Rồng Tiên khai quốc - Huyền sử Lạc Việt

 

Nguyễn Nhơn

 

 

Hiện tại bọn phản quốc bán nước cầu vinh việt cọng đang mưu toan xóa nḥa việc học Lịch sử Dân tộc để chúng chuẩn bị thay thế việc học sử Việt sang học sử tàu theo như cam kết trong mật ước Thành Đô và cũng để xóa nḥa Tinh thần Dân tộc v́ chúng lo sợ, một khi tinh thần Dân tộc bất khuất chống tàu xâm lăng trổi dậy, toàn dân Việt sẽ vùng lên quét sạch bọn măi quốc cầu vinh việt cọng ra khỏi cỏi bờ Đất Việt.

 

Để chống lại âm mưu xóa nḥa Lịch sử Dân tộc của loài quỷ đỏ phản quốc, ta cổ vơ toàn dân đọc Sử Việt.

 

HUYỀN SỬ: DI SẢN THIÊNG LIÊNG CỦA DÂN TỘC

 

Huyền sử cũng là lịch sử nhưng rộng hơn nhiều v́ bao quát cả dĩ văng lẫn tương lai, nên có tính cách siêu thời gian. V́ thế những trang huyền sử là quư nhất trong các di sản thiêng liêng của dân tộc một nước.

 

Đó là lời Lương Kim Định một tên tuổi quen thuộc trong giới nghiên cứu Kinh Dịch chúng tôi.

 

Mỗi dân tộc đều có một lịch sử do trời thu xếp gọi là sử mệnh. Nó đă được thích nghi với hoàn cảnh, với khu vực và thường được các bậc hiền triết của mỗi dân tộc thấy trực thị rồi diễn đạt qua những trang huyền sử, ông viết: “Huyền sử cũng là lịch sử nhưng rộng hơn nhiều v́ bao quát cả dĩ văng lẫn tương lai, nên có tính cách siêu thời gian. V́ thế những trang huyền sử là quư nhất trong các di sản thiêng liêng của dân tộc một nước”.

 

Ông kể: “Kinh Dịch là của người Việt v́ tổ tiên chúng ta đă đóng dấu trên nó và hôm nay xin mời các bạn cùng tôi đi nhận lại dấu. Con dấu bị phai mờ không những v́ đă quá lâu mà c̣n v́ đă bị bôi cọ đi do người ăn cắp. Ai ăn cắp? Thưa là Trọng Thủy từ Bắc phương tới. Nhưng sao lại đổ oan như vậy? Thưa là v́ có văn tự tuy đă bị phai nhưng c̣n đọc được như sau: Thần Kim Quy cho An Dương Vương cái vuốt để làm nỏ thần nhờ đó đánh bại được Triệu Đà. Đà biết thế nên sai con là Trọng Thủy cầu hôn con gái An Dương Vương là Mỵ Châu cốt để đánh cắp cái vuốt rùa, và Trọng Thuỷ đă thành công, đánh lừa được Mỵ Châu đổi lấy nỏ thần đem về Bắc, rồi thay vào bằng cái nỏ giả làm vuốt rùa”.

 

Câu truyện này ai cũng biết và thuộc ḷng nhưng không mấy ai nghĩ rằng đó là câu truyện thật đă gây một ảnh hưởng quyết liệt trên sử mệnh nước Việt Nam hơn bất cứ câu truyện nào có chứng tích lịch sử cụ thể. Bởi v́ chúng ta đă không c̣n hồn nước nữa. Cái hồn đó là móng chân kim quy đă bị đánh tráo mất rồi. Bạn sẽ hỏi về số kiếp của cái vuốt rùa Trọng Thủy đă ăn cắp đưa về ra sao, có làm ích chi cho Hán tộc chăng? Thưa rằng không, nó cũng mất luôn với chủ nó. Huyền sử chép rằng “Trọng Thủy hối hận về ác quả nên đă đâm đầu xuống giếng Mỵ Châu mà chết”. Huyền sử lại kể rằng Âu Cơ kết duyên với Lạc Long Quân đẻ ra trăm trứng. Trăm trứng ấy là cái ǵ? Xin thưa đó là Hà Đồ, Lạc Thư. Hà Đồ có 55 điểm tṛn. Lạc Thư có 45, cộng lại là 100 cái ṿng tṛn nên gọi là 100 trứng. Tuy là 100 nhưng cùng nằm trong một bào thai do mẹ Âu Cơ đẻ ra. Mẹ Âu Cơ biểu hiệu quẻ Khôn chỉ cái bụng. “Khôn vi phúc” (phúc là bụng) hay nói cách khác Âu Cơ chỉ nền Minh triết của Dịch lư.

 

Huyền sử kể rằng: Nước Văn Lang chia làm 15 bộ. Con số 15 ấy là để cháu con ghi nhớ ma phương Lạc Thư, gồm 9 lô số mà cộng chiều nào cũng được con số 15. Khi đọc đến những tên Châu Diên (thuộc chim), Việt Thường (vươn tới chỗ Thường Hằng), B́nh Văn (cai trị bằng văn)… th́ chớ nên t́m ở Sơn Tây, Quảng Trị v.v… Đó chỉ là đời sau mượn tên xưa đặt cho đất mới, để làm kỷ niệm, chứ nước Văn Lang không ở đó, đúng hơn, không chỉ có ở miền Bắc Việt mà nó c̣n vươn lên đến bên kia bờ Dương Tử giang. Cũng như chữ Bạch Hạc (kinh đô nước Văn Lang) th́ trước hết phải hiểu là cái tên đó cho ta nhớ Kinh Dịch chép Khôn vận hành trong Tây Nam. Tây sắc trắng (bạch), Nam lông vũ (hạc). Cũng như khi tổ tiên nói hai chữ Lạc Việt th́ (đời sau) phải vươn trí khôn lên tận bờ sông Lạc vùng Lạc Dương th́ mới đạt tầm thước cân xứng với nội dung của huyền sử. V́ huyền sử nước ta đă trải qua nhiều giai đoạn được ghi theo chu kỳ tiên thiên của Kinh Dịch. Hai chữ Giao Chỉ đâu phải là tộc người có hai ngón chân cái châu đầu vào nhau? Kim Định giảng đó là hai nét lớn “chỉ” âm dương giao hội. Quẻ ngoại giao với quẻ nội. Kinh Dịch có 64 quẻ là có 64 chữ Giao Chỉ khác nhau, tức cũng là 64 thứ con dấu của Việt tộc đóng vào. Phải là chủ cũ của nó mới đọc được (những chữ ấy), và chủ cũ của nó tôi bảo là người Việt (LKĐ: Dịch Kinh linh thể).(*)

 

THẦN KIM QUY

 

Sau khi An Dương Vương diệt nước Văn Lang, cải hiệu là Âu Lạc liền cho đắp thành ở đất Việt Thường; thành cứ đắp xong lại sập. Nhà vua rất lo lắng mới lập đàn, trai giới cầu đảo liền ba tháng th́ một hôm bỗng thấy một ông già theo phương tây mà đến thẳng cửa thành, vừa đi vừa than rằng:

- Xây đắp thành này th́ bao giờ cho xong!

 

Nhà vua nghe thế vội rước vào trên điện, lạy và khóc rằng:

- Ta đắp thành này đă xong lại đổ, hao tổn công sức mà rồi không thành là tại làm sao?

 

Ông già thưa:Ngày nào có sứ giả Thanh Giang cùng đắp với Vương th́ thành ấy mới xong. Nói đoạn cáo từ.

 

Rạng ngày, nhà vua đứng ở cửa Đông trông ra th́ thấy một con rùa vàng theo hướng Đông mà bơi lại. Rùa đứng trên mặt nước, nói được tiếng người, tự xưng là Thanh Giang sứ giả, biết rơ lẽ trời đất, âm dương, quỷ thần. Vua mừng, hỏi v́ cớ ǵ mà thành không đắp được. Kim Quy nói:

 

Đó là do tinh khí núi sông vùng này bị con vua trước phụ vào để báo thù nước, nấp ở núi Thất Diệu. Trong núi có con quỷ, đó là người con hát thời trước chôn ở đấy hóa làm quỷ. Cạnh núi có cái quán, chủ quán tên là Ngộ Không, có một đứa con gái và một con gà trắng, đó là dư khí của tinh, phàm người qua lại ngủ đêm ở đấy đều phải chết v́ bị quỷ làm hại. Chúng có thể gọi nhau họp đàn lũ, làm cho sụp thành. Bây giờ ta nên bắt con gà trắng và đứa con gái của chủ quán mà giết đi th́ tinh quái sẽ hết. Nhưng chắc là nó lại hóa ra yêu thư, sai chim cú ngậm thư bay lên trên cây, để tâu với Thượng Đế để xin phá thành ấy đi. Thần này xin cắn cho rơi cái thư ấy xuống, Vương lập tức thu lấy th́ thành đắp mới xong.

 

Vua nghe lời liền đem rùa vàng đến quán ấy, giả làm người ngủ trọ. Chủ quán nói:

- Quán này có yêu tinh, đêm thường giết người. Ngài là quư nhân không nên ở lại, vả nay trời cũng chưa tối, nên đi mau đến chỗ khác để tránh họa

 

Vua cười nói:

- Sống chết có mệnh, ma quỷ làm ǵ nổi? Nói xong rồi ngủ lại quán.

 

Trong đêm có quỷ tinh đến ngoài kêu rằng:

- Ai ở trong nhà này phải mở cửa ra mau.

 

Kim Quy mắng rằng:

- Cửa đóng th́ mày làm ǵ nào?

 

Quỷ tinh biến ra vạn trạng, quỷ dị h́nh hài để khủng bố nhưng rốt cuộc cũng chẳng vào được nhà. Đến lúc gà gáy, các quỷ đều chạy tan, Kim Quy bảo nhà vua đuổi theo đến núi Thất Diệu th́ quỉ tinh biến mất. Nhà vua liền trở lại quán trọ. Sáng ngày, chủ quán đem người đến để chôn thi thể của khách ngủ lại hôm qua, thấy nhà vua vẫn ngồi đó, nói cười như không có ǵ cả. Chủ quán chủ bước đến, vái lạy rằng:

- Quí nhân đúng là thánh nhân rồi, xin ban linh thuật để cứu sinh linh.

 

Nhà vua liền bảo:

- Hăy giết con gà trắng của ngài mà tế th́ quỷ thần tan hết.

 

Chủ quán nghe lời liền mang con gà trắng ra làm thịt, đứa con gái tự nhiên cũng nhào xuống chết. Nhà vua lập tức bảo người đào núi Thất Diệu, được một nhạc khí đời cổ và một hài cốt, sai đốt trộn thành tro mà quăng ra sông. Lúc bấy giờ trời đă gần chiều, nhà vua cùng Rùa Vàng leo lên núi Việt Thường, quỷ tinh đă hóa ra chim ngậm 1 lá thư bay lên cây. Rùa Vàng bèn hóa ra một con chuột mà ḅ theo sau lưng cắn chân chim; thư rơi xuống đất; Vương lập tức thu lấy. Từ đó, quỷ tinh tan hết, không lại phá phách như xưa nữa. An Dương Vương đắp thành nửa tháng đă xong. Thành dài và rộng ngh́n trượng, xoáy tṛn như h́nh con ốc.

 

Kim Quy ở lại với Vương ba năm rồi cáo từ ra về. Vua cảm tạ, hỏi rằng:

- Đội ơn ngài thành đắp đă vững, nếu có giặc ngoài đến, th́ lấy ǵ mà chống giữ ?

 

Rùa vàng bèn rút chiếc móng trao cho vua và nói:

- Nước nhà yên hay nguy đều do số trời, nếu có giặc đến th́ dùng móng thiêng này làm lẫy nỏ, nhằm vào giặc mà bắn th́ không phải lo ǵ. Nói rồi liề trở về Đông Hải.

 

Vua sai bề tôi là Cao Lỗ làm nỏ thần, lấy móng rùa làm lẫy, đặt tên là Linh Quang Kim Trảo Thần Nỏ.

 

Sau Triệu Đà đem quân đến xâm lăng. An Dương Vương sai lính dùng thần nỏ mà bắn, quân Triệu Đà thua chạy, đóng đồn ở núi Trâu Sơn, đối diện vởi quân Âu Lac. Triệu Đà biết nhà vua có nỏ thần nên không dám tái chiến mới khiến sứ thỉnh ḥa. An Dương Vương mừng, cắt từ sông Tiểu Giang trở về phương Bắc cho Triệu Đà cai trị, trở về phương Nam th́ do nhà vua cai trị (nay là sông Nguyệt Đức).(**)

 

LẠC LONG QUÂN VÀ ÂU CƠ

 

Đế Minh cháu ba đời họ Viêm Đế Thần Nông sinh ra Đế Nghi, sau nhân đi tuần về phía Nam đến núi Ngũ Lĩnh lấy được con gái bà Vụ Tiên rồi trở về, sinh ra Lộc Tục. Tục dung mạo đoan chính, thông minh phúc hậu, Đế Minh rất lấy làm lạ, muốn cho nối ngôi ḿnh. Lộc Tục cố từ, xin nhường cho anh. Đế Minh liền lập Nghi làm kẻ nối ngôi. Lại phong Lộc Tục là Kinh Dương Vương để trị đất Nam, lấy hiệu nước là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương có tài đi dưới Thủy Phủ, lấy con gái Long Vương ở hồ Động Đ́nh, sinh ra Sùng Lăm hiệu là Lạc Long Quân, cho nối ngôi trị nước. Kinh Dương Vương không biết đi đâu mất. Lạc Long Quân dạy dân việc cày cấy nông tang, đặt ra các đẳng quân, thần, tôn, ti, các đạo cha con, vợ chồng, đôi khi trở về Thủy Phủ mà trăm họ vẫn yên vui vô sự, không biết do đâu được thế. Hễ dân có việc lại lớn tiếng gọi Long Quân rằng: “Bố ơi! sao không lại cứu chúng tôi”. Long Quân tới ngay, sự linh hiển của Long Quân, người đời không ai lường nổi. Đế Nghi truyền ngôi cho con là Đế Lai, cai trị Bắc phương. Nhân khi thiên hạ vô sự bèn sai quần thần là bọn Xuy Vưu thay ḿnh trông coi quốc sự rồi đi tuần xuống nước Xích Quỷ ở phía Nam. Khi đó, Long Quân đă về Thủy Phủ, trong nước không có chúa. Đế Lai bèn để ái nữ là âu Cơ và các thị tỳ ở lại nơi hành tại rồi đi chu du thiên hạ, ngắm các nơi danh lam thắng cảnh. Thấy hoa kỳ cỏ lạ, trân cầm dị thú, ngọc ngà vàng bạc... các thứ đá quư, các cây trầm, đàn cùng các sơn hào hải vật không thiếu thứ ǵ, khí hậu bốn mùa không lạnh không nóng, Đế Lai rất ái mộ, vui quên trở về. Dân phương Nam khổ v́ bị người Bắc phương quấy nhiễu, không được yên sống như xưa mới cùng gọi Long Quân rằng: “Bố ơi ở đâu mà để cho dân Bắc xâm nhiễu phương dân”.

 

Long Quân đột nhiên trở về, thấy Âu Cơ có dung mạo đẹp đẽ kỳ lạ, trong ḷng vui mừng, bèn hóa thành một trang thiếu niên phong tư tú lệ, tả hữu kẻ hầu người hạ đông đúc, vừa đi vừa ca hát đánh trống. Cung điện tự nhiên dựng lên. âu Cơ vui ḷng theo Long Quân. Long Quân giấu Âu Cơ ở Long Đài. Nham Đế Lai trở về, không thấy Âu Cơ, sai quần thần đi t́m khắp thiên hạ. Long Quân có phép thần thông biến hóa thành trăm h́nh vạn trạng yêu tinh, quỷ sứ, rồng, rắn, hổ, voi... làm cho bọn đi t́m đều sợ hăi không dám sục sạo, Đế Lai bèn phải trở về. Truyền ngôi đến đời Du Vơng, th́ Xuy Vưu làm loạn. Vua nước Hữu Hùng là Hiên Viên đem chư hầu tới đánh nhưng không được. Xuy Vưu ḿnh thú mà nói tiếng người, có sức khỏe dũng mănh. Có người dạy Hiên Viên dùng trống da thú làm lệnh, Xuy Vưu sợ hăi chạy về đất Trác Lộc. Đế Du Vơng xâm lăng chư hầu, cùng Hiên Viên giao binh ở Phản Tuyền đánh ba trận đều bị thua, bị giáng phong ở đất lạc ấp rồi chết ở đó. Gịng họ Thần Nông tới đây th́ hết. Long Quân lấy Âu Cơ rồi đẻ ra một bọc, cho là điềm bất thường, vứt ra cánh đồng; qua sáu bảy ngày, bọc vỡ ra một trăm quả trứng, mỗi trứng nở ra một con trai, mới đem về nhà nuôi. Không phải bú mớm, các con tự lớn lên, trông đẹp đẽ kỳ dị, người nào cũng trí dũng song toàn, người người đều kính trọng cho là triệu phi thường. Long Quân ở lâu dưới Thủy Quốc vợ con thường muốn về đất Bắc.

 

Về tới biên giới, hoàng đế nghe nói rất sợ hăi cho binh ra giữ cửa ải, mẹ con Âu Cơ không thể về được bèn quay về nước Nam mà gọi Long Quân rằng: “Bố ở nơi nào mà để mẹ con tôi cô độc, ngày đêm buồn khổ thế này”. Long Quân bỗng trở về, gặp nhau ở đất Tương. Âu Cơ nói: “Thiếp vốn là người nước Bắc, ở với vua, sinh hạ được trăm con trai, vua bỏ thiếp mà đi, không cùng thiếp nuôi con, làm người vô phu vô phụ, chỉ biết thương ḿnh”. Long Quân nói: “Ta là ṇi rồng, đứng đầu thủy tộc, nàng là giống tiên, sống ở trên đất, tuy khí âm dương hợp lại mà sinh ra con, nhưng thủy hỏa tương khắc, gịng giống bất đồng, khó ở lâu với nhau được, nay phải chia lá. Ta đem năm mươi con về Thủy Phủ chia trị các xứ, năm mươi con theo nàng về ở trên đất, chia nước mà trị. Lên núi, xuống bể, hữu sự báo cho nhau biết, đừng quên”. Trăm con vâng theo, sau đó từ biệt mà đi. Âu Cơ và năm mươi con lên ở đất Phong Châu suy phục lẫn nhau, cùng tôn người con cả lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, lấy tên nước là Văn Lang, đông giáp Nam Hải, tây tới Ba Thục, bắc tới Động Đ́nh hồ, nam tới nước Hồ Tôn (nay là Chiêm Thành). Chia nước làm 15 bộ (c̣n gọi là quận) là Việt Thường, Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải, Hoài Hoan, Cửu Chân, Nhật Nam, Chân Định, Văn Lang, Quế Lâm, Tượng Quận. Chia các em ra cai trị, lại đặt các em làm tướng văn tướng vơ, văn là lạc hầu, vơ là lạc tướng. Con trai vua gọi là quan lang, con gái vua gọi là mỵ nương, trăm quan gọi là bồ chính, thần bộc, nữ lệ gọi là xảo xứng (c̣n gọi là nô tỳ). Bề tôi gọi là hồn, đời đời cha truyền con nối gọi là phụ đạo. Vua đời đời thế tập gọi là Hùng Vương, không hề thay đổi. Lúc ấy, dân sống ở ven rừng, xuống nước đánh cá thường bị giống giao long làm hại, bèn nói với vua. Đáp: “Giống sơn man và giống thủy tộc có thù với nhau, thường ghét nhau cho nên hại nhau đó”. Khiến người đời lấy mực xăm vào ḿnh theo h́nh Long Quân, theo dạng thủy quái. Từ đó, dân không bị tai họa giao long làm hại nữa. Tục xăm ḿnh của dân Bách Việt cũng bắt đầu từ đấy. Hồi quốc sơ, dân không đủ đồ dùng, phải lấy vỏ cây làm áo, dệt cỏ gianh làm chiếu, lấy cốt gạo làm rượu, lấy cây quang lang, cây tung lư làm cơm (có chỗ viết là uống), lấy cầm thú, cá, ba ba làm mắm, lấy rễ gừng làm muối, cầy bằng dao, trồng bằng lửa. Đất sản xuất được nhiều gạo nếp, lấy ống tre mà thổi cơm. Bắc gỗ làm nhà để tránh hổ sói. Cắt tóc ngắn để dễ đi lại trong rừng rú. Đẻ con ra lấy lá chuối lót cho nằm, có người chết th́ giă cối làm lệnh, người lân cận nghe tiếng đến cứu. Chưa có trầu cau, việc hôn thú giữa nam nữ lấy gói đất làm đầu, sau đó mới giết trâu dê làm đồ lễ, lấy cơm nếp để nhập pḥng cùng ăn, sau đó mới thành thân. Đó trăm người con trai chính là tổ tiên của người Bách Việt vậy.(**)

 

 

LỜI NGƯỜI SƯU TẬP

 

Đọc huyền sử Dân tộc, ngẫm nghĩ về t́nh thế Đất nước ngày nay: Bọn giặc cờ đỏ cáo hồ không khác nào công chúa Mỵ Châu mê trai họ Tập phương Bắc, đem hết gia sản tổ tiên trao phó lần hồi cho bọn giặc bành trướng phương Bắc.

 

Bọn hậu duệ cáo hồ ngày nay chính là “Bọn cáo chín đuôi” trong huyền sử Việt:

Hồ tinh

 

Thành Thăng Long xưa hiệu là Long Biên, hồi thượng cổ không có người ở. Vua Thái Tổ nhà Lư chèo thuyền ở bến sông Nhĩ Hà, có hai con rồng dẫn thuyền đi, cho nên đặt tên là Thăng Long rồi đóng đô ở đấy, ngày nay tức là thành Kinh Hoa vậy. Xưa ở phía tây thành có ḥn núi đá nhỏ, phía đông gối lên sông Lô Giang. Trong hang, dưới chân núi, có con cáo trắng chín đuôi sống hơn ngàn năm, có thể hóa thành yêu quái, thành người hoặc thành quỉ đi khắp nhân gian. Thời đó, dưới chân núi Tản Viên, người Mán chôn gỗ kết cỏ làm nhà. Trên núi có vị thần rất linh thiêng, người Mán thường thờ phụng. Thần dạy người Mán trồng lúa, dệt vải làm áo trắng mà mặc cho nên gọi là Bạch Y Man (mán áo trắng).

 

Con cáo chín đuôi biến thành người áo trắng nhập vào giữa đám dân Mán cùng ca hát rồi dụ dỗ trai gái trốn vào trong hang núi. Người Mán rất khổ sở. Long Quân bèn ra lệnh cho lục bộ thủy phủ dâng nước lên công phá hang đá. Cáo chín đuôi bỏ chạy, quân thủy phủ đuổi theo, phá hang bắt cáo mà nuốt ăn. Nơi này trở thành một cái vũng sâu gọi là “đầm xác cáo” (tức Tây Hồ ngày nay). Sau lập miếu (tức Kim Ngưu Tự) để trấn áp yêu quái. Cánh đồng phía Tây Hồ rất bằng phẳng, dân địa phương trồng trọt làm ăn, nay gọi là Hồ Đỗng (hang cáo). Đất ở đây cao ráo, dân làm nhà mà ở nay gọi là Hồ Thôn (thôn Cáo). Chỗ hang cáo xưa, nay gọi là Lỗ Khước Thôn.

 

Ngày nào toàn dân Việt dũng mănh đứng lên noi theo gương tổ tiên Lạc Long Quân “Long Quân bèn ra lệnh cho lục bộ thủy phủ dâng nước lên công phá hang đá. Cáo chín đuôi bỏ chạy, quân thủy phủ đuổi theo, phá hang bắt cáo mà nuốt ăn.” đánh dẹp bọn việt gian Lê Chiêu Thống thời đại ra khỏi bờ cỏi nước Việt, xóa bỏ “16 chữ vàng – 4 tốt” nô lệ bành trướng Bắc phương th́ mới giành lại được nền Độc Lập - Tự Chủ cho Dân tộc.

 

 

Nguyễn Nhơn

(*) Xuân Cang - LĐCT số 28, ngày 10-7-2015

(**) Lĩnh Nam chích quái Wikisource

 


From: Tuan Phong <trantuanphong506@gmail.com>

Subject: RE: Rồng Tiên Khai quốc

 

 

Đặc tính của Rồng Việt là: Uy Dũng và Công Minh

Đặc tính của Tiên Việt là: Hiền Từ và Nhân ái

Gửi bài Rồng Tiên là Học Thuyết Căn Bản của khoa Nhân Văn Việt Tộc để quư vị suy ngẫm.

Thân kính

 

 

De: Chris Nguyen [mailto:nguyenchau2006@gmail.com]

Envoyé: mardi 30 juin 2020 14:33

À: Hoang Thi

Cc: Nhon Nguyen; Tuan Phong; …

Objet: Re: Rồng Tiên Khai quốc

 

Xin gửi một bài về HUYỀN THOẠI để quư vị tham khảo

 

NGÔN NGỮ CỦA HUYỀN THOẠI

 

NGUYỄN-CHÂU

 

 

I/ MỘT HUYỀN THOẠI CHO QUÊ HƯƠNG

 

Trên thế giới, dường như hầu hết các dân tộc đều có một huyền thoại về quê hương ḿnh... Huyền thoại thường có mục đích giải thích về nguồn gốc của sự h́nh thành và phát triển của một đân tộc, một đất nước. Sở đĩ phải dùng huyền thoại để nói về nguồn gốc là v́ lịch sử đă chỉ có khi xă hội loài người đạt đến một tŕnh độ văn hóa, văn minh nào đó. Buổi sơ khai của nhân loại được xếp vào thời tiền sử, thời hồng hoang... mù mờ được mô tả bằng truyền thuyết, thần thoại và huyền sử...

 

Truyền thuyết, thần thoại, huyền thoại là sản phẩm của trí tưởng tượng sáng tạo. Tưởng tượng sáng tạo không phải là những hư cấu hoàn toàn tách rời với thực tế, không phải khởi điểm từ cái không không mà luôn luôn bắt đầu từ một số sự kiện hiện thực rồi theo ước mơ mà vẽ vời thêm...

 

Thật vậy, huyền thoại về nguồn gốc một dân tộc thường tùy thuộc vào hoàn cảnh sinh hoạt thực tiễn rồi thăng hoa theo trí tưởng tưọng sáng tạo của những phần tử ưu tú trong tập thể dân tộc đó. Sự thăng hoa, tô vẽ đều nhằm đề cao ṇi giống và dân tộc của ḿnh.

 

Dân tộc Việt Nam cũng ở trong định luật ấy. Nhưng có một điều khác biệt rất độc đáo, đó là: Huyền thoại về nguồn gốc dân tộc Việt Nam mang những biểu tượng hàm ư đua tranh với một vài dân tộc trong vùng đông nam Á Châu đó là Trung Hoa và Nhật Bản.

 

II/ Ư THỨC ĐỐI KHÁNG TRONG SÁNG TẠO HUYỀN THOẠI RỒNG TIÊN

 

Việt Nam là một quốc gia nhỏ bé bên cạnh Trung Hoa lớn gấp hàng chục lần về diện tích và dân số, Trung Hoa lại là nước luôn luôn có tham vọng gồm thâu các nước lân cận.

 

Khi dựng nên huyền thoại về nguồn gốc dân tộc, người Trung hoa đă tự xưng là Thiên Quốc, nghĩa lâ nước Trời. Đây một huyền thoại mang ư thức tự cao tự đại, v́ Trời là h́nh tượng lớn nhất và ở trên tất cả mọi dân tộc, bao trùm vạn vật!

 

Người Nhật th́ tự nhận là con cháu của Thai Dương Thần nữ, ư nói tổ tiên của người Nhật là Nữ Thần sinh ra Mặt trời, mà Mặt trời là thành tố cần thiết của bầu trời và vũ trụ vạn vật... Mặt trời là chủ của bầu trời.

 

Trung Hoa và Nhật Bản đă tự xưng là “bầu trời” và “mặt trời.” Ṇi giống Việt phải là cái ǵ để khỏi thua kém, khỏi lép vế đối với hai lân bang này? Có lẽ từ ư thức đối kháng tiềm tàng này mà tổ tiên ta đă dựng nên huyền thoại Tiên- Rồng.

Tại sao lại lấy biểu tượng TIÊN và RỒNG? Huyền thoại này có những ư nghĩa tượng trưng sâu xa nào?

 

III/ Ư NGHĨA CỦA HUYỀN THOẠI TIÊN RỒNG

Để hiểu tại sao từ ư thức đối kháng, tổ tiên của dân tộc Việt đă sáng tạo nên chuyện Tiên-Rồng để nói về nguồn gốc của ḿnh, chúng ta cần phân tích đặc điểm và tính chất của hai biểu tượng đă được chọn đó là RỒNG và TIÊN.

 

ĐẶC TÍNH CỦA RỒNG

 

Trước hết, Rồng là một linh vật kết hợp tất cả năng lực của các con vật thượng đẳng trong vũ trụ:

 

1.- M̀NH RỒNG: Thân rắn thuồng luồng, vảy cá chép (cá gáy), đầu kỳ lân, chân đại bàng...

 

2.- NĂNG LỰC VÀ ĐẶC TÍNH: Rồng có khả năng góp mây, hút nước phun mưa che khuất bầu trời và mặt trời. Rồng là loài vừa sống cả trên trời lẫn dưới nước (loài lưỡng thê). Khi rồng nằm yên th́ trời quang biển lặng, nhưng khi Rồng cựa ḿnh th́ “đại hải dậy ba đào”, biển Đông nổi sóng... Rồng vừa biết bay vừa biết bơi lượn dưói nước vừa có thể đi trên bộ bằng chân...

 

Không có một mănh lực nào có thể đối kháng với sức mạnh của Rồng. Đặc biệt là thân Rồng nếu chẳng may bị chặt đứt, rồng vẫn không chết những đoạn đứt sẽ được liền lại (nhờ phép tiên).

 

3.- ĐỊA VỊ CỬA RỒNG TRONG VŨ TRỤ THẦN THOẠI-

 

Linh vật RỒNG này đă xuất hiện và đă có mặt trong hầu hết các huyền thoại, các truyền thuyết Đông phương và Tây phương (chi tiết có khác nhau đôi chút).

 

Người Nhật cho rằng đất nước họ nằm trên lưng một con Khủng Long, khi khủng long cựa ḿnh là đất nước Nhật bị địa chấn... người Trung Hoa th́ cho rằng bốn biển do Tứ hải Long Vương cai trị...

 

Riêng đối với Dân tộc Việt Nam, một dân tộc mà cuộc sống thường gắn bó thắm thiết với quê cha, đất mẹ với vô vàn huyền thoại và truyền kỳ... th́ biểu tượng Rồng mang một giá trị vô cùng lớn lao và thiêng liêng nhưng lại rất gần gũi, rất thân thiết với con người (một số đồ dùng trong nhà có h́nh tượng rồng, vua là rồng: Long thể, long nhan....).

 

NHỮNG Ư NGHĨA TƯỢNG TRƯNG

 

Trước hết, Rồng là biểu tượng của:”Uy vũ bất năng khuất” (không chịu nhượng bộ trước sức mạnh và oai quyền của người khác) cho nên lịch sử Việt Nam là một lịch sử trường kỳ đối kháng với bất kỳ một thế lực ngoại bang hay ngoại lai nào.

 

Thật vậy, nhiều thế lực xâm lăng hùng mạnh trên thế giới khi đụng đến Việt Nam đều đă bị Rồng cựa ḿnh hất xuống chỗ bại vong...( từ Hán, Đường, Tống, Nguyên, Thanh bên Tàu đến Pháp, Anh, Nhật... trong đệ nhất đệ nhị Thế chiến...)

 

Thứ đến, TIÊN là biểu tượng của;

 

a-Vẻ Đẹp tối cao. Tiên là tiêu chuẩn và khuôn mẫu của mọi vẻ đẹp trên trần gian. Người đời thường nói:”Đẹp như Tiên là cùng tột”, không thể cao hơn được!

 

b-T́nh yêu thương dung hóa của người Mẹ

 

c-Sự hiền lành, trái tim từ ái của t́nh thương

 

d-Sự thanh cao, siêu phàm

 

đ- Có quyền phép thiêng liêng để cứu độ..

 

Mẹ của dân tộc Việt Nam là một bà tiên cho nên quê hương Việt Nam là một Đất Nước thần tiên. Từ đó, nếp sống của dân tộc Việt mang nhiều sắc thái liên quan đến những ư nghĩa hàm chứa trong các huyền thoại trong quá tŕnh dựng nước.

 

H́nh như hầu hết các biến cố lớn trong lịch sử Việt Nam đều đi vào huyền thoại. Người ta dựng nên huyền thoại để tranh thủ nhân tâm, đế nâng niu ư thức tự hào dân tộc, để củng cố ư chí, tăng cường nghị lực đấu tranh...

 

Quê hương Việt Nam đă có bao nhiêu huyền thoại cao đẹp như:

 

- Huyền thoại “Dă Tràng”: ư thức thuỷ chung và niềm cảm thông giữa muôn loài.

 

- Sơn Tinh–Thủy Tinh: ư nói sự hờn ghen cá nhân gây tai họa cho muôn loài,

 

- Phù Đổng Thiên vương: ḷng yêu nước thúc đẩy sự trưởng thành và sự hi sinh tuyệt đối v́ đất nước, không kể đến công lao...

 

- Huyền thoại Thần Kim Qui, huyền thoại Thăng Long, huyền thoại hồ Hoàn Kiếm, huyền thoại về Kinh đô Huế, huyền hoại về Trái Tim Trương Chi với “khối t́nh mang xuống tuyền đài chưa tan!”...

 

Và trong lịch sử hiện đại, cũng đă có người đă dựng nên huyền thoại nhằm mục đích huyễn hoặc nhân dân v́ những tham vọng riêng tư của phe nhóm. Số phận của những huyền thoại này, khi mây mù huyển hoặc tan biến, các nhân vật được thần thánh hóa đă lộ nguyên h́nh tầm thường nhân thế th́ sẽ bị lịch sử phán xét một cách thẳng thắn, bộ lốt huyền thoại sẽ bị bóc đi. [Cụ thể là các huyền thoại mà Hồ Chí Minh tự tạo nên cho bản thân ḿnh rồi viết thành sách kư tên giả là Trần Dân Tiên (cuốn: “Cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chủ Tịch”) và huyền thoại do các nhóm Cộng sản, nhóm thiên tả và phản chiến tạo ra để tôn vinh Hồ Chí Minh ố Huyền thoại “Bác Hồ v́ bận lo việc nước mà không lập gia đ́nh” đă bị lịch sử Trung Hoa, Nga, Pháp phá vỡ tan tành khi họ công bố lễ cưới Tăng Tuyết Minh và Lư Thụy, cùng một số giấy tờ hôn thú khác của Nguyễn Ái Quốc khi ở Pháp và Nga...]

 

Kinh nghiệm cho thấy: những nhân vật được huyền thoại hóa nhằm mục đích cao quư và vị tha, họ thường tự xóa ḿnh đi một cách khá thần kỳ bí ẩn, sau khi đă hoàn thành sứ mệnh giúp nước cứu đời...

 

Huyền Thoại Phù Đổng (Thánh Gióng)

 

Nguyên tắc “Công Thành Thân Thoái” đă làm cho nhiều bậc anh hùng lịch sử đi vào huyền sử, được nhân dân đời đời ca ngợi và tôn thờ. Do đó, các đấng chân anh hùng Á Đông xưa đều đă đến với nhân dân, với Tổ Quốc, với dân tộc một cách thần kỳ rồi ra đi... nhẹ nhàng, thanh thản, không vướng bận công danh mà Phù Đổng Thiên Vương... là một gương sáng: “Sau khi dẹp được giặc Ân, Thánh Gióng (tức Phù Đổng) phi ngựa đến núi Vệ Linh, trèo lên cây đa mà bay về trời...” (Sách: Việt Điện U Linh Tập - của Lư Tế Xuyên).

 

Từ một cậu bé làng Phù Đổng, tục gọi là làng Gióng, “lên ba tuổi mà vẫn không biết nói, không biết ngồi, chỉ nằm trơ trơ...”, nhưng đến khi nghe loa vua báo tổ quốc lâm nguy, th́ bỗng cất tiếng đ̣i gọi sứ giả vào, cậu bé t́nh nguyện “cỡi ngựa sắt, đội nón sắt, cầm roi sắt” để đánh tan giặc Ân...” Rồi kịp khi giặc tràn vào bờ cơi, đứa trẻ bỗng lớn mau như thổi, vươn vai đứng lên thành người cao lớn phi thường”...

 

Thánh Gióng đă đến, rồi đi một cách thần kỳ: Từ “KHÔNG” đến “CÓ”, rồi từ CÓ một cách hiên ngang lẫm liệt chấn động trời, người, lại trở về “KHÔNG”! Vị anh hùng cứu nước này không hề nhắc đến hai chữ CÔNG, ƠN! Và dưới chân núi Sóc Sơn chỉ c̣n lại dấu chân ngựa của Thánh Gióng trên đường về Trời (!)...Giặc đă tan. Phù Đổng biến! Dấu chân ngựa sắt cũng sẽ phai mờ... Vậy cái ǵ c̣n lại trong kư ức nhân dân? Cái mà dân tộc đời đời ghi nhơ,Ô đó là tấm ḷng yêu nước, thương dân, là ư chí quật cường của Phù Đổng, của ṇi giống Rồng Tiên.

 

Huyền Thoại Trả Lại Kiếm (Hoàn Kiếm)

 

Huyền thọai về Hồ Hoàn Kiếm kể rằng: “Lê Lợi đánh cá ở hồ Lục Thủy, gần sông Hồng, một hôm kéo lưới vớt được một thanh kiếm quí. Gặp lúc nước nhà bị quân Minh đô hộ, Lê Lợi nghĩ rằng:”Đại trượng phu phải giúp nước lúc gặp nạn, lập nên công lớn chứ lại chịu đi làm đầy tớ người ngoài ư?”. Rồi ông quy tụ anh hào, chiêu mộ quân binh các nơi, tựu nghĩa ở núi Chí Linh, làng Lam Sơn, tỉnh Thanh Hóa (ngày nay) quyết chí khôi phục giang sơn. Và sau “mười năm nếm mật nằm gai vào sinh ra tử” cùng với nghĩa quân, Lê Lợi đă đuổi được giậc nhà Minh đem lại Tự chủ và no ấm cho dân tộc. Sau khi lên ngôi, một hôm Lê Thái tổ ngự thuyền dạo chơi trên hồ Tả Vọng, bỗng thấy một con rùa nỗi lên mặt nước, ngài cầm thanh kiếm chỉ xuống, con rùa liền đớp lấy rồi lặn mất... Do tích này, hồ Tả Vọng được đổi tên là hồ Hoàn Kiếm (có ư nghĩa là trả lại thanh kiếm đă cho mượn năm xưa để dẹp giặc!).

Một thoại khác kể rằng:”Vua Lê Thái tổ sau khi thắng giặc Minh, dời đô về Thăng Long, trong lúc làm lễ tạ ơn Thủy Thần đă dâng kiếm báu cho ngài dẹp giặc, thanh kiếm bỗng tuột ra khỏi vỏ bay vút lên không trung, sáng ḷa thành một con rồng xanh bay lượn, rồi đâm thẳng xuống ho,ả nhập vào lưng một con rùa nổi lên trên mặt nước. Trong chốc lát, con rùa sáng xanh lên như ngọc bích rồi lặn mất, cùng một lúc hoa sen trên hồ nở ngát hương thơm...”

 

Thông điệp từ huyền thoại Hoàn Kiếm nhắc nhở vua Lê rằng: “Đă thắng giặc Minh rồi th́ phải trả lại thanh kiếm, phải thu kiếm lại để lo kiến thiết, lo chấn hưng kinh tế cho dân giàu nước mạnh. Kiếm là vũ khí để giết giặc chứ không phải để trị dân. Chỉ một ḿnh thanh kiếm không thể nào trị an dược thiên hạ, phải có thêm tấm ḷng yêu nước và v́ dân.

 

THÔNG ĐIỆP TỪ HUYỀN THOẠI TIÊN RỒNG

 

Những mẩu chuyện thần thọai có tính chất hoang đường trên đây không phải chỉ được dựng nên để kể lại cho vui mà thôi, suy gẫm sâu xa một chút, chúng ta có thể thấy ngay là tổ tiên dân tộc Việt đă có những gửi gắm thầm lặng... qua các huyền thoại cũng như các truyện cổ tích.

 

Thật vậy, Thông điệp từ huyền thọại Phù Đổng nhắc nhở chúng ta rằng: Bổn phận con dân đối với đất nước, trong tư thế “LÀM-NGƯỜI-Ở-ĐỜI” luôn luôn phải tôn trọng cái trật tự nhân sinh muôn thuở, đó là: trên có Trời, dưới có Đất, giữa có Cha Mẹ, họ hàng, làng xóm và Vua, Quan...

 

Vua, quan theo đúng nghĩa của nó chỉ là người giữ vai tṛ lănh đạo làm những việc ích lợi thuận theo ḷng dân mà thôi, chứ không có nghĩa là một lănh tụ độc tôn bắt buộc mọi người phải sùng bái cá nhân ḿnh, phục dịch cá nhân lănh tụ!

 

Thật vậy, trong sách của Nho giáo, loại sách thường bị xem như là lư thuyết chủ đạo của chế độ phong kiến, đă ghi rơ rằng: Vua là Thiên Tử đại diện Trời để cai trị nhân dân. Vua là con Trời nên phải làm theo lư của Trời (thiên lư).

 

Một ông vua sáng suốt phải làm việc “thuận thiên lư”. Các đệ tử Khổng Mạnh khi thắc mắc “thiên lư nằm ở đâu?” đă được khẳng định như sau: “Thiên lư tại nhân tâm”: Lẽ Trời ở nơi ḷng người. Như vậy, “thuận ḷng người tức là hợp với lẽ Trời”. Điểm này cho thấy: Nhân dân luôn luôn là yếu tố quyết định mọi công việc của vua quan!

 

Gốc của Thánh Gióng là Thiên Tướng, được phái xuống giúp vua để đáp ứng nguyện vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt, nhưng Thánh Gióng đă thác sinh vào một gia đ́nh dân thường, chỉ thích ăn cơm với cà muối, uống nước sông mà đánh thắng giặc Ân! Cơm, cà muối, nước sông... là lương thực căn bản và cơ hữu của dân ta, không cần phải đi vay mượn của kẻ khác cho mang nợ về sau! Các chiến cụ mà cậu bé làng Gióng yêu cầu đều bằng sắt! Đây không phải là một “ngôn ngữ t́nh cờ” mà có hàm ư. Thật vậy, trong tiềm thức dân tộc ta, ư niệm và ảnh tượng về SẮT luôn luôn biểu trưng cho sự bền vững, rắn chắc và đắc dụng. “Sắt và son” là hai chất liệu thường gắn bó với nhau. “Ḷng son, ngựa sắt!”. Nón sắt đội trên đầu, phải chăng là biểu tượng tính chất nặng nề của sứ mệnh cứu nước an dân! Xong sứ mệnh, Phù Đổng biến đi! Phải chăng đây là lời nhắn nhủ rằng:”Cứu nứớc là bổn phận của người dân không nên đặt vấn đề công lao, ơn nghĩa cá nhân, không kể công, không đ̣i hỏi đền đáp!” Thật thâm thúy!

 

Huyền thoại “Nhận gươm và Trả gươm” [Hoàn Kiếm] là một Thông điệp nhắn nhủ rằng: Thanh gươm là khí giới, là phương tiện để chống ngoại xâm, để trừ kẻ dấy loạn. Thắng giặc thù rồi th́ phải treo kiếm, phải trả lại gươm để lo việc kinh bang tế thế, nghĩa là lo làm kinh tế để cho dân được sống an vui, đất nước phú cường, gươm giáo là vũ khí để trừ giặc chứ không phải để trị dân ḿnh, một ḿnh thanh gươm không thể giữ yên được thiên hạ!

Ôi! Đẹp biết bao! Tan giặc Ân, Phù Đổng vể trời! Hết giặc Minh, người anh hùng Lam Sơn hoàn lại kiếm báu để lo tổ chức sản xuất nông nghiệp và các ngành khác...

 

Trên thế giới,ngoại trừ nước Mỹ và Úc Đại Lợi, có lẽ dân tộc nào cũng có một huyền thoại về nguồn gốc của ḿnh. Phần lớn các huyền thoại về sự h́nh thành ṇi giống đều nhằm mục đích đề cao “ḷng tự tôn dân tộc”, riêng Việt Nam ngoài mục đích trên, huyền thoại Rồng-Tiên c̣n mang theo một thông điệp với ư nghĩa rất thiết tha mà tiền nhân muốn nhắn gởi cho giống ṇi Hồng Lạc: Với biểu tượng “Trăm con cùng một bọc” hoặc “Trăm trứng nở ra trăm con”, “Năm mươi con lên núi cao, năm mươi con xuống biển đông”... huyền thoại Tiên-Rồng đă nhắc nhở dân tộc ta rằng:”Dù có khác nhau ở lớp vỏ, nhưng tất cả đều cùng một mẹ cha, cùng một huyết thống” cho nên “dù kẻ trên rừng, người dưới biển” tuy khác nhau về nơi chốn, nhưng vốn cùng một mẹ cha!” Đây chính là ư nghĩa tṛn đầy nhất của hai tiếng “Đồng Bào”, có nghĩa là “cùng một ruột” mà ra... Đă là anh em cùng một ruột, con cháu Rồng-Tiên phải nhớ lời nhắn nhủ cúa tổ tiên, để thương yêu, để đùm bọc lẫn nhau, để cùng nhau chung sức xây dựng lại nước nhà... để mong đền bù lại khoảng thời gian hơn 45 năm qua, do sự mù quáng và tham vọng độc tôn của một số người quên cội nguồn, chối bỏ huyền thoại, chạy theo những thế lực ngoại lai, tôn thờ chủ thuyết cộng sản phi nhân, đă đưa dân tộc đến cảnh “gà nhà bôi mặt đá nhau”, làm cho những đứa con cùng một mẹ “d́u nhau vào một cuộc chiến tương tàn khốc liệt”...

 

Nhân Ngày kỷ niệm Quốc Tổ Hùng Vương, xin nguyện cầu: Mọi con dân Việt Nam hăy dọn ḷng tiếp nhận thông điệp thiết tha từ những Huyền Thoại trên quê hương, để cùng điều chỉnh tư duy về hướng dung thông, cởi bỏ hận thù do ngu tối, tham vọng, và tự ái. Hăy xả mê đồ độc tôn chủ nghĩa, để Tổ Quốc đủ cơ duyên tiến lên đường hưng thịnh... Đó là cách tốt đẹp nhất để biết ơn Quốc Tổ Hùng Vương...

  

 

On Tue, Jun 30, 2020 at 1:09 AM Hoang Thi <hoangthi2@yahoo.com> wrote:

Chân thành cảm ơn  Nhóm Tuấn Phong vế bài viết có giá trị có tác dụng

 mở rộng kiến thức này;

Hoàng Thị

 

On Tuesday, June 30, 2020, 12:10:48 AM GMT+2, Tuan Phong

trantuanphong506@gmail.com> wrote:

 

 

Xin gửi quỳ vị NHO TÂY một đóng góp quư báu:

Biết th́ thưa thốt, không biết th́ dựa cột mà nghe.

 

Nói chung th́ Huyền Thoại ở khắp thế giới là bản văn xuôi được lồng vào Huyền Thoại để lưu truyền kinh nghiệm cho con cháu bằng bia miệng: Phần huyền thoại được dùng để lưu truyền cho hậu thế nên phải làm sao để ai ai cũng muốn nghe và muốn kể lại cho con cháu. Thông điệp là triết lư câu chuyện nên cần phải giải mă ;

 

Riêng chuyện Rồng Tiên là 2 ông Phạm Lăi và Văn Chủng nặn óc ra để dựng chuyện khuyên con cháu về quan niệm sống của dân nông nghiệp trong Việt Giáo+Việt Đạo+Việt Triết = Việt Lực. Nó tóm tớm trận đánh của Câu Tiễn giết Phù Sai rồi sát nhập người Ngô vào với người Việt từ bọc 100 trứng nở 100 con thành 100 giống ; nhưng cùng chung một ḍng máu Lạc Long. Đó là & nghĩa của danh từ Đồng Bào.

 

Từ đây mới có câu ca dao: Bàu (người Ngô) ơi! thương lấy Bí (nguời Việt) cùng. Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn (lănh thổ Nam Việt dưới triều Triệu Đà) ; nếu không kết hợp th́ sẽ mất với bọn Tàu Nhà Chu.

 

Từ danh từ Đồng Bào mới đẻ ra:

·       Cách xưng hô trong vai vế gia đ́nh mà chúng ta đang dùng. Trong cách xưng hô có nói về Văn Hóa và Văn Minh dân Việt khác với dân Tàu, ăn cơm phải mời nhau, trên ăn trước, dưới động đũa sau léă cả một nền Văn Hóa Thuần Việt biểu tượng của sự tôn ti, gắn bó và đùm bọc nhau (lá lành đùm lá rách.

·       Bách Việt là 100 giống Việt chứ không phải 100 nước Việt.

·       50con (Binh Đoàn) theo mẹ lên núi, 50 con (Binh Đoàn) theo cha ra biển nói lên h́nh ảnh: B́nh đẳng b́nh quyền (nam/nữ), tinh thần tự lực tự cường trong thế Liên Hoàn Tiếp Ứng và Việt Triết trong đấu tranh Tự Vệ: Trong lúc đấu tranh th́ « Cương quyết tiêu diệt kẻ thù » không nhân nhượng, nhưng không được quyền trả thù hay truy kích (Uy Dũng của Rồng). Sau khi chiến thắng th́ lấy Nhân Hậu của Tiên để đối xử với kẻ thù là: Động Lượng và bao dong với kẻ thù để lấy ân trả oán th́ oán tiêu tan ; lấy oán báo oán th́ oán oán chập chùng.

 

Quư vị nghiền ngẫm bài đính kèm th́ sẽ thấy nhiều điều hay của tổ tiên dạy bảo chứ không phải là chuyện hoang đường nói cho vui đâu.

 

Rồng Tiên là Học Thuyết Căn Bản của khoa học làm người Việt tốt, biết sống cho ḿnh và sống cho người.

 

Ai lạc hồn dân Việt, tâm tư bất an, tinh thần thác loạn th́ lại càng phải nghiền ngẫm kỷ hơn, đọc 1 lần chưa hiểu th́ đọc đi đọc lại sẽ hiểu.

Như chữ Con Rồng Cháu Tiên là chỉ ông Lạc Long Quân có Mẹ là Rồng bà nội là Tiên nên hấp thụ được cả 2 tinh anh của Rồng (Uy Dũng và Công Minh) và của Tiên (Nhân Hậu) ; chứ đâu có phải là chỉ chúng ta đâu.

Có ai nhớ chăng: Sắc thái dân Việt là màu vàng của tơ tầm nên… Quốc Kỳ bắt buộc phải mang nền Vàng để nói rằng: Toàn dân Việt làm chủ nước Việt… Cờ Quẻ Ly nói lên: Nước Nam của người Việt Nam

 

Chúng ta mất nước ch́ v́ lạc hồn dânViệt nên mới đấu tranh khảng tảng mỗi người một kiểu, chăng ai giống ai cả.

 

Thân Kính

Nhóm Trần Tuấn Phong

(cơn gió mát quét sạch bụi trần để người dân được hít thở bàu không khí tự do do chính họ xây dựng và bảo vệ. Đó là thông điệp Rồng Tiên: Tự Lực Tự Cường, Tự Trọng và Cầu Tiến)

 

 

 

De: Hoang Thi [mailto:hoangthi2@yahoo.com]

Envoyé: lundi 29 juin 2020 18:32

À: Nhon Nguyen

Cc: Alice Hà; …

Objet: Huy hiệu CPPĐVNCH

 

 

Ngày xưa, Huy hiệu Việt Nam Cộng Ḥa

Cặp Rồng Vàng chầu Quốc Kỳ tượng trưng Tổ Quốc

Đó là Rồng Vàng Lạc Việt Con Rồng cháu Tiên

Đừng lấp lững lấy rồng đen “pháp định “ đánh tráo

láo láo láo

 

Nguyễn Nhơn

 

 

Con rồng in trên một số văn kiện của Chính Phủ Pháp Định VNCH mang màu xanh đậm

 ( xin vui ḷng xem lại ) chứ không phải  màu đen. Từ sự vô t́nh hay cố ư” nh́n sai “ này 

rồi từ đấy  b́nh “ loạn” con rồng đen và ám chỉ vu khống CPPĐ một cách trơ tráo, đúng là 

“ láo, láo, láo”, từ ngữ của chính tác giả Nguyễn Nhơn vậy! 

 

Cũng nhân dịp này, xin góp ư với  bạn bảo rằng:

-” Con Rồng,cháu Tiên là chuyện hoang tưởng, dùng con rồng làm gi”.

Con Rồng, cháu Tiên là một huyền sử đă in sâu vào tâm tưởng của một phần lớn của dân tộc

 ta từ ngàn đời.

Nhiếu dân tộc rất văn minh vẫn có và tôn trọng huyền sử của họ.

Huyền sử vẫn ở bên cạnh lịch sử, không phải là một vấn đề phải bỏ công tranh luận.

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính