tới, cánh phía nam rút đi tức là đă mỏi mệt. Nhà Trần xác định đây là thời cơ phản công.

 

Trần Nhân Tông sai Trần Nhật Duật làm chánh tướng, Chiêu Thành Vương và Trần Quốc Toản làm phó tướng đi cùng với Nguyễn Khoái mang 5 vạn quân ra bắc đuổi đánh Toa Đô. Trong quân Trần Nhật Duật có tướng người Trung Quốc của nhà Tống cũ là Triệu Trung theo hàng.

 

Trần Nhật Duật gặp binh thuyền Toa Đô ở bến Hàm Tử, bèn chia quân ra đánh. Hai bên chống nhau ác liệt. Toa Đô đi đường xa, giao chiến lâu ngày đă mỏi mệt, trông thấy cờ hiệu Tống của Triệu Trung, lo lắng tưởng rằng nhà Tống đă khôi phục sang giúp Đại Việt. Nhóm quân người Hoa trong hàng ngũ quân Trần đều muốn trả thù nên đánh rất hăng.

 

Trong khi đó quân Trần lại dùng kế ly gián, bắn tên gắn giấy sang bên quân Nguyên, nói rằng chỉ đánh người Thát Đát chứ không đánh người Hoa. Điều đó khiến nhiều tướng sĩ người Hoa trong quân Nguyên không tận lực chiến đấu hoặc trở giáo sang hàng quân Trần. Toa Đô bị thua to. Sau khi thua trận ở Hàm Tử QuanToa Đô vẫn không biết rằng Thoát Hoan đă tháo chạy. Cánh quân Toa Đô đóng ở sông Thiên Mạc (đoạn sông Hồng ở Hưng Yên) và t́m cách liên lạc với ông. Được ít ngày, Toa Đô biết tin quân Thoát Hoan đă thất bại và rút chạy, bèn lui về Tây Kết (Khoái Châu). Ngày 24 tháng 6 năm 1285, Trần Hưng Đạo trực tiếp chỉ huy quân đánh Toa ĐôToa Đô và Ô Mă Nhithua, bỏ thuyền đi đường bộ ra phía biển. Trên đường chạy, Toa Đô bị quân Đại Việt bao vây, sau cùng bị tướng Vũ Hải của nhà Trần chém đầu. Ô Mă Nhith́ chạy thoát về Thanh Hóa. Theo Đại Việt sử kư toàn thư, vua Trần Nhân Tông trông thấy thủ cấp của Toa Đô th́ cởi áo ngự phủ lên và nói “người làm tôi phải nên như thế này” rồi sai người khâm niệm tử tế.

 

Trận Chương Dương Độ

 

Trần Nhật Duật sai Trần Quốc Toản về Thanh Hoá báo tin thắng trận. Trần Quốc Tuấn bàn với Trần Nhân Tông quyết định mang toàn quân ra bắc đánh Thoát Hoan để lấy lại Thăng Long. Trần Quang Khải ở Nghệ An mới ra được cử làm chánh tướng, Phạm Ngũ Lăo và Trần Quốc Toản làm phó tướng; lại truyền lệnh cho Trần Nhật Duật phải ngăn không cho Toa Đô hợp binh được với Thoát Hoan.

 

Đại quân Thoát Hoan đóng ở Thăng Long cũng trong t́nh trạng lương thực sắp cạn, các chiến thuyền đóng ở bến Chương Dương.

 

Trần Quang Khải tiến ra bắc khá thuận lợi. Quân Trần nhanh chóng diệt nhiều đồn nhỏ của quân Nguyên, kết hợp dụ hàng quân người Hoa bỏ hàng ngũ quân Nguyên. Trong khi đó th́ Trần Nhật Duật cũng giữ lại số quân để cầm chân Toa Đô, c̣n chia một số sang hợp với cánh quân Trần Quang Khải. Nhiều toán quân Trần trước kia bị tản mát, chưa t́m được vào Thanh Hoá, lúc đó gặp quân Trần Quang Khải đă cùng gia nhập nên lực lượng càng mạnh lên. Quân Trần chiếm được nhiều thuyền của địch ở bến đ̣.

 

Quân Trần tiếp tục ngược sông Hồng phản công quân Nguyên. Trần Quang Khải cùng Phạm Ngũ Lăo và Trần Quốc Toản đă tấn công quân Nguyên ở Chương Dương (huyện Thường Tín). Quân Nguyên thường thấy quân Trần bị thua, khi đó thấy quân Trần đánh mạnh nên bị bất ngờ, tan tác bỏ chạy. Phần lớn các chiến thuyền quân Nguyên bị quân Trần đốt cháy hoặc chiếm.

 

Giải phóng Thăng Long

 

Sau các trận phản công thắng lợi trên sông Hồng, quân Trần quyết định tấn công giải phóng kinh thành Thăng Long. Lực lượng tham gia gồm các đơn vị thủy bộ chủ lực do Trần Quang Khải chỉ huy. Các đơn vị dân binh các địa phương lân cận do Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp và Nguyễn Truyền chỉ huy. Sau khi đánh bại đơn vị quân Nguyên ngoài thành do Mă Vinh chỉ huy, quân Trần bắt đầu bao vây và công thành.

 

Trước sức tấn công mạnh mẽ và bền bỉ của quân Trần, quân Nguyên phải rút chạy khỏi thành Thăng Long về đóng ở bờ Bắc sông Hồng (khoảng Gia Lâm ngày nay). Tại đây, đồn trại của quân Nguyên vẫn liên tục bị tấn công.

 

Trận sông Thiên Mạc

 

Sau khi thua trận ở Hàm Tử Quan, Toa Đô vẫn không biết rằng Thoát Hoan đă tháo chạy. Cánh quân Toa Đô đóng ở sông Thiên Mạc và t́m cách liên lạc với Thoát Hoan. Được ít ngày, Toa Đô biết tin quân Thoát Hoan đă thất bại và rút chạy, bèn lui về Tây Kết.

 

Có tài liệu căn cứ vào Nguyên sử cho rằng Toa Đô sau trận thua ở Hàm Tử Quan lại tiến vào Thanh Hoá đánh vua Trần lần nữa, nhưng không thu được kết quả nên lại trở ra t́m Thoát Hoan. Trận Tây Kết này c̣n được coi là trận Tây Kết thứ hai.[

 

Ngày 24 tháng 6 năm 1285, quân Trần do đích thân vua Trần chỉ huy tấn công đạo quân Nguyên này. Tướng Nguyên là Trương Hiển (chức tổng quản) đầu hàng quân Trần và dẫn đường cho quân Trần tấn công Toa Đô ở Tây Kết. Quân Nguyên bị giết rất nhiều. Toa Đô cũng bị tử trận. Ô Mă Nhi và Lưu Khuê đi thuyền nhỏ trốn thoát ra biển.

 

HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG ĐẠI PHÁ QUÂN NGUYÊN LẦN THỨ 3

 

Hai lần bị thất bại, Hốt Tất Liệt xâm lược nước ta lần thứ ba để trả thù, chứng tỏ uy thế của nước lớn, gồm 30 vạn quân do Thoát Hoan chỉ huy; 600 chiến thuyền do Ô Mă Nhi hộ tống đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ , lần này lương thực đầy đủ hơn , quân đội nhiều và mạnh , nhiều tướng giỏi , chú trọng đến thủy binh.

 

*Trần Hưng Đạo làm Tiết chế , chỉ huy kháng chiến.

*Tháng 12/1287 nửa triệu quân xâm lược tràn vào nước ta:

 

+Thoát Hoan chỉ huy quân bộ đánh vào Lạng Sơn, Vạn Kiếp và xây dựng căn cứ vững chắc để đánh lâu dài với ta .

+600 chiến thuyền lớn do Ô Mă Nhi theo đường biển hộ tống đoàn thuyền lương của Trương văn Hổ và hội quân với Thoát Hoan ở Vạn Kiếp .

 

Chiến thắng Vân Đồn tiêu diệt đ̣an thuyền lương của Trương văn Hổ :

 

Ô Mă Nhi vào sông Bạch Đằng và hội quân ở Vạn Kiếp, bỏ lại đoàn thuyền lương, liền bị quân Trần Khánh Dư tiêu diệt.

-Đợi măi không thấy đoàn thuyền lương, 1-1288 Thoát Hoan tiến xuống Thăng Long… nhưng bị động, hết lương thực, tinh thần binh lính hoang mang tuyệt vọng

 

*Ư nghĩa trận Vân Đồn :tạo thời cơ để nhà Trần mở cuộc phản công tiêu diệt quân Nguyên.

 

Chiến thắng Bạch Đằng lịch sử 1288:

-Vua TrầnvàTrần Hưng Đạo,dự đoán quân giặc sẽ rút quân qua cửa sông Bạch Đằng.

-Đầu tháng 4 /1288 Ô Mă Nhi có kỵ binh rút về nước theo hướng sông Bạch Đằng.

-Khi nước triều lên ta cho thuyền nhẹ ra khiêu chiến rội vờ thua chạy, dụ địch vào trận địa mai phục của ta.

-Khi nước rút, từ 2 bờ sông thuyền nhỏ của ta đổ ra đánh , bị đánh bất ngờ, giặc rút nhanh ra cửa biển, thuyền giặc đâm vào băi cọc nhọn, bị vỡ và đắm.Hoảng sợ, địch bỏ chạy lên bờ bị quân ta tiêu diệt, Ô Mă Nhi bị bắt.

-Trận Bạch Đằng kết thúc thắng lợi. Cùng lúc này Thoát Hoan phải liều mạng rút chạy về nước.

 

*Ư nghĩa: tiêu diệt ư đồ xâm lược Đại Việt của quân Nguyên ,quân Nguyên từ bỏ mộng xâm lược Đại Việt.

 

 Ư nghĩa lịch sử của ba lần kháng chiến chống Mông – Nguyên:

 -Đập tan ư chí xâm lược của quân thù , bảo vệ độc lập , chủ quyến toàn vẹn lănh thổ.

 -Nâng cao ḷng tự hào, tự cường của dân tộc, củng cố niềm tin cho nhân dân.

 -Xây dựng khối đoàn kết toàn dân.

 -Kế hoạch bành trướng xuống phương Nam và Đông Nam Á bị phá tan.

 

Nối tiếp truyền thống Diên Hồng, B́nh Định Vương Lê Lợi, sau 10 kháng chiến, đánh đuổi giặc nhà Minh ra khỏi bờ cỏi, chấm dứt ách đô hộ Bắc thuộc lần thư 4 ( 1407 - 1427 )

 

 

B̀NH ĐỊNH VƯƠNG LÊ LỢI B̀NH NGÔ

 

B̀NH NGÔ ĐẠI CÁO

 Thay trời hành hoá, hoàng thượng truyền rằng.

Từng nghe:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo

Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đă lâu

Núi sông bờ cơi đă chia

Phong tục Bắc Nam cũng khác

Từ Triệu, Đinh, Lư, Trần bao đời xây nền độc lập

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương

Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau

Song hào kiệt thời nào cũng có.

Vậy nên:

Lưu Cung tham công nên thất bại,

Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong,

Cửa Hàm tử bắt sống Toa Đô

Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mă

Việc xưa xem xét,

Chứng cớ c̣n ghi.

Vừa rồi:

Nhân họ Hồ chính sự phiền hà,

Để trong nước ḷng dân oán hận.

Quân cuồng Minh thừa cơ gây hoạ,

Bọn gian tà bán nước cầu vinh.

Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,

Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.

Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế,

Gây binh kết oán trải hai mươi năm.

Bại nhân nghĩa nát cả đất trời,

Nặng thuế khoá sạch không đầm núi.

Người bị ép xuống biển ḍng lưng ṃ ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng.

Kẻ bị đem vào núi đăi cát t́m vàng, khốn nỗi rừng sâu, nước độc.

Vét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới chăng,

Nhiễu nhân dân, bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.

Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,

Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng.

Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán ;

Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa.

Nặng nề những núi phu phen,

Tan tác cả nghề canh cửi.

Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,

Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi.

Lẽ nào trời đất dung tha,

Ai bảo thần nhân chịu được?

Ta đây:

Núi Lam sơn dấy nghĩa

Chốn hoang dă nương ḿnh

Ngẫm thù lớn há đội trời chung

Căm giặc nước thề không cùng sống

Đau ḷng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời

Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.

Quên ăn v́ giận, sách lược thao suy xét đă tinh,

Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ.

Những trằn trọc trong cơn mộng mị,

Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi

Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,

Chính lúc quân thù đang mạnh.

Lại ngặt v́:

Tuấn kiệt như sao buổi sớm,

Nhân tài như lá mùa thu,

Việc bôn tẩu thiếu kẻ đở đần,

Nơi duy ác hiếm người bàn bạc,

Tấm ḷng cứu nước, vẫn đăm đăm muốn tiến về Đông,

Cỗ xe cầu hiền, thường chăm chắm c̣n dành phía tả.

Thế mà:

Trông người, người càng vắng bóng, mịt mù như nh́n chốn bể khơi.

Tự ta, ta phải dốc ḷng, vội vă hơn cứu người chết đuối.

Phần v́ giận quân thù ngang dọc,

Phần v́ lo vận nước khó khăn,

Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,

Lúc Khôi Huyện quân không một đội.

Trời thử ḷng trao cho mệnh lớn

Ta gắng trí khắc phục gian nan.

Nhân dân bốn cơi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới

Tướng sĩ một ḷng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào.

Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh,

Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều.

Trọn hay:

Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,

Lấy chí nhân để thay cường bạo.

Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,

Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.

Sĩ khí đă hăng

Quân thanh càng mạnh.

Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía,

Lư An, Phương Chính, nín thở cầu thoát thân.

Thừa thắng đuổi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại,

Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô đất cũ thu về.

Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm

Tuỵ Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.

Phúc tâm quân giặc Trần Hiệp đă phải bêu đầu

Mọt gian kẻ thù Lư Lượng cũng đành bỏ mạng.

Vương Thông gỡ thế nguy, mà đám lửa cháy lại càng cháy

Mă Anh cứu trận đánh mà quân ta hăng lại càng hăng.

Bó tay để đợi bại vong, giặc đă trí cùng lực kiệt,

Chẳng đánh mà người chịu khuất, ta đây mưu phạt tâm công.

Tưởng chúng biết lẽ ăn năn nên đă thay ḷng đổi dạ

Ngờ đâu vẫn đương mưu tính lại c̣n chuốc tội gây oan.

Giữ ư kiến một người, gieo vạ cho bao nhiêu kẻ khác,

Tham công danh một lúc, để cười cho tất cả thế gian.

Bởi thế:

Thằng nhăi con Tuyên Đức động binh không ngừng

Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy

Đinh mùi tháng chín, Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại

Năm ấy tháng mười, Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang.

Ta trước đă điều binh thủ hiểm, chặt mũi tiên phong

Sau lại sai tướng chẹn đường, tuyệt nguồn lương thực

Ngày mười tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế

Ngày hai mươi, trận Mă Yên, Liễu Thăng cụt đầu

Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh đại bại tử vong

Ngày hăm tám, thượng thư Lư Khánh cùng kế tự vẫn.

Thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá

Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau

Lại thêm quân bốn mặt vây thành

Hẹn đến giữa tháng mười diệt giặc

Sĩ tốt kén người hùng hổ

Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh

Gươm mài đá, đá núi cũng ṃn

Voi uống nước, nước sông phải cạn.

Đánh một trận, sạch không ḱnh ngạc

Đánh hai trận tan tác chim muông.

Cơn gió to trút sạch lá khô,

Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ.

Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội,

Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng.

Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường

Xương Giang, B́nh Than, máu trôi đỏ nước

Ghê gớm thay! Sắc phong vân phải đổi,

Thảm đạm thay! Ánh nhật nguyệt phải mờ

Bị ta chặn ở Lê Hoa, quân Vân Nam nghi ngờ khiếp vía mà vỡ mật!

Nghe Thăng thua ở Cần Trạm, quân Mộc Thạnh xéo lên nhau chạy để thoát thân.
Suối Lănh Câu, máu chảy thành sông, nước sông nghẹn ngào tiếng khóc

Thành Đan Xá, thây chất thành núi, cỏ nội đầm đ́a máu đen.

Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp,

Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng

Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng

Thần Vũ chẳng giết hại, thể ḷng trời ta mở đường hiếu sinh

Mă Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,

Vương Thông, Mă Anh, phát cho vài ngh́n cỗ ngựa, về đến nước mà vẫn tim đập chân run.

Họ đă tham sống sợ chết mà hoà hiếu thực ḷng

Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.

Chẳng những mưu kế ḱ diệu

Cũng là chưa thấy xưa nay

Xă tắc từ đây vững bền

Giang sơn từ đây đổi mới

Càn khôn bĩ rồi lại thái

Nhật nguyệt hối rồi lại minh

Ngàn năm vết nhục nhă sạch làu

Muôn thuở nền thái b́nh vững chắc

Âu cũng nhờ trời đất tổ tông linh thiêng đă lặng thầm phù trợ;

Than ôi!

Một cỗ nhung y chiến thắng,

Nên công oanh liệt ngàn năm

Bốn phương biển cả thanh b́nh,

Ban chiếu duy tân khắp chốn.

Xa gần bá cáo,

Ai nấy đều hay.

 

Ngày nay, giặc nội xâm hồ tinh hán ngụy việt cọng c̣n bạo ngược, dă man "tự thực dân" khốc liệt c̣n hơn giặc chệt nhà Minh:

 

Vừa rồi:

Nhân họ Hồ chính sự phiền hà,

Để trong nước ḷng dân oán hận.

Quân cuồng Minh thừa cơ gây hoạ,

Bọn gian tà bán nước cầu vinh.

Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,

Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.

Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế,

Gây binh kết oán trải hai mươi năm.

Bại nhân nghĩa nát cả đất trời,

Nặng thuế khoá sạch không đầm núi.

 

Ngày nay, nội gian hán ngụy cấu kết với ngoại xâm tàu cọng thực hiện cuộc "xâm lăng Tàm thực" gặm nhấm, hán hóa lần hồi nước ta c̣n nguy hiểm vạn lần hơn là xâm chiếm bằng binh lực.

 

Hiện tại, 6 tỉnh biên giới và Điện Biên coi như Khu vực Kinh tế Đặc biệt, là "Đặc Khu Kinh Tế" lệ thuộc tàu cọng trên thực tế với khu vực Kinh tế - Tài chánh - Tiền tệ thuộc khu vực Nhân dân tệ chệt.

 

V́ tính chất xâm lăng MỀM bằng kinh tế - xă hội nên nhân dân không nhận biết rạch ṛi.

 

V́ vậy, tất cả giới có hiểu cần phải hết ḷng giải thích, hô hào, khích lệ để đồng bào các giới nhận thức rơ t́nh trạng lâm nguy của Đất Nước mà vùng lên tranh đấu:

 

Toàn dân! Nghe chăng? Sơn Hà nguy biến!

 

 

Nguyễn Nhơn

Cuối Thu 24/11/2018

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính