Phe thứ ba xỏ lá – phe Việt cộng đào vong báng bổ

 

 

Kể từ ngày “chị” đại xú Tét ô xúc vi hạ quận Cam dơng dạc ngôn: “Mỹ không có kế hoạch thay đổi chế dộ vi xi”, phe dựa Mỹ “diễn biến huề b́nh”, dân chủ hóa tiệm tiến, diễn nôm là cải cách từ từ để tránh “đổ máu, tàn phá”, bèn thôi, hết c̣n cổ cồn, cà vạt, kéo lại tà đại xứ Mỹ thiết tŕnh, hội thảo về Tự do, Dân chủ, Nhân quyền!

 

Các nhà dân chủ trong nước từ Hà sĩ phu trở xuống bèn vở mộng thở than: Phe dân chủ ta (kẹt) ở giữa Mỹ và việt cọng!

 

Những người Quốc gia chống cọng (cực đoan, quá khích) không ngớt kêu gào, cảnh giác: Có chiến đấu “ giải trừ toán trị vc “ th́ làm, bằng không th́ tiếp tục sống đời nô lệ, “trí thức giá áo, túi cơm”, chớ c̣n thỏa hiệp, hợp tác với sói lang vc để đối lập, đối cuội, diễn biến huề b́nh có Mỹ bảo kê là “non venir ̣u”, diễn nôm là không đi tới đâu!

 

Bây giờ sự thể đúng y như vậy: Mỹ sẳn sàng liên minh với việt cọng để bao vây chệt cọng chớ c̣n thể chế chánh trị là việc nội bộ của nước việt cọng th́ để đảng và nhà nước việt cọng lo chớ không mắc mớ ǵ tới Mỹ!

 

Sự thể đến nước như thế mà tàn dư “trung lập chế” phe thứ ba bên xứ Tây mủi lơ de Gaulle vẫn chưa chịu mở mắt vẫn c̣n nơ mồm xỏ là kềnh và đám việt cọng đào vong ra hải ngoại vẫn c̣n lên giọng báng bổ VNCH th́ thật là hết nước nói. C'est fini l'eau dire!

 

 

TÀN DƯ PHE THỨ BA XỎ LÁ KỀNH

 

Trong bài “ Cái dở của lực lượng thứ ba “, tác giả Phạm Hồng Sơn viết:

Ông Nguyễn Ngọc Giao, một trí thức miền Nam ủng hộ miền Bắc cộng sản, tức thuộc “lực lượng thứ ba” thời Việt Nam Cộng Ḥa, vừa kể lại một chi tiết nhỏ liên quan tới chuyện đi “học tập cải tạo” của một viên chức Việt Nam Cộng Ḥa sau ngày 30/4. Ông Giao thuật rằng người tù khi trở về đă trả lời người con về chuyện đối xử trong tù cộng sản thế này:

Bỏ qua đi. Nếu bên ḿnh thắng, có lẽ đối xử với bên kia c̣n tệ hơn”.

 

. Người như ông Nguyễn Ngọc Giao chắc chắn phải biết và trực nghiệm nhiều hơn các sự kiện, đặc tính khoan dung, đa nguyên, nhân bản của Việt Nam Cộng Ḥa như vừa kể. V́ vậy, nếu thực sự nhân vật đă có đánh giá như ông Giao viết, th́ một người trí thức hiểu biết về Việt Nam Cộng Ḥa và lại thường bày tỏ yêu mến tự do, dân chủ như ông Giao lẽ nào có thể thuật lại một cách vô tâm đến vậy? Nhất là trong t́nh trạng đất nước hiện nay?

 

Nhưng theo tôi, cái dở của họ không phải họ là người được sống trong thể chế văn minh (hơn) của miền Nam lại đi ủng hộ miền Bắc cộng sản. Bởi, sai lầm này dẫu quá đớn đau cho dân tộc cũng thường thôi nếu nh́n kỹ hơn về bản tính dân tộc và về bản thể con người. Cái dở của họ không phải là các hoạt động xă hội hiện nay của họ quá rụt rè so với thời Sài G̣n dẫu cái Ác hiện nay ác gấp nhiều lần trước. Bởi ai cũng chỉ có một thời sung sức nhất định. Cái dở của họ cũng không phải chuyện chưa xin lỗi dân tộc v́ đă (vô t́nh) tiếp tay phá bỏ một chế độ văn minh hơn. Bởi Elton John đă viết: “Xin lỗi” h́nh như là từ khó nói nhất.

 

Cái dở, cái tồi của “lực lượng thứ ba” là đến tận hôm nay vẫn có người cố t́nh biện bạch cho sai lầm của bản thân bằng những cách tinh vi, nhưng thiếu lư tính.

.....................

 

Nhưng mà thử hỏi cái nhà ông thử 3 Nguyễn Ngọc Giao đó là ai?

 

Đọc giả Trần Thị Hải Ư tiết lộ:

 

Ông Nguyễn Ngọc Giao báo Diễn Đàn – Forum là dân parisien từ ít nhất 50 năm qua, chắc chắn ông phải nằm ḷng câu thành ngữ này của Pháp “Avec des Si, on mettrait Paris dans une bouteille / Với những chữ Nếu, người ta nhét cả Paris vào trong một cái chai”.


Theo chỗ HY em biết (qua lời ông ngoại), Nguyễn Ngọc Giao từ Sài G̣n qua Pháp du học từ đầu thập niên 1960. Sau 1975, MTGP bị bức tử, một số “trí thức Việt kiều yêu nước” bất măn (thời Nguyễn Khắc Viện, linh mục Nguyễn Đ́nh Thi), do đó tách ra lập nhóm Diễn Đàn (báo giấy, thời MacIntosh SE mới ra đời). Trong thập niên 80 Nguyễn Ngọc Giao từng bị cấm về VN.


Nh́n chung, nhóm Diễn Đàn ('dissidents' của tờ Đoàn Kết Paris, trực thuộc ĐSQ việt cộng) đều thuộc tạng nhầm đường, lạc lối trong lập trường chính trị và thay v́ nhận lỗi hoặc nín thinh, sám hối và hưởng tuổi già th́ khi có dịp lại xàng xê mập mờ ngụy biện.

 

Đáng lư ra với nhận xét ngắn gọn của Hải Ư như trên cũng đủ vạch trần hành vi xỏ lá kềnh của tên ngọc hành Giao ăn cháo đái bát đủ rồi, nhưng gă nhà quê xứ Thủ c̣n ấm ức ba chiện:

Một là ngọc hoàn Giao ta gốc từ VNCH nuôi dưỡng cho xuất ngoại du học rồi ở lại trốn lính trong khi tuổi trẻ trang lứa đổ máu chống giặc cọng cho nó ắn học tử tế bên Tây mà giờ đây sự thật phơi bày lồ lộ, bàng dân thiên hạ đều biết bọn vc bạc ác bất nhơn lẽ nào mà nó vẫn c̣n dối trá nói lời xỏ lá lưu manh.

 

Hai là bọn cửa giữa chúng nó lợi dụng thế hợp pháp công khai phá nhà VNCH từ trong phá ra c̣n tệ hại hơn cả bọn vc nằm vùng lại không biết tự sỉ mà c̣n lên giọng cầu cao. Nội việc trí trá lưu manh ấn vào miệng thân phụ của “ đồng chí “ đại ca Trần Hạnh câu nói vô căn cớ, nói là do Trần Hạnh thuật lại cho Giao nghe mà cả hai ngày nay đều khuất núi không c̣n ai xác nhận được, nghĩa là ngọc hành Giao ta phịa ra không c̣n ai bảo chứng.

 

Ba là câu nói của hung thần vc hồi kết Nguyễn Hộ: “ Nhà ngụy ta chiếm, con ngụy ta sai, vợ ngụy ta xài, chồng ngụy đày đi rừng thiêng nước độc “.

 

Vậy thử hỏi c̣n ǵ bạc ác, bất nhơn hơn nếu như phe Miền Nam giả định thắng trận làm?!

 

Chó đẻ ba ngày đă mở mắt. Bọn phe thứ ba cửa giữa 40 năm rồi vẫn chưa mở mắt!

 

Phe thứ 3 đốn mạt là như thế. Giờ tới phe việt cọng đào vong giở giọng côn đồ báng bổ.

 

 

VIỆT CỌNG ĐÀO VONG BÁNG BỔ

 

Mấy ngày nay công luận ồn ào v́ câu viết mất dạy của tên việt cọng đào vong Lê diễu Đứt từ Ba Lan trôi giạt qua Houston, Mỹ quốc, con cái ăn nên làm ra mà vẫn giở giọng du côn báng bổ Quân lực VNCH: “ “Tôi không hề có ư khinh rẻ VNCH, mà chỉ sử dụng một số từ mang tính hài hước, giễu cợt như “vũ khí xềnh xàng”, “chạy chí chết” (mà thực tế như thế) nhằm so sánh với cái “chiến khu” vớ vẩn của Mặt trận Hoàng Cơ Minh”.

 

Thực tế là diễu Đứt t́nh trạng cũng hao hao như ngọc hành Giao, cũng diễu dở như ngọc hành Giao. Nếu như Giao là VNCH phản chủ th́ diễu Đứt cũng là việt cọng đào vong, được vc cho di Ba Lan học rồi ở lại để khỏi về vượt Trường Sơn đánh Mỹ kíu nước.

 

Ngày nay chạy sang tới xứ “đế quốc Mỹ” cũng học đ̣i đôi câu dân chủ. Nhưng những khi cao hứng, hoặc bị khích động, bản chất du côn, trịch thượng cọng sản vẫn hiển lộ.

 

“Vũ khí xềng xàng?” Nói vậy là chửi cha Mỹ quốc, nơi tên vc đào tỵ đang náu thân. Vũ khí Mỹ trang bị cho QLVNCH mà xềnh xàng ư? Đồ xỏ lá!

 

“ Chạy chí chết? “ “ An Lộc địa, sử ghi chiến tích. Biệt cách dù vị quốc vong thân! “. Ba sư đoàn cọng sản phủ vây một chiến đoàn VNCH vẫn kiên cường tử thủ và chiến thắng địch quân vc. Cờ bay oai hùng trên cổ thành Quảng Trị và 3 sư đoàn vc bị đánh bại tháo chạy về Bắc.

 

30 tháng tư 1975, bị bỏ rơi, chiến đấu trong tuyệt vọng vẫn kiên cường chiến đấu, chỉ buông súng theo quân lịnh của tên tổng tư lịnh bất xứng, bất hợp hiến.

Nếu chạy chí chết th́ không có sự trả thù trả oán với cả triệu Dân – Quân – Cán – Chánh VNCH bị bắt đi đày khắp rừng sâu, núi thẩm, từ núi rừng Việt Bắc tới tận mủi Cà Mau.

 

Sách có chữ: “ Cốt khỉ hườn cốt khỉ “. “ việt cọng dối trá, lưu manh hườn việt cọng dối trá, lưu manh.”

 

Đó là lư do v́ sao phải rạch ṛi làn ranh Quốc – cọng, phân biệt rơ ràng giữa chánh nghĩa Quốc gia và gian tà việt cọng để khỏi nhập nhằng đánh lận con đen, để cho tà quyền việt cọng thừa cơ kéo dài ách độc tài toàn trị.

 

 

Nguyễn Nhơn

-----------------------------------------

 

Phụ đính bài viết cũ để cho những ai c̣n mơ hồ về sự ác độc, gian trá của tà quyền việt cọng đọc và suy gẫm.

 

 

CÁC KIỂU ĐI TÙ XĂ NGHĨA

 

Nh́n tấm h́nh chị Bùi Minh Hằng, nét mặt uất ức, đau buồn, dang đôi tay kêu chào đồng bạn biểu t́nh, ngậm ngùi nhớ lại thân phận ḿnh ngày trước! “ Ngày xưa ấy...” không phải “ những khi trăng mờ lối đi....” thơ mộng mà là khi ta đi tù “vi xi”, mệnh danh mỹ miều là đi “học tập.” Đừng tưởng rằng đi học tập ở trường “cách mạng” là dễ. Nội chuyện làm “thủ tục” vô học cũng là gian nan lắm!

 

THỦ TỤC NHẬP HỌC

 

Đây là Ty An Ninh. Ngồi trước mặt là Trưởng ban Điều tra Mười Dũng. Thằng cha nhỏ thó mà tiếng to ong óng. Nó hất hàm hỏi: Đi tŕnh diện hả? Tôi chẳng nói chẳng rằng, lẳng lặng móc bóp, lấy ra hai tấm thẻ. Một là thẻ Hành sự do Bộ Nội Vụ cấp, ghi rơ chức vụ. Thẻ kia là Chứng chỉ Tại ngủ ghi: Trung Úy Trừ bị Biệt phái Ngoại ngạch. Nó xem rồi, lắc đầu, chê bai, “chế độ mấy anh thật là kỳ dị,Trung úy chỉ huy cấp Tá!” Tui chẳng đặng đừng, cải: Hổng phải, tui biệt phái ngọai ngạch. Nó coi bộ chẳng biết biệt phái ngoại ngạch là giống ǵ nên ậm ừ, mần thinh, kéo học tủ lấy tấm giấy và cây viết, biểu: Anh chép mẩu tờ khai. Và tui chép. Xong, nó biểu: Đem về nhà khai cho kỷ, sáng mai đem lại nạp.

 

Cái tờ khai của Ủy ban Quân quản Cách (cái) mạng nầy quả thiệt là không giống ai. Thế thường, tờ khai là khai lư lịch và quá tŕnh hoạt động của đương sự thôi. Đàng nầy, trên là lư lịch và quá tŕnh hoạt động của cha mẹ. Dưới là lư lịch và quá tŕnh hoạt động của vợ, con. Cho nên về sau, anh em ta kháu nhau, “khai báo cả Tam, Tứ đại” là đúng lư.

 

Cái dzụ khai báo nầy dài lắm xin nhảy lớp để khỏi nhắc lại những chi tiết tủi nhục, đau ḷng!

 

NHẬP HỌC

 

Thông cáo của Ủy ban Quản huấn Quân khu 7 (Miền Đông Nam phần) ấn định ngày đầu tiên tŕnh diện đi học tập là ngày 25/6/1975. Thời gian hoc tập là một tháng cho sĩ quan cấp Tá và tương đương. Mười lăm ngày cho cấp Úy và tương đương. Nhà tôi bàn, mùa mưa tới rồi, thôi, đi học sớm, về sớm. Trưa ngày 25/6/75, sau khi cơm nước xong, bà xă lấy ra cái túi xách, xếp vô hai bộ đồ, chép miệng biểu: Đi học một tháng, hai bộ đồ để thay đổi cũng đủ rồi. Tui cũng bỏ vô đây một típ Optalidon và chai dầu xanh pḥng khi cảm lạnh, nhức đầu. Thôi ông sửa soạn ra Trường Ngô Quyền tŕnh diện, “Đi sớm, về sớm!” Một bên vai, bó mền chiếu, một bên vai túi quần áo, gă chồng trẻ cất bước ra đi, không ḷng nào ngoái đầu nh́n lại!

 

Lớp học Trường Ngô Quyền rộng, lơ thơ mươi móng “ chuẩn học viên “ già, mỗi người ngồi một góc ủ rủ, đăm chiêu. Tôi đứng tựa cửa, bập điếu thuốc, nh́n mông lung. Trời về chiều, mây đen giăng mắc, “ người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ!”

 

Chặp tối mới có chiếc GMC đến. Mười mấy mạng được lùa lên. Xe vừa lăn bánh, mưa rơi lấm tấm. Chưa mặc xong chiếc áo mưa dă thấy xe quẹo vô … cổng Trại tù Tân Hiệp.

 

Dăy pḥng giam dài tăm tắp, mọi người lặng lẽ trải chiếu nằm. Đêm đầu tiên trong tù thật thê lương! Ngoài trời mưa rơi tí tách, trong ḷng nghe như giọt vắn, giọt dài. Anh em phần đông là người địa phương có ít nhiều danh giá. Chỉ đầu hôm sớm mai, cách mạng, đổi đời xộ khám, nghĩ cũng thảm.

 

TRƯỜNG HỌC TẬP CẢI TẠO NGỤY QUÂN NGỤY QUYỀN

 

Thằng chúa ngục tên là Ba Phán, danh xưng là Giám hiệu cái trường ôn dịch ghi trên. Nó vốn là Trung úy Phi công nội tuyến vc, bị cho nằm ấp ở khám Tân Hiệp nầy cũng lâu trước khi được phỏng giái cho ra làm chúa ngục tại chỗ. Bọn nó, vc nằm vùng từ khám, xổ lồng ra. Anh em quân, cán, chính VNCH thua trận vào, kêu là “đổi đời” thời cũng phải. Câu đầu tiên nó nói, “ Cách mạng không có bỏ tù ai. Đây là trường học tập, cải tạo. Các anh là “cải tạo viên,” chớ không phải tù. Ai kêu là tù, tôi đưa qua khu tù biệt giam, cùm cho biết.”

 

Chương tŕnh học gồm vơn vẹn 6 bài học. Bài số một kêu nghe rôm rốp: Đất nước ta giàu đẹp. Dân tộc ta anh hùng. Học viên già lần đọc, chuyện cổ tích Hai Bà Trưng, Bà Triệu dẫn tới bọn súc sinh già hồ, xác ướp chưa chôn. Bốn bài giữa lâu gần 40 năm, quên mất. Bài cuối cùng cái tựa dài nhằng, không dám chắc đúng, hoặc do tui chế ra cũng chưa chừng, rằng: Cách mạng đánh đâu, thắng đó, đánh nhỏ, thắng to. Ta nhất định thắng, địch nhất định thua!

 

Bài học thi đơn sơ vài trang. Bài làm, mỹ danh “Thu hoạch”, thực tế là tờ khai báo tội t́nh suốt quá tŕnh “ phản cách mạng”, kẻ ít người nhiều năm, kê ra cả xấp giấy. Anh nào cậy văn hay, chữ tốt, viết cho cố vô, những tưởng rằng đái tội, lập công, chẳng ngờ rằng nó vừa đánh vần vừa đọc, chữ tác thành chữ tộ, nó hỏi lại chi tiết, giải thích hổng trôi, vậy là … cùm, v́ khai báo láo!

 

Nhưng mà rốt rồi, 6,7 trăm mạng làm final exam đều pass. Mản khóa lư thuyết, rồi tới thực hành.

 

TRẠI LAO ĐỘNG KHỔ SAI

 

Buổi sáng mùa hè, trời nóng nực, Phó tỉnh B́nh Dương ta cởi trần trùng trục, ngang lưng quấn chiếc khăn rằn, mốt du kích thời kháng chiến chống Tây. Tui với nó, hai thằng dân B́nh Dương, xứ Thủ chánh gốc bà lang trọc. Nhưng mà từ nhỏ chí lớn chỉ biết cầm cây viết. Lần đầu tiên hai chàng thư sinh cầm cuốc, cuốc đất quê nhà xứ Thủ, B́nh Dương cứng như “ làng tôi nghèo, đất cày lên sỏi đá.” Thằng Vinh sức vóc, cuốc xuống được vài phân. Thằng Nhơn ṛm, giang cù lừ cuốc xuống...bụi văng mù mịt. Thằng du kích thấy vậy chửi rùm. Nhưng mà cũng c̣n đở hơn anh Sáu Thanh, bào đệ tướng Đỗ Cao Trí. Anh đi đánh giặc bị thương, ruột đứt một khúc. Lại thêm trái tim lắt lẽo cheo leo. Anh cuốc một hồi té lăn ra xỉu! Nó không thương mà c̣n chửi, “ Đồ làm biếng, ăn mập thây, mới cuốc mấy cuốc nằm lăn ra đó, ăn vạ!?”

 

Thôi, cuốc đất không đặng th́ đi dẩy cỏ. Cỏ nói đây không phải thứ thường mà là thứ dữ: Cỏ băi ḿn căn cứ hỏa lực Nhà Đỏ của Mỹ ngày trước. Mới dẩy được vài cuốc, bỗng anh bạn dứng phía sau la: Anh Nhơn đứng yên, không được nhúc nhít. Biết là có chiện nên dứng như trời trồng. Bạn mới từ tốn bảo: Nh́n xuống gót chưn! Ôi thôi! Ba cái chia ḿn cá nhân PM23 giương lên ngạo nghễ. Gă tù tui cũng hồn bất phụ thể! Bạn mới dặn ḍ: Anh nhắc chân cao lên, bước lùi lại. Vậy là thoát chết.

 

May, trời c̣n thương! Gở sạch băi ḿn mà không nỗ trái nào. Ba mươi lăm mạng, đội biệt lập Khu B, Nhà Đỏ c̣n nguyên vẹn.

 

Gở ḿn giỏi cho nên nó mới xua vô khu rừng chồi, bị B52 thả bom trải thảm, phát quang. Thuở nhỏ, vẫn thường được khen là thằng có linh tánh mà không biết ra sao? Lần nầy là rơ mặt: Vừa giơ dao phát lên, bỗng nghe ớn xương sống, dạ bần dùng. Con dao giữ ở tư thế giương cao, mắt trao tráo ḍ t́m. Trên buội lùm, trái bom bi nằm vắt vẻo. Ruột bom bi tṛn như trái quưt, nhưng vơ ngụy trang như trái khế cũng màu xanh tiệp với lá cây rừng. Mắt b́nh thường chắc không nh́n thấy. Giờ thấy đây chắc là do linh tính chớ không phải mắt nh́n? Sợ lắm nên chỉ ú ớ kêu: Bom bi! Đây là lần thứ hai hú hồn, hú vía.

 

Hết bom tới ḿn, giờ tới súc. Một bửa, ruột đau quặn thắt nên được cho nghỉ bịnh. Bất đồ được lịnh tập trung đi lấy súc trên rừng Phú Giáo. Thằng du kích vừa bắn carbin M2 răn rắc vừa hô: Thằng nào làm biếng không chịu khiêng cây đâu? Bảy thằng tù bịnh hoăng hốt xáp vô khiêng. Mạnh ai nấy làm không lấy đúng thế, khúc cây vừa to vừa nặng rớt đùng. Bóc một tiếng, anh Lê Văn Xê, Phó Ty Thuế vụ B́nh Dương vở sọ qui thiên!

 

Thảm thương nhiều chỉ kể bấy nhiêu!

 

TRÊN ĐƯỜNG RA BẮC

 

Là tui nhận lớp những ngày tháng gieo neo trên Z30(?) Gia Ray, dưới chân núi Chứa Chang, Xuân Lộc.

 

Ngày 6 tháng 12 năm 1976, từ khám Thủ Đức, bác già Đại tá Hồ Đắc Trung,Cựu Tỉnh trưởng/ Dân biểu Tây Ninh và tui lần đầu tiên nếm mùi dây xích xă nghĩa. Tay công an từ ngoài Bắc vô Nam lănh tù, hô: Anh nầy, anh nầy, một cặp đưa tay ra. Thay v́ c̣ng số 8 Smith&Vesson th́ đây là dây xích xă nghĩa xù x́. Một già, một trẻ xích tay vô một cặp, xua lên xe camion chở ra Tân Cảng.

 

Chiếc tàu đưa khách viễn du tên là Hồng Hà, thật ra là chiếc Trực Lệ hay Nhật Tảo của Việt Nam Thương Tín cải danh. Nó chở than đá từ ngoài Bắc vô, rồi chở tù Miền Nam ra Bắc. Đừng tưởng rằng Miền Bắc hào hiệp, chi viện than đá cho miền Nam mới phỏng giái. Đây là trao đổi, một đổi lời gấp năm ba: Một tàu than đá đổi mấy cabin bột ngọt, sửa đặc Ông Thọ và ḿ gói Vifon (?).

 

Hai ngàn tù Miền Nam bị nhồi nhét vào hai khoan tàu như bầy súc vật. Ra đi khi trời vừa sáng. Màn đêm buông xuống, tàu ra tới biển. Đèn đuốc lập ḷe, bỗng nh́n thấy phía trước mặt, một vị dáng vẻ khác thường, xung quanh ḿnh dường như phát sáng. Hỏi ra mới biết là đức Giám mục Nguyễn Văn Thuận. Anh em công giáo lần lượt ḅ lại, lặng lẽ sờ tay lên chiếc nhẩn phép Giám mục. Tôi cũng bắt chước, ḅ lại thăm hỏi: Làm sao mà họ bắt Cha đi đày như vầy? Cha hiền từ đáp: Th́ ḿnh hữu thần. Họ vô thần, bắt ḿnh đi đày, đâu có chi lạ! Nh́n lại bàn tay Đức Cha th́ thấy chiếc nhẩn làm bằng thiếc thô sơ, biết là chiếc nhẩn thụ phong, chúng tước đoạt mất rồi!

 

Ba ngày, ba đêm lênh đênh trên biển cả, đói khát, vật vờ. Có anh bị lao, sóng vùi, gió vập một hồi, thổ huyết lai láng. Bạn tù cỏng lên, cỏng xuống, lắc la, lắc lẽo! Rốt rồi, tàu cũng cặp vô Băi Cháy, Hải Pḥng.

 

TRÊN ĐỈNH HOÀNG LIÊN SƠN

 

Tên cúng cơm của nơi đến là: Trung Tâm Cải Tạo Trung Ương Số 1 Lào Cai. Đây là nơi ngày xưa giam nhốt những người làm cách mạng chống Pháp, nỗi tiếng là rừng thiêng, nước độc. Bước đến nơi đây lúc nửa đêm về sáng, đèn đuốc lập ḷe. Cảnh trí âm u như địa ngục A Tỳ! Tiết đông hàn, giá buốt căm căm. Sau ba ngày được cho nghỉ ngơi cho lại sức, sáng ngày thứ tư, tù tập họp nghe Giám Thị trưởng, Thiếu tá Đặng Thín Thuần dặn ḍ: Thôi, quên chuyện cực khổ trên tàu Hồng Hà đi để yên tâm lao động! Vậy là đi cuốc đất trồng củ ḿ. Trời rét buốt căm căm, băng đèo, vượt suối, tới ngọn đồi trọc. Cả đội dàn hàng ngang từ dưới cuốc lên. Theo kỷ thuật thâm canh, tăng vụ xă nghĩa, mỗi hóc ḿ vuông vức 4 tấc, sâu 3 tấc. Bỏ cành lá xuống, phủ đất vài ngày cho hoải mới bỏ hom ḿ xuống. Làm như vậy, hom ḿ mới bắt rễ nổi v́ đất cứng như đá chớ chẩng phải kỷ thuật xă nghĩa giống ǵ. Tiêu chuẩn cho mỗi người, một buổi là 90 lỗ. Gă tù tôi cầm cuốc, run lập cập, cuốc măi mà vẫn lẹt đẹt phía sau xa. Cậu cai tù gốc người sắc tộc, xem ra tử tế, lắc đầu biểu: Anh cuốc như vậy tới Tết chưa xong. Thôi, chạy đi gom chà, đốt lửa cho anh em nghỉ giữa buổi sưởi cho đỡ lạnh.

 

Trời càng về chiều càng thêm giá buốt, sương mù giăng mắc, gió thổi ù ù. Cám cảnh sanh t́nh, tự đặt tên ngọn đồi nầy là “Đỉnh Gió Hú.” Đoạn đường về, bước đi thất thểu , âm thầm như oan hồn vất vưởng!

 

Ban đầu trại c̣n một ít dự trữ nên c̣n chút ít cơm độn ngô xay. Về sau chỉ c̣n ngô xay ṛng. Rồi xoay ra bo bo Mông cổ. Hết bo bo rồi tới củ ḿ chặt cục. Xoay tới, xoay lui, đói vẫn hoàn đói. Đúng là đói mờ mắt mà vẫn lao động nhọc nhằn. Nào là vác đất sét nung gạch, nào lên núi vác cây, vác nứa, trồng cuốc đủ nghề. Đói đến nỗi có bận trại cho đào cũ chuối kho muối cho tù ăn. Chỉ một năm, đêm 29 Tết 1977, bác già Hồ Đắc Trung đau thắt ruột, cho chở đi bệnh viện Lào Cai cấp cứu. Người tù ra đi biền biệt măi không về!

Vậy đó, cuộc đời tù trên đỉnh Hoàng Liên Sơn là như vậy đó!

 

DƯỚI CHÂN RẶNG HOÀNG LIÊN

 

Tháng 6 năm 1978 là đủ 3 năm trấn thủ lưu đồn, gọi là “học tập cải tạo”, theo thông cáo 9 điểm của MTDTGPMN trước khi giải tán, là măn hạn. Tù được lịnh tập trung di chuyển, nhưng không phải cho d́a mà là hạ sơn xuống chân rặng Hoàng Liên ở tù tiếp.

 

Rời đỉnh Hoàng Liên trong đêm hè mưa rơi tầm tả. Trưa ngày hôm sau, băng qua Thị xă Vĩnh Yên. Đến bến Ấm Thượng lúc trời xế bóng. Vượt Sông Hồng, dổ bộ lên Bến Ngọc vào lúc chiều tà. Khói cơm chiều nhà ai lơ lững trên mái rạ trông thiệt nhớ nhà! Đằng trước mặt, nẽo ṃn lẫn khuất trong tăm tối, mịt mùng. Ḷng người tù khoắc khoải, đêm nay biết về đâu?

 

TRẠI TÂN LẬP, VĨNH PHÚ

 

K3 Tân lập là phân trại nhỏ. Lùa vô đây lũ tù tân đáo độ 300. Pḥng giam là những gian nhà lợp lá cói lụp xụp. Giữa pḥng, ngọn đèn đêm le lói, thân xác rả rời, ḷng thê lương. Trại nầy vốn là trại tù h́nh sự địa phương mới được cải danh thành trại trung ương nên lương thực dự trữ không có.

 

DỊCH CHẾT ĐÓI: Sao gọi là dịch chết đói? Bởi v́ chết đói tràn lan như chết dịch! Anh Hóa (hay Quá (lứ) người Việt gốc Hoa, mấy bửa nay có triệu chứng như bị bịnh tả, nghĩa là ăn trên, ra dưới. Cũng có khi vừa ăn vô là thổ ra. Pḥng tôi đối diện pḥng anh. Chiều bửa trước c̣n thấy anh ngồi thở dốc trước cửa pḥng. Sáng hôm sau đă thấy bạn tù bồng anh bỏ vô “sáu tấm” đem đi! Riêng ở K3, nối đuôi theo anh Hóa chừng chục mạng. Các K khác nghe nói nhiều hơn, nhất là K1, K2. Chết đến nỗi thấu tai Bộ Nội Vụ, phải cử phái đoàn y tế xuống điều tra. Kết luận là chết v́ “ Suy Dinh Dưỡng “?! Chữ nghĩa y khoa xă nghĩa nghe thiệt là hay.

 

NGÀN DẶM THĂM CHỒNG

 

Vác đất sét nung gạch được chừng ba tháng. Thân gầy, đói, từ hầm sâu lặt lè vác nặng bước lên, đường trơn trợt té lên, té xuống như cơm bửa. May, được chuyển qua K5, sung vào đội Rau Xanh, nghĩa là trở lại nghề cuốc đất. Thời gian lững lờ trôi, trôi bằng bặc tính ra được hơn hai năm. Từ ngày ra Bắc đến nay đă bốn năm dư. Ngày ấy, bỗng nhiên được lịnh chuẩn bị ra gặp mặt vợ hiền. Tiểu tựa: Ngàn dặm thăm chồng không phải là ví von mà là c̣n hơn sự thật, bởi nhà từ tỉnh Biên Ḥa, xuống ga B́nh Triệu, chầu chực qua đêm mới lên được tàu hỏa Thống nhất viển du ra Bắc. Từ Saigon ra Hà Nội đường xa 1,772 Km, tức là đă trên ngàn dặm. Từ ga Hàng Cỏ mẹ và đứa con út 12 tuổi dắt díu nhau lên xe lửa Lào Cai, đổ xuống ga Ấm Thượng, gồng gánh đồ đạc xuống đ̣ ngang sang Sông Hồng, măi vào Bến Ngọc. Đổ bộ, vượt Dốc Phục Linh cao ngất nghễu rồi mới vào xóm A Mai, tới trại. Đúng là:

Trèo đèo, vượt suối, sang sông

Gánh gạo nuôi chồng nước mắt rơi rơi

 

Cảnh vợ chồng ngâu gặp mặt nhau sau hơn bốn năm cách biệt mới thật là thảm! Chiếc bàn tiếp tân thiệt dài, ngồi hai bên được hơn mười cặp vợ chồng tù. Chiếc bàn lại rất rộng, chồng ngồi một bên, vợ bên kia, cách gần hai tầm tay với. Cả hai đàng phải vươn hết tầm tay mới lần được tay nhau. Ngồi ngay đầu bàn, trên ghế cao giống như trọng tài đấu tennis là ông “chỉ biết c̣n đảng, c̣n ḿnh” mắt ḍm lom lom theo dỏi. Cho nên bao niềm thương nhớ đành nuốt vào gan ruột, không nói nên lời! Chỉ biết lần t́m tay nhau, “mặt nh́n mặt, cầm tay, bâng khuâng không nói một câu...”. Đành phải hỏi nghiêm trang việc con cái học hành, lao động tốt cho đúng nội qui, không thôi buổi viếng thăm bị cúp! Thảm hơn hết là: Ngàn dặm t́m chồng, trèo đèo, vượt suối, sang sông để chỉ được nh́n mặt nhau trong mười lăm phút phù du!

 

TÙ XƯA GẪM TÙ NAY

 

Đâu phải đợi đến khi chị Minh Hằng vào “cơ sở giáo dục” Thanh Hà mới biết việc “đi học tập” bằng “quyết định hành chánh”, không bản án. Ngày xưa ấy, dưới chân rặng Hoàng Liên đă thấy biết rồi. Khoảng giữa đường từ Bến Ngọc vào trại tù Tân Lập là “Trường Dạy Nghề Thiếu Nhi” cũng giống như “Cơ sở giáo dục” dành cho người lớn hiện nay. Có điều học viên người lớn chừng như may mắn hơn các cháu nhỏ thiếu nhi ngày ấy, bởi v́ trường của các cháu cũng có một ḷ gạch đồ sộ. Cứ tưởng tượng các cháu nhỏ tuổi mười lăm, mười ba, thân h́nh c̣m cỏi, vác khối đất sét nặng như người lớn, lên xuống hầm sâu trơn trợt ngả té ngày ngày th́ mới thấy thật là thương.

 

C̣n việc thăm nuôi thời cũng như vậy. Thời ấy, người tù Miền Nam, mỗi 6 tháng, thường khi dài hơn, mới nhận được một gói quà 5 kí từ gia đ́nh gởi. Không ít anh em thủy chung không nhận được gói quà nào, bèn xưng là “con bà phước.” nghĩa là mồ côi.

 

Ngày nay, chị Minh Hằng được con gặp mặt, tiếp tế hằng tháng đă là quí hóa rồi. Lại c̣n thấy mặt bạn bè dẩu là từ xa vẫy gọi. Riêng LS. Hà Vũ c̣n được cặp tay hiền nội, thong dong đi lại trong trại tù, lại c̣n thong dong họa h́nh tặng nội nhân nữa mới thật là bay bướm.

 

Chót hết là vấn đề quan trọng tử sinh: Thời hạn ở tù. Ngày xưa, anh em chúng tôi khổ sai trong vô vọng v́ không biết ngày nào mới thóat kiếp đoạn trường! Ngày nay dù 24 tháng hay 7 năm vẫn là hạn kỳ nhất định.

V́ vậy, cho nên mới có:

 

ĐÔI LỜI NHẮN GỞI

 

Đâu phải viết bài nầy để tả oán về kiếp tù đày thuở trước bởi v́ chuyện ngày xưa ấy đă trôi qua từ ngót 40 năm, thế kỷ trước rồi. Cũng không phải để suy b́ ǵ về t́nh cảnh tù đày ngày trước, ngày nay.

 

Đây là tâm t́nh để nhắn gởi các bạn trẻ hiện nay đang dấn thân tranh đấu! Các bạn coi đó, ngày xưa, chúng tôi cũng bằng tuổi các bạn ngày nay, chỉ v́ thua trận lâm cảnh tù đày. Gian nan lắm, nhưng bằng ư chí và ḷng kiên nhẫn, rốt rồi cũng vượt qua được. C̣n như ngày nay, các bạn tự nguyện tranh đấu v́ nghĩa lớn dân tộc th́ dẫu có sa cơ, lâm ṿng lao lư th́ vẫn là niềm hănh diện của tuổi trẻ. Huống chi t́nh h́nh đất nước ngày nay tiềm phục biết bao đột biến. Vậy th́ cứ hăng hái tiến lên. Ngày xưa những anh hùng áo vải Quang Trung, Lê Lợi dấy nghĩa làm nên sự nghiệp. Ngày nay, lớp trẻ nối nghiệp cha, ông quyết chí đạp đổ cường quyền, không phải v́ ước mơ công hầu khanh tướng mà chỉ v́ cứu nước, cứu dân mới thật là hào hùng, cương liệt.

 

Ngày nay, tôi chỉ trông cậy vào giới trẻ “chiến đấu” bằng tấm ḷng trong trắng, hào hiệp xứng danh HÀO KIỆT.

 

 

Nguyễn Nhơn

 

 

QUÀ CHO ANH

Từ ngày nhận được thư Anh

Đắn đo lo lắng, ba cân phần quà.

Thêm vào rồi lại bớt ra,

Món nào ấp ủ t́nh xa đậm đà.

Gởi Anh đôi bốt Bốt Bata,

Ấm chân vững bước đạp chà gốc gai.

Gởi Anh bánh thuốc rê cay,

Đốt ư thức hệ thành mây phiêu bồng.

Đốt giai cấp đốt Hồ ngông,

Lênin, Các Mác theo gịng khói tuông.

Gởi Anh bánh tổ đổ khuôn,

Bền ḷng chặc dạ, giữ đường kiên trung

Bao nhiêu đau đớn hăi hung

Xin Anh hăy nhớ Em chung mối sầu.

Gởi anh chiếc nón phết dầu

Che mưa, đở nắng, làm gàu, làm thau

Gởi anh đường cát trắng phau

Dịu niềm cay đắng, nâng cao tinh thần.

Gởi Anh tập giấy trắng ngần,

Gởi niềm tâm sự lời gần ư xa.

Gởi Anh chiếc áo bà ba,

Quê hương nhuộm đỏ cửa nhà nát tan.

Gởi thêm Anh chiếc áo hàn,

Đông về ấp lạnh hè sang gối đầu.

Gởi thêm mấy chiếc khăn hầu,

Lót vai gánh nặng quấn đầu trời sương.

Muối vừng muối xă thêm đường,

Mặn ṃi t́nh nghĩa yêu thương ngọt ngào.

Đậu tương một hủ thêm vào,

Anh em thân ái yêu nhau kiếp tù.

Thương Anh thêm lọ dầu cù,

 Nhức đầu, trúng gió, đêm thu một ḿnh

Ba cân đă đủ vừa xinh,

Thư ḿnh Em thế tấm h́nh vợ con,

Nhắn Anh c̣n nước c̣n non,

C̣n t́nh c̣n nghĩa ta c̣n gặp nhau.

 

B̀NH DƯƠNG

Nguyễn thị Ngoan

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính