Nhân đọc "Mùng 5 Tết Giỗ trận Đống Đa" của Trần Quán Niệm

 

Nguyễn Nhơn

 

 

Thiên hạ có khi đang ngủ cả

Tội ǵ mà thức một ḿnh ta? (1)

Trước khi rời khỏi Ta Bà

Cũng xin ghi lại chút quà làm duyên

Trong ḍng lịch sử triền miên

Tiền nhân từng lập rất nhiều chiến công

Có ai c̣n nhớ hay không?

 

Em đọc sử Việt - Đại Việt 12 lần đại thắng giặc Tàu xâm lăng

 

Ḷng Yêu nước chống tàu xâm lăng

Được rèn lyện từ thuở ấu thơ

Năm năm mỗi lần nghe hè tới

Tiếng ve sầu rả rít bên song cửa lớp

Bông điệp già đỏ ối rơi đầy sân trường

Ḷng trẻ thơ náo nức bôn chôn

Trông cho mau tới ngày Băi Trường

Để xem các chị diễn kịch

Hai Bà Trung khởi nghĩa

Đánh giặc Tô Định

liệng mũ quăng hia

chạy về tàu

Để xem các anh diễn

Hội nghị Diên Hồng

“Toàn dân nghe chăng?

Sơn hà nguy biến …!

V́ vậy mà tuổi trẻ

Miền Nam VNCH

ngày trước

có ḷng yêu nước nồng nàn

Khi Quốc Gia nguy biến

“Chàng tuổi trẻ vốn gịng hào kiệt

Xếp bút nghiêng theo việc binh đao

Giả nhà đeo bức chiến bào

Thét roi cầu Vị ào ào ó câu”

Đổ máu chiến đấu

giữ cho Miền Nam

yêu dấu

không bị bọn nô lệ tàu

nhuộm đỏ

Đồng bào Miền Nam

được Tự Do – No ấm

21 năm

 

Hiện tại bọn phản quốc bán nước cầu vinh việt cọng đang mưu toan xóa nḥa việc học Lịch sử Dân tộc để chúng chuẩn bị thay thế việc học sử Việt sang học sử tàu theo như cam kết trong mật ước Thành Đô và cũng để xóa nḥa Tinh thần Dân tộc v́ chúng lo sợ, một khi tinh thần Dân tộc bất khuất chống tàu xâm lăng trổi dậy, toàn dân Việt sẽ vùng lên quét sạch bọn măi quốc cầu vinh việt cọng ra khỏi cỏi bờ Đất Việt.

 

Để chống lại âm mưu xóa nḥa Lịch sử Dân tộc của loài quỷ đỏ phản quốc, ta cổ vơ toàn dân đọc Sử Việt.

 

 

LẦN THỨ NHẤT

 

Phù đổng Thiên vương đại thắng giặc nhà Ân

Sáu đời Hùng vận vừa suy, 

Vũ Ninh có giặc mới đi cầu tài, 

Làng Phù Đổng có một người, 

Sinh ra chẳng nói, chẳng cười trơ trơ. 

Những ngờ oan trái bao giờ.

Nào hay thần tướng đợi chờ phong vân. 

Nghe vua cầu tướng ra quân, 

Thoắt ngồi, thoắt nói muôn phần khích ngang. 

Lời thưa mẹ, dạ cần vương. 

Lấy trung làm hiếu một đường phân minh. 

Sứ về tâu trước thiên đ́nh, 

Gươm vàng, ngựa sắt đề binh tiến vào. 

Trận mây theo ngọn cờ đào,

Ra uy sấm sét, nửa chiều giặc tan. 

Áo nhung cởi lại Linh San, 

Thoắt đà thoát nợ trần hoàn lên tiên. 

Miếu đ́nh c̣n dầu cố viên, 

Chẳng hay chuyện cũ lưu truyền có không?

 

 

LẦN THỨ HAI

 

VIỆT LẠC ĐÁNH BẠI GIẶC TẦN XÂM LĂNG

 

Năm 214 ttl, Tần Thủy Hoàng, vị vua đầu tiên của Tàu, sai tướng Đồ Thư kéo 50 vạn quân xâm lăng vùng đất Việt Lạc. Nay thuộc tỉnh Hồ Nam, Quảng Tây, Quảng Đông. Đây là đoàn quân tinh nhuệ vừa giúp Tần Thủy Hoàng đánh chiếm sáu nước và thành lập nước Trung Hoa.

 

Chiến tranh Việt-Tần là cuộc kháng chiến chống nhà Tần mở rộng về phía nam của các bộ tộc Bách Việtphân bố ở Bắc Bộ Việt Namvà miền Nam Trung Quốc hiện nay, trong thời kỳ nhà Tần mới thống nhất được Trung Quốc (cuối thế kỷ 3 TCN).

 

Cuộc chiến chia thành hai giai đoạn:

Giai đoạn 1: quân Tần thắng thế, mở mang đất đai thêm 3 quận mới. Các tộc Mân Việt, Đông Việt, Nam Việt... bị đánh bại và dần bị đồng hóa.

 

Giai đoạn 2: khi tiến sâu xuống phía nam, quân Tần bị người Âu Việt chống trả mạnh và thất bại nặng nề.

 

 

LẦN THỨ 3

 

HAI BÀ TRƯNG DIỆT GIẶC ĐÔNG HÁN DỰNG NỀN ĐỘC LẬP

 

Đường ca lâu đă vắng lời,

Đến như Tô Định là người chí hung.

Bà Trưng quê ở châu Phong,

Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên.

Chị em nặng một lời nguyền,

Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân.

Ngàn Tây nổi áng phong trần,

Ầm ầm binh mă xuống gần Long biên.

Hồng quần nhẹ bước chinh yên,

Đuổi ngay Tô Định dẹp tan biên thành.

Đô kỳ đóng cơi Mê Linh,

Lĩnh nam riêng một triều đ́nh nước ta.

Ba thu gánh vác sơn hà,

Một là báo phục, hai là bá vương.

 

 

LẦN THỨ 4

 

LƯ NAM ĐẾ ĐÁNH ĐUỔI GIẶC LƯƠNG DỰNG NỀN ĐỘC LẬP

 

Kể từ Ngô, Tấn lại đây, 

Hai trăm mười bốn năm chầy cát phân. 

Cỏ cây chan chứa bụi trần, 

Thái b́nh mới có Lư Phần hưng vương. 

Vốn xưa nhập sĩ nước Lương, 

Binh qua gặp lúc phân nhương lại về. 

Cứu dân đă quyết lời thề, 

Văn thần, vũ tướng ứng kỳ đều ra, 

Tiêu Tư nghe gió chạy xa, 

Đông tây muôn dặm quan hà quét thanh. 

Vạn Xuân mới đặt quốc danh, 

Cải nguyên Thiên đức, đô thành Long biên. 

Lịch đồ vừa mới kỷ niên, 

Hưng vương khí tượng cũng nên một đời

 

 

LẦN THỨ 5

 

NGÔ VƯƠNG QUYỀN ĐẠI THẮNG GIẶC NAM HÁN

 

Dương công xưa có rể hiền, 

Đường lâm hào hữu tên Quyền họ Ngô. 

V́ thầy, quyết chí phục thù, 

Nghĩa binh từ cơi Ái châu kéo vào. 

Hán sai thái tử Hoằng Thao, 

Đem quân ứng viện toan vào giúp công. 

Bạch Đằng một trận giao phong, 

Hoằng Thao lạc vía, Kiều công nộp đầu. 

Quân thân đă chính cương trù, 

Giang sơn rầy có vương hầu chủ trương. 

Về Loa thành mới đăng quang, 

Quan danh cải định, triều chương đặt bày.

 

 

LẦN THỨ 6

 

LÊ ĐẠI HÀNH ĐẠI THẮNG GIẶC TỐNG

 

Chợt nghe binh báo Nam quan, 

Cùng nhau phù lập Lê Hoàn làm vương. 

Trước mành, vâng lệnh nàng Dương, 

Trong cung đă thấy áo vàng đưa ra, 

Trường yên đổi mặt sơn hà, 

Đại Hành trí lược thực là cũng ghê! 

(Chi Lăng diệt giặc tàu Hầu Nhân Bảo)

Vạc Đinh đă trở sang Lê,

 

 

LẦN THỨ 7

 

LƯ THƯỜNG KIỆT PHÁ GIẶC TỐNG

 

Tống binh xâm nhiễu biên thuỳ, 

Tướng quân Thường Kiệt dựng cờ Bắc chinh. 

Bên song Như Nguyệt trú dinh, 

Giang sơn dường có thần linh hộ tŕ. 

Miếu tiền phảng phất ngâm thi, 

Như phân địa thế, như tŕ thiên binh. 

Bấy giờ Tống mới hư kinh, 

Giảng hoà lại trả mấy thành cố cương. 

Lại c̣n hối hận một chương: 

"Tham voi Giao Chỉ, mất vàng Quảng nguyên" 

Năm mươi năm lẻ lâu bền, 

Vũ công văn đức rạng truyền sử xanh.

 

 

LẦN THỨ 8

 

TRẦN THÁI TÔNG ĐẠI THẮNG QUÂN MÔNG CỔ LẦN THỨ 1

 

Năm 1254, quân Mông Cổ đánh chiếm nước Đại Lư, ở vùng Vân Nam. Mông Cổ đương thời là đế quốc to lớn và hùng mạnh nhất thế giới, ch́ếm đóng từ Á sang Âu.

 

Năm 1257, từ Vân Nam, tướng Ngột Lương Hợp Thai (Uriyangqatai) đem 3 vạn quân Mông Cổ và hơn 1 vạn quân Đại Lư tấn công Đại Việt, chiếm Thăng Long, đốt phá và giết mọi người trong thành. [Ngột Lương Hợp Thai là công thần thứ 3 của Nhà Nguyên, từng tham gia các trận đánh chiếm nước Kim, nước Đức, Ba Lan, Bagdad, và diệt nước Đại Lư].

 

Nửa đêm ngày 28 tháng 1 năm 1258, từ nơi trú quân là Hoàng Giang, Trần Thái Tông cùng Thái tử Trần Hoảng ngự lâu thuyền ngược sông, bất ngờ đánh thẳng vào quân Mông Cổ. Quân Mông Cổ cho rằng lực lượng quân Trần đă kiệt quệ sau trận thua đầu nên rất chủ quan, do đó khi bị tập kích đă không kịp trở tay, bị thua to. Sau khi bị phá tan tại Đông Bộ Đầu, quân Mông Cổ không giữ nổi Thăng Long nữa. Họ đồng loạt tháo chạy thẳng về Vân Nam.

Như khi mới tiến quân vào, quân Mông Cổ rút chạy theo dọc sông Thao, nhưng theo con đường bộ ở phía tả ngạn. Quân Mông rút lui quá nhanh, ngoài cả dự tính của nhà Trần khiến vua Trần chưa kịp bố trí lực lượng đón đánh. Tuy nhiên khi đến Quy Hóa (vùng Lào CaiYên Bái), quân Mông bị chủ trại là Hà Bổng – một thổ quan người Tày - tập kích kịch liệt. Trong số quân của Hà Bổng có những người Thái chạy từ nước Đại Lư vừa bị Mông Cổ diệt sang theo Đại Việt, muốn trả thù người Mông Cổ nên đă đánh rất hăng khiến quân Mông Cổ khốn đốn; chỉ v́ số quân của Hà Bổng ít người nên thiệt hại của quân Mông Cổ không lớn.

 

Trên đường rút về, do sợ bị quân Trần truy đuổi đằng sau, quân Mông Cổ cố rút nhanh và không cướp phá dân chúng, do đó người Việt mỉa mai gọi là "giặc Bụt". Nguyên sử chép trên tư thế "thiên triều" không chịu nhận thất bại, ghi rằng.:

Quan quân chiếm được kinh thành nước Nam, ở lại 9 ngày, v́ khí hậu nóng nực nên rút quân về. Lại sai sứ giả gọi Man vương Trần Nhật Cảnh về, trả lại nước cho. Quan quân tuần tiễu... không cướp phá dân chúng, nên dân Man gọi là giặc Bụt

 

Thực tế, quân Mông Cổ đánh Đại Việt vào tháng 1, đúng vào lúc giữa mùa đông ở miền Bắc Việt Nam, do vậy không thể có chuyện "khí hậu nóng nực nên rút quân về" như Nguyên sử chép được.

 

 

LẦN THỨ 9

 

TRẦN HƯNG ĐẠO ĐẠI PHÁ QUÂN MÔNG LẦN THỨ 2

 

Năm 1279Nam Tống hoàn toàn bị Đại Nguyên thôn tính. Tháng 8 năm này, hoàng đế nhà Nguyên là Hốt Tất Liệt ra lệnh đóng thuyền chiến chuẩn bị đánh Đại Việt và Nhật Bản.

 

Nhà Nguyên chia làm 3 đạo tiến đánh Đại Việt. Đạo chủ lực do Thoát Hoan và Ariq Qaya chỉ huy từ Ninh Minh tiến vào Lộc Châu (nay là Lộc B́nhLạng Sơn). Ngày 27 tháng 1 năm 1285 (dương lịch), đạo quân này chia làm 2 mũi tiến quân, một do Bolqadar chỉ huy theo đường Khâu Ôn (nay là Ôn Châu, Lạng Sơn), một do Satartai và Lư Bang Hiến chỉ huy đi theo đường núi Cấp Lĩnh (tức là từ Lộc B́nh đi Sơn Động ngày nay). Đại quân của Thoát Hoan đi sau mũi thứ hai của Satartai và Lư Bang Hiến. Chống lại đạo quân thứ nhất này của quân Nguyên là lực lượng chủ lực của quân Trần do đích thân Trần Quốc Tuấn chỉ huy.

 

Đạo thứ hai chỉ gồm hơn 1 ngh́n quân Mông Cổ và Vân Nam do Nasirud Din từ Vân Nam vào Đại Việt qua vùng Tuyên Quang tiến theo sông Chảy. Vị chỉ huy quân Trần ở vùng này là Trần Nhật Duật.

 

Đạo thứ ba là đạo quân đang chiến đấu ở Chiêm Thành do Toa Đôchỉ huy, tiến vào Đại Việt muộn hơn hai cánh trên, vào khoảng tháng 3 dương lịch, từ phía Nam.

 

Tháng 5 đầu tháng 6 năm 1285, nghĩa là khoảng 1 tháng sau khi rút về Thanh Hóa để thoát khỏi gọng ḱm của quân Nguyên, quân Trần lại quyết định từ Thanh Hóa trở lại miền Bắc phản công quân Nguyên. Quân Trần chia làm 2 cánh. Một cánh do Trần Quốc Tuấnchỉ huy quay trở lại Vạn Kiếp khóa đường rút lui của địch. Một cánh do Trần Quang Khải chỉ huy phản công dọc theo sông Hồng.

 

Trận Hàm Tử - Tây Kết

 

Để pḥng thủ mặt phía Nam của thành Thăng Long, quân Nguyên dựng 2 căn cứ liền kề nhau ở hai bờ sông Hồng, một ở Hàm Tử Quan (cửa Hàm Tử - nay ở Khoái Châu, Hưng Yên) và một ở Chương Dương Độ (bến Chương Dương - nay ở Thượng Phúc, thuộc Thường TínHà Nội). Tháng 5, Trần Quang Khải dẫn quân tấn công đồng thời 2 căn cứ này.

 

Toa Đô và Ô Mă Nhi ở Thanh HoáNghệ An giao chiến với quân Trần do Trần Quang Khải chỉ huy mấy lần đều bị đẩy lui. Lương thực gần cạn, tới mùa hè nóng bức, quân Nguyên không hợp thời tiết, hai tướng bèn bỏ ư định truy t́m vua Trần mà vượt biển ra bắc để hội binh với Thoát Hoan.

 

Trần Quang Khải thấy quân Nguyên rút ra bắc bèn báo với vua Trần. Vua Trần cùng các tướng nhận định rằng: Quân Nguyên nếu c̣n mạnh, ắt truy kích vua Trần từ hai mặt nam bắc; nay cánh phía bắc không tới, cánh phía nam rút đi tức là đă mỏi mệt. Nhà Trần xác định đây là thời cơ phản công.

 

Trần Nhân Tông sai Trần Nhật Duật làm chánh tướng, Chiêu Thành Vương và Trần Quốc Toản làm phó tướng đi cùng với Nguyễn Khoái mang 5 vạn quân ra bắc đuổi đánh Toa Đô. Trong quân Trần Nhật Duật có tướng người Trung Quốc của nhà Tống cũ là Triệu Trung theo hàng.

 

Trần Nhật Duật gặp binh thuyền Toa Đô ở bến Hàm Tử, bèn chia quân ra đánh. Hai bên chống nhau ác liệt. Toa Đô đi đường xa, giao chiến lâu ngày đă mỏi mệt, trông thấy cờ hiệu Tống của Triệu Trung, lo lắng tưởng rằng nhà Tống đă khôi phục sang giúp Đại Việt. Nhóm quân người Hoa trong hàng ngũ quân Trần đều muốn trả thù nên đánh rất hăng.

 

Trong khi đó quân Trần lại dùng kế ly gián, bắn tên gắn giấy sang bên quân Nguyên, nói rằng chỉ đánh người Thát Đát chứ không đánh người Hoa. Điều đó khiến nhiều tướng sĩ người Hoa trong quân Nguyên không tận lực chiến đấu hoặc trở giáo sang hàng quân Trần. Toa Đô bị thua to. Sau khi thua trận ở Hàm Tử QuanToa Đô vẫn không biết rằng Thoát Hoan đă tháo chạy. Cánh quân Toa Đô đóng ở sông Thiên Mạc (đoạn sông Hồng ở Hưng Yên) và t́m cách liên lạc với ông. Được ít ngày, Toa Đô biết tin quân Thoát Hoan đă thất bại và rút chạy, bèn lui về Tây Kết (Khoái Châu). Ngày 24 tháng 6 năm 1285, Trần Hưng Đạo trực tiếp chỉ huy quân đánh Toa ĐôToa Đôvà Ô Mă Nhi thua, bỏ thuyền đi đường bộ ra phía biển. Trên đường chạy, Toa Đô bị quân Đại Việt bao vây, sau cùng bị tướng Vũ Hảicủa nhà Trần chém đầu. Ô Mă Nhi th́ chạy thoát về Thanh Hóa. Theo Đại Việt sử kư toàn thư, vua Trần Nhân Tông trông thấy thủ cấp của Toa Đô th́ cởi áo ngự phủ lên và nói "người làm tôi phải nên như thế này" rồi sai người khâm niệm tử tế.

 

Trận Chương Dương Độ

 

Trần Nhật Duật sai Trần Quốc Toản về Thanh Hoá báo tin thắng trận.Trần Quốc Tuấnbàn với Trần Nhân Tông quyết định mang toàn quân ra bắc đánh Thoát Hoan để lấy lại Thăng Long. Trần Quang Khải ở Nghệ Anmới ra được cử làm chánh tướng, Phạm Ngũ Lăo Trần Quốc Toảnlàm phó tướng; lại truyền lệnh cho Trần Nhật Duật phải ngăn không cho Toa Đô hợp binh được với Thoát Hoan.

 

Đại quân Thoát Hoan đóng ở Thăng Long cũng trong t́nh trạng lương thực sắp cạn, các chiến thuyền đóng ở bến Chương Dương.

 

Trần Quang Khải tiến ra bắc khá thuận lợi. Quân Trần nhanh chóng diệt nhiều đồn nhỏ của quân Nguyên, kết hợp dụ hàng quân người Hoa bỏ hàng ngũ quân Nguyên. Trong khi đó th́ Trần Nhật Duật cũng giữ lại số quân để cầm chân Toa Đô, c̣n chia một số sang hợp với cánh quân Trần Quang Khải. Nhiều toán quân Trần trước kia bị tản mát, chưa t́m được vào Thanh Hoá, lúc đó gặp quân Trần Quang Khải đă cùng gia nhập nên lực lượng càng mạnh lên. Quân Trần chiếm được nhiều thuyền của địch ở bến đ̣.

 

Quân Trần tiếp tục ngược sông Hồng phản công quân Nguyên. Trần Quang Khải cùng Phạm Ngũ Lăo và Trần Quốc Toản đă tấn công quân Nguyên ở Chương Dương (huyện Thường Tín). Quân Nguyên thường thấy quân Trần bị thua, khi đó thấy quân Trần đánh mạnh nên bị bất ngờ, tan tác bỏ chạy. Phần lớn các chiến thuyền quân Nguyên bị quân Trần đốt cháy hoặc chiếm.

 

Giải phóng Thăng Long

 

Sau các trận phản công thắng lợi trên sông Hồng, quân Trần quyết định tấn công giải phóng kinh thành Thăng Long. Lực lượng tham gia gồm các đơn vị thủy bộ chủ lực do Trần Quang Khải chỉ huy. Các đơn vị dân binh các địa phương lân cận do Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp và Nguyễn Truyền chỉ huy. Sau khi đánh bại đơn vị quân Nguyên ngoài thành do Mă Vinh chỉ huy, quân Trần bắt đầu bao vây và công thành.

 

Trước sức tấn công mạnh mẽ và bền bỉ của quân Trần, quân Nguyên phải rút chạy khỏi thành Thăng Long về đóng ở bờ Bắc sông Hồng (khoảng Gia Lâm ngày nay). Tại đây, đồn trại của quân Nguyên vẫn liên tục bị tấn công.

 

Trận sông Thiên Mạc

 

Sau khi thua trận ở Hàm Tử Quan, Toa Đô vẫn không biết rằng Thoát Hoan đă tháo chạy. Cánh quân Toa Đô đóng ở sông Thiên Mạc và t́m cách liên lạc với Thoát Hoan. Được ít ngày, Toa Đô biết tin quân Thoát Hoan đă thất bại và rút chạy, bèn lui về Tây Kết.

 

Có tài liệu căn cứ vào Nguyên sử cho rằng Toa Đô sau trận thua ở Hàm Tử Quan lại tiến vào Thanh Hoá đánh vua Trần lần nữa, nhưng không thu được kết quả nên lại trở ra t́m Thoát Hoan. Trận Tây Kết này c̣n được coi là trận Tây Kết thứ hai.

 

Ngày 24 tháng 6 năm 1285, quân Trần do đích thân vua Trần chỉ huy tấn công đạo quân Nguyên này. Tướng Nguyên là Trương Hiển (chức tổng quản) đầu hàng quân Trần và dẫn đường cho quân Trần tấn công Toa Đô ở Tây Kết. Quân Nguyên bị giết rất nhiều. Toa Đô cũng bị tử trận. Ô Mă Nhi và Lưu Khuê đi thuyền nhỏ trốn thoát ra biển.

 

 

LẦN THỨ 10

 

HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG ĐẠI PHÁ QUÂN NGUYÊN LẦN THỨ 3

 

Hai lần bị thất bại, Hốt Tất Liệt xâm lược nước ta lần thứ ba để trả thù, chứng tỏ uy thế của nước lớn, gồm 30 vạn quân do Thoát Hoan chỉ huy; 600 chiến thuyền do Ô Mă Nhi hộ tống đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ , lần này lương thực đầy đủ hơn , quân đội nhiều và mạnh , nhiều tướng giỏi , chú trọng đến thủy binh.

 

*Trần Hưng Đạo làm Tiết chế , chỉ huy kháng chiến.

*Tháng 12/1287 nửa triệu quân xâm lược tràn vào nước ta:

+Thoát Hoan chỉ huy quân bộ đánh vào Lạng Sơn, Vạn Kiếp và xây dựng căn cứ vững chắc để đánh lâu dài với ta .

+600 chiến thuyền lớn do Ô Mă Nhi theo đường biển hộ tống đoàn thuyền lương của Trương văn Hổ và hội quân với Thoát Hoan ở Vạn Kiếp.

Chiến thắng Vân Đồn tiêu diệt đ̣an thuyền lương của Trương văn Hổ:

- Ô Mă Nhi vào sông Bạch Đằng và hội quân ở Vạn Kiếp, bỏ lại đoàn thuyền lương, liền bị quân Trần Khánh Dư tiêu diệt.

-Đợi măi không thấy đoàn thuyền lương, 1-1288 Thoát Hoan tiến xuống Thăng Long... nhưng bị động, hết lương thực, tinh thần binh lính hoang mang tuyệt vọng

 

*Ư nghĩa trận Vân Đồn: tạo thời cơ để nhà Trần mở cuộc phản công tiêu diệt quân Nguyên

 

Chiến thắngBạch Đằng lịch sử 1288:

-Vua Trần và Trần Hưng Đạo, dự đoán quân giặc sẽ rút quân qua cửa sông Bạch Đằng.

- Đầu tháng 4 /1288 Ô Mă Nhi có kỵ binh rút về nước theo hướng sông Bạch Đằng.

- Khi nước triều lên ta cho thuyền nhẹ ra khiêu chiến rội vờ thua chạy, dụ địch vào trận địa mai phục của ta.

- Khi nước rút, từ 2 bờ sông thuyền nhỏ của ta đổ ra đánh , bị đánh bất ngờ, giặc rút nhanh ra cửa biển, thuyền giặc đâm vào băi cọc nhọn, bị vỡ và đắm.Hoảng sợ, địch bỏ chạy lên bờ bị quân ta tiêu diệt, Ô Mă Nhi bị bắt.

- Trận Bạch Đằng kết thúc thắng lợi. Cùng lúc này Thoát Hoan phải liều mạng rút chạy về nước.

*Ư nghĩa: tiêu diệt ư đồ xâm lược Đại Việt của quân Nguyên ,quân Nguyên từ bỏ mộng xâm lược Đại Việt.

Ư nghĩa lịch sử của ba lần kháng chiến chống Mông – Nguyên:

-Đập tan ư chí xâm lược của quân thù, bảo vệ độc lập , chủ quyến toàn vẹn lănh thổ.

-Nâng cao ḷng tự hào, tự cường của dân tộc, củng cố niềm tin cho nhân dân.

-Xây dựng khối đoàn kết toàn dân.

-Kế hoạch bành trướng xuống phương Nam và Đông Nam Á bị phá tan.

 

 

LẦN THỨ 11

 

B̀NH ĐỊNH VƯƠNG LÊ LỢI B̀NH NGÔ

B̀NH NGÔ ĐẠI CÁO

 

Thay trời hành hoá, hoàng thượng truyền rằng.


Từng nghe:


Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo

Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đă lâu

Núi sông bờ cơi đă chia

Phong tục Bắc Nam cũng khác

Từ Triệu, Đinh, Lư, Trần bao đời xây nền độc lập

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương

Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau

Song hào kiệt thời nào cũng có.


Vậy nên:

Lưu Cung tham công nên thất bại,

Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong,

Cửa Hàm tử bắt sống Toa Đô

Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mă

Việc xưa xem xét,

Chứng cớ c̣n ghi.


Vừa rồi:


Nhân họ Hồ chính sự phiền hà,

Để trong nước ḷng dân oán hận.

Quân cuồng Minh thừa cơ gây hoạ,

Bọn gian tà bán nước cầu vinh.

Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,

Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.

Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế,

Gây binh kết oán trải hai mươi năm.

Bại nhân nghĩa nát cả đất trời,

Nặng thuế khoá sạch không đầm núi.

 

Người bị ép xuống biển ḍng lưng ṃ ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng.

Kẻ bị đem vào núi đăi cát t́m vàng, khốn nỗi rừng sâu, nước độc.

Vét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới chăng,

Nhiễu nhân dân, bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.

Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,

Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng.

 

Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán ;

Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa.

Nặng nề những núi phu phen,

Tan tác cả nghề canh cửi.

Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,

Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi.

Lẽ nào trời đất dung tha,

Ai bảo thần nhân chịu được?

 

Ta đây:

Núi Lam sơn dấy nghĩa

Chốn hoang dă nương ḿnh

Ngẫm thù lớn há đội trời chung

Căm giặc nước thề không cùng sống

Đau ḷng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời

Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.

Quên ăn v́ giận, sách lược thao suy xét đă tinh,

Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ.

Những trằn trọc trong cơn mộng mị,

Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi

Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,

Chính lúc quân thù đang mạnh.

 

Lại ngặt v́:

Tuấn kiệt như sao buổi sớm,

Nhân tài như lá mùa thu,

Việc bôn tẩu thiếu kẻ đở đần,

Nơi duy ác hiếm người bàn bạc,

Tấm ḷng cứu nước, vẫn đăm đăm muốn tiến về Đông,

Cỗ xe cầu hiền, thường chăm chắm c̣n dành phía tả.

 

Thế mà:

Trông người, người càng vắng bóng, mịt mù như nh́n chốn bể khơi.

Tự ta, ta phải dốc ḷng, vội vă hơn cứu người chết đuối.

Phần v́ giận quân thù ngang dọc,

Phần v́ lo vận nước khó khăn,

Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,

Lúc Khôi Huyện quân không một đội.

Trời thử ḷng trao cho mệnh lớn

Ta gắng trí khắc phục gian nan.

Nhân dân bốn cơi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới

Tướng sĩ một ḷng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào.

Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh,

Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều.

 

Trọn hay:

Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,

Lấy chí nhân để thay cường bạo.

Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,

Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.

Sĩ khí đă hăng

Quân thanh càng mạnh.

Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía,

Lư An, Phương Chính, nín thở cầu thoát thân.

Thừa thắng đuổi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại,

Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô đất cũ thu về.

Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm

Tuỵ Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.

Phúc tâm quân giặc Trần Hiệp đă phải bêu đầu

Mọt gian kẻ thù Lư Lượng cũng đành bỏ mạng.

Vương Thông gỡ thế nguy, mà đám lửa cháy lại càng cháy

Mă Anh cứu trận đánh mà quân ta hăng lại càng hăng.

Bó tay để đợi bại vong, giặc đă trí cùng lực kiệt,

Chẳng đánh mà người chịu khuất, ta đây mưu phạt tâm công.

Tưởng chúng biết lẽ ăn năn nên đă thay ḷng đổi dạ

Ngờ đâu vẫn đương mưu tính lại c̣n chuốc tội gây oan.

Giữ ư kiến một người, gieo vạ cho bao nhiêu kẻ khác,

Tham công danh một lúc, để cười cho tất cả thế gian.

 

Bởi thế:

Thằng nhăi con Tuyên Đức động binh không ngừng

Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy

Đinh mùi tháng chín, Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại

Năm ấy tháng mười, Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang.

Ta trước đă điều binh thủ hiểm, chặt mũi tiên phong

Sau lại sai tướng chẹn đường, tuyệt nguồn lương thực

Ngày mười tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế

Ngày hai mươi, trận Mă Yên, Liễu Thăng cụt đầu

Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh đại bại tử vong

Ngày hăm tám, thượng thư Lư Khánh cùng kế tự vẫn.

Thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá

Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau

Lại thêm quân bốn mặt vây thành

Hẹn đến giữa tháng mười diệt giặc

Sĩ tốt kén người hùng hổ

Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh

Gươm mài đá, đá núi cũng ṃn

Voi uống nước, nước sông phải cạn.

Đánh một trận, sạch không ḱnh ngạc

Đánh hai trận tan tác chim muông.

Cơn gió to trút sạch lá khô,

Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ.

Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội,

Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng.

Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường

Xương Giang, B́nh Than, máu trôi đỏ nước

Ghê gớm thay! Sắc phong vân phải đổi,

Thảm đạm thay! Ánh nhật nguyệt phải mờ

Bị ta chặn ở Lê Hoa, quân Vân Nam nghi ngờ khiếp vía mà vỡ mật!

Nghe Thăng thua ở Cần Trạm, quân Mộc Thạnh xéo lên nhau chạy để thoát thân.

Suối Lănh Câu, máu chảy thành sông, nước sông nghẹn ngào tiếng khóc

Thành Đan Xá, thây chất thành núi, cỏ nội đầm đ́a máu đen.

Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp,

Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng

Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng

Thần Vũ chẳng giết hại, thể ḷng trời ta mở đường hiếu sinh

Mă Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,

Vương Thông, Mă Anh, phát cho vài ngh́n cỗ ngựa, về đến nước mà vẫn tim đập chân run.

Họ đă tham sống sợ chết mà hoà hiếu thực ḷng

Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.

Chẳng những mưu kế ḱ diệu

Cũng là chưa thấy xưa nay

Xă tắc từ đây vững bền

Giang sơn từ đây đổi mới

Càn khôn bĩ rồi lại thái

Nhật nguyệt hối rồi lại minh

Ngàn năm vết nhục nhă sạch làu

Muôn thuở nền thái b́nh vững chắc

Âu cũng nhờ trời đất tổ tông linh thiêng đă lặng thầm phù trợ;

 

Than ôi!

Một cỗ nhung y chiến thắng,

Nên công oanh liệt ngàn năm

Bốn phương biển cả thanh b́nh,

Ban chiếu duy tân khắp chốn.

Xa gần bá cáo,

Ai nấy đều hay.

 

 

LẦN THỨ 12

 

QUANG TRUNG ĐẠI ĐẾ ĐẠI PHÁ GIẶC NHÀ THANH

 

Vua Quang Trung Đại Phá Quân Thanh. Bắc B́nh Vương được tin quân nhà Thanh đă sang đóng ở Thăng Long, lập tức hội các tướng sĩ để bàn việc đem binh ra đánh, các tướng đều xin hăy chính ngôi tôn, để yên ḷng người rồi sẽ khởi binh.

 

Bắc B́nh Vương bèn sai đắp đàn ở núi Bàn Sơn, ngày 25 tháng mười một năm mậu thân (1788), Vương làm lễ lên ngôi Hoàng Đế, rồi tự ḿnh thống lĩnh thủy bộ đại binh ra đánh giặc Thanh. Ra đến Nghệ An nghỉ lại 10 ngày để kén lấy thêm binh, cả thảy được 10 vạn quân và hơn 100 con voi.

 

Vua Quang Trung điểm duyệt quân sĩ, truyền dụ nhủ bảo mọi người phải cố gắng đánh giặc giúp nước. Đoạn rồi kéo quân ra Bắc, đến ngày 20 tháng chạp th́ đến núi Tam Điệp. Bọn Ngô Văn Sở, Ngô Th́ Nhiệm đều ra tạ tội, kể chuyện quân Tàu thế mạnh, sợ đánh không nổi, cho nên phải lui về giữ chỗ hiểm yếu.

 

Vua Quang Trung cười mà nói rằng: "Chúng nó sang phen này là mua cái chết đó thôi. Ta ra chuyến này thân coi việc quân đánh giữ, đă định mẹo rồi, đuổi quân Tàu về chẳng qua 10 ngày là xong việc. Nhưng chỉ nghĩ chúng là nước lớn gấp 10 nước ta, sau khi chúng thua một trận rồi, tất chúng lấy làm xấu hổ, lại mưu báo thù, như thế th́ đánh nhau măi không thôi, dân ta hại nhiều, ta sao nỡ thế. Vậy đánh xong trận này, ta phải nhờ Th́ Nhiệm dùng lời nói cho khéo để đ́nh chỉ việc chiến tranh. Đợi mươi năm nữa, nước ta dưỡng được sức phú cường rồi, th́ ta không cần phải sợ chúng nữa."

 

Vua Quang Trung truyền cho tướng sĩ ăn Tết Nguyên Đán trước, để đến hôm trừ tịch th́ cất quân đi, định ngày mồng 7 tháng giêng th́ vào thành Thăng Long mở tiệc ăn mừng. Đoạn rồi, truyền lệnh cho ba quân đến nghe lệnh điều khiển. Đại tư mă Sở, Nội Hầu Lân đem tiền quân đi làm tiên phong. Hô hổ Hầu đem hậu quân đi đốc chiến.

 

Đại đô đốc Lộc, Đô đốc Tuyết đem hữu quân cùng thủy quân, vượt qua bể vào sông Lục Đầu. Rồi Tuyết th́ kinh lược mặt Hải Dương, tiếp ứng đường mé Đông; Lộc th́ kéo về vùng Lạng Giang, Phượng Nhỡn, Yên Thế để chặn đường quân Tàu chạy về.


Đại đô đốc Bảo, đô đốc Mưu đem tả quân cùng quân tượng mă đi đường núi ra đánh phía Tây. Mưu th́ xuyên ra huyện Chương Đức (nay là Chương Mỹ), tiện đường kéo thẳng đến làng Nhân Mục, huyện Thanh Tŕ, đánh quân Điền Châu; Bảo th́ thống suất quân tượng mă theo đường huyện Sơn Lăng ra làng Đại Áng thuộc huyện Thanh Tŕ tiếp ứng cho mặt tả. Năm quân được lệnh đều thu xếp đâu đấy, đến hôm 30 khua trống kéo ra Bắc. Khi quân sang sông Giản Thủy, cánh nghĩa quân của nhà Lê tan vỡ chạy cả. Vua Quang Trung thân đốc các quân đuổi theo đến huyện Phú Xuyên bắt sống hết được toán quân Tàu đóng ở đấy, không một người nào chạy thoát được; v́ thế cho nên không có tin báo về, những quân Tàu đóng ở làng Hà Hồi và làng Ngọc Hồi không biết ǵ cả.

 

Nửa đêm ngày mồng 3 tháng giêng năm Kỷ Dậu (1789) quân vua Quang Trung đến làng Hà Hồi vây kín đồn giặc, rồi bắc loa lên gọi, các quân dạ rầm cả lên, có hàng muôn người. Quân canh đồn bấy giờ mới biết, sợ hăi thất thố, đều xin hàng, bởi thế, lấy được hết cả quân lương và đồ khí giới. Sáng mờ mờ ngày mồng năm, quân Tây Sơn tiến lên đến làng Ngọc Hồi, quân Tàu bắn súng ra như mưa. Vua Quang Trung sai người lấy những mảnh ván, ghép ba mảnh lại làm một, lấy rơm cỏ giấp nước quấn ở ngoài, rồi sai quân kiêu dũng cứ 20 người khiêng một mảnh, mỗi người dắt một con dao nhọn, lại có 20 người cầm khí giới theo sau. Vua Quang Trung cưỡi voi đi sau đốc chiến, quân An Nam vào đến gần cửa đồn, bỏ ván xuống đất, rút dao ra, xông vào chém, quân đi sau cũng kéo ùa cả vào đánh. Quân Tàu địch không nổi, xôn xao tán loạn, xéo lẫn nhau mà chạy. Quân Nam thừa thế đánh tràn đi, lấy được các đồn, giết quân Thanh thây nằm ngổn ngang khắp đồng, máu chảy như tháo nước. Quân các đạo khác cũng đều được toàn thắng. Quan nhà Thanh là đề đốc Hứa Thế Hanh, tiên phong Trương Sĩ Long, tả dực Thượng Duy Thăng đều tử trận cả; quan phủ Điền Châu là Sầm Nghi Đống đóng ở Đống Đa bị quân An Nam vây đánh cũng thắt cổ mà chết. Tôn Sĩ Nghị nửa đêm được tin báo, hoảng hốt không kịp thắng yên ngựa và mặc áo giáo, đem mấy tên lính kỵ chạy qua sông sang Bắc. Quân các trại nghe tin như thế, xôn xao tan ră chạy trốn, tranh nhau sang cầu, một lát cầu đổ, sa cả xuống sông chết đuối, sông Nhị Hà đầy những thây người chết.

 

Vua Chiêu Thống cũng theo Tôn Sĩ Nghị sang sông cùng với bà Hoàng Thái Hậu và mấy người cận thần chạy sang Tàu.

 

Đạo quân Vân Nam và Quư Châu đóng ở miền Sơn Tây nghe tin Tôn Sĩ Nghị đă thua, cũng rút quân chạy về.

 

Ngày hôm ấy vua Quang Trung đốc quân đánh giặc, áo ngự bào bị thuốc súng bắn vào đen như mực. Đến trưa th́ vào thành Thăng Long, sai tướng đem binh đuổi đánh quân nhà Thanh đến cửa Nam Quan. Những dân Tàu ở gần Lạng Sơn sợ khiếp, đàn ông, đàn bà dắt díu nhau mà chạy, từ cửa ải về mé bắc hơn mấy trăm dặm, tịnh không nghe thấy tiếng một người nào!

 

Vua Quang Trung vào thành Thăng Long, hạ lệnh chiêu an, phàm những người Tàu trốn tránh ở đâu ra thú tội, đều được cấp cho áo mặc, lương ăn. Lại bắt được cả ấn tín của Tôn Sĩ Nghị bỏ lại, trong những giấy má bắt được có tờ mật dụ của vua Càn Long ...

 

Vua Quang Trung đem tờ mật dụ ấy bảo với Ngô Th́ Nhiệm rằng: "Ta xem tờ chiếu của vua nhà Thanh chẳng qua cũng muốn mượn tiếng để lấy nước ta đó thôi. Nay đă bị ta đánh thua một trận, tất là lấy làm xấu hổ, chắc không chịu ở yên. Hai nước mà đánh nhau th́ chỉ khổ dân. Vậy nên dùng lời nói khéo, để khiến cho khỏi sự binh đao; việc ấy nhờ nhà người chủ trương cho mới được".

 

Ngô Th́ Nhiệm vâng lệnh làm thư đại khái nói rằng: "Nước Nam vốn không dám chống cự với đại quốc, nhưng chỉ v́ Tôn Sĩ Nghị làm nhỡ việc cho nên phải thua. Vậy nay xin tạ tội và xin giảng ḥa."

 

Vua Quang Trung sai sứ đem thư sang Tàu, và lại sai đem những quân nhà Thanh đă bắt được, để ở một nơi, cấp cho lương thực, đợi ngày cho về nước. Xếp đặt mọi việc xong rồi, đem quân về Nam, lưu Ngô Văn Sở và Phan văn Lân ở lại tổng thống các việc quân quốc; c̣n những việc từ lệnh giao thiệp với nước Tàu th́ ủy thác cho Ngô Th́ Nhiệm và Phan Huy Ích cho được tự tiện mà khu xử, hễ không có việc ǵ quan hệ th́ bất tất phải đi tâu báo mà làm ǵ.

 

LỜI NGƯỜI SƯU TẬP

 

Người Pháp có thành ngữ; “Jamais deux sans trois.”

 

Ta nhại giọng: Đă có lần thứ 12 không thể không có lần thứ 13!

 

Lần đó là khi nào?

 

Hiện tại giặc cờ đỏ họ giả hồ cai trị Đất nước ta thiệt là tàn bạo:

Bên trong chúng tự thực dân, cưởng bức, cướp phá dân lành không khác ǵ giặc cuồng Minh ngày xưa.

 

Bên ngoài chúng nhu nhược luồn cúi ngoại bang tàu cọng không khác nào bọn việt gian thổ quan An nam thời An nam đô hộ phủ.

 

V́ vậy sẽ có một ngày,

- khi người dân Việt không c̣n chịu đựng được ách áp bức của bọn tay sai bán nước việt cọng đương quyền,

- khi tàu cọng lẫy lừng cướp trọn biển Đông, công khai khai thác dầu hỏa trên thềm lục địa Việt Nam,

 

Toàn dân Việt phẫn uất vùng dậy lật đổ ách toàn trị việt cọng măi quốc cầu vinh, quét sạch cửa nhà.

 

Khi ấy, nếu giặc bành trướng chệt Tập kéo quân sang đánh cứu, giải vây cho bọn tôi tớ việt cọng th́...

 

Đây, lần thứ 13, toàn dân Việt đoàn kết chung ḷng, quyết tái hiện lịch sử đại phá quân tàu xâm lăng: TOÀN DÂN VIỆT ĐẠI PHÁ GIẶC TÀU TẬP XÂM LĂNG.

 

 

Nguyễn Nhơn

 

Fra: Patrick Willay <pwillay@orange.fr>

Date: man. 15. feb. 2021 kl. 16:06

Subject: TRÂN QUAN NIÊM: Mùng 5 Tết Giỗ trận Đống Đa

 

Mùng 5 Tết Giỗ trận Đống Đa

 

Trần Quán Niệm 

 

Thiên hạ có khi đang ngủ cả

Tội ǵ mà thức một ḿnh ta? (1)

Trước khi rời khỏi Ta Bà

Cũng xin ghi lại chút quà làm duyên

Trong ḍng lịch sử triền miên

Tiền nhân từng lập rất nhiều chiến công

Có ai c̣n nhớ hay không?

 

(1) Không nhớ tên tác giả, xin chỉ giáo

 

QUANG TRUNG HOÀNG ĐẾ ĐẠI PHÁ QUÂN THANH

 

Vùng B́nh Định địa linh nhân kiệt

Đất Tây Sơn tụ nghĩa dấy binh

Dẹp Xiêm La, phá giặc Thanh (1)

Quang Trung Đại Đế uy danh muôn đời

Đại phá quân Thanh Xuân Kỷ Dậu (1789) 

Vua Lê Chiêu Thống rước voi giầy mả Tổ

 

Thành Thăng Long - Ngày giáp Tết

Trong yến tiệc thâu đêm

Tôn Sĩ Nghị vui say ngất ngưởng

Gái ca nhi xinh đẹp kề bên

Sênh phách nhạc, rượu nồng dê béo

Đoàn sĩ tốt say sưa chếnh choáng

Trống cầm canh thưa thớt biếng lười

Nào hay đêm phục mặt trời

Họa phơi thây đă đón mời một bên

Năm Mậu Thân (1788) ngàỵ tháng 11

Núi Bàn Sơn mây năm sắc chói

Đất Thừa Thiện vượng khí rỡ ràng

Quang Trung Hoàng Đế đăng quang

Cờ reo trống thúc, lên đàng tiến quân

 

Giáp trụ uy nghiêm

Cưỡi đầu chiến tượng

Oai vệ phi thường

Giọng truyền chư tướng

 

“Tất cả hăy gắng công

Dẹp tan loài xâm lược

Quân ta ăn Tết trước

Lễ Khai Hạ vào thành” (a)

 

Hai mươi vạn hùng binh

Trẩy nhanh như gió thổi

Cứ hai người vơng một

Vượi đồi núi không nao

 

Theo tiếng hát thúc quân

Ḷng người người phấn khởi

“Chàng ơi cho thiếp đi cùng

Theo vua Nguyễn Huệ Quang Trung diệt thù

(thùng th́nh thùng)

Đường ra xứ Bắc mịt mù

Mùa Xuân Kỷ Dậu ngàn Thu lẫy lừng

(th́nh thùng th́nnh) (2) 

Ngày 30 Tết Kỷ Dậu

Sông Giản Thủy đại quân vượt bến (3)

Đất Phú Xuyên (4) bắt sống quân thù

Mùng Ba Tết

Giấc nửa đêm dậy dậy tiếng quân reo

Hồi sáng sớm trùng trùng ṿng vây hăm

Hạ Hồi vỡ (5) Ngọc Hồi tan (6)

 

Trận Đống Đa, mồng Năm Tết Kỷ Dậu (7)

 

 

Vua Quang Trung khăn vàng quấn cổ

Đốt sạch quân lương

(Chí quyết liệt, chỉ c̣n đường chiến thắng)

Quân sĩ đồng ḷng

Ḥ reo như sấm nổ

 

Lớp lớp hùng binh

Hàng hàng chiến tượng

Ngài cưỡi đầu voi chiến

Chỉ ngọn cờ đào, hùng dũng tiến quân

Trong nắng sớm mùa Xuân

Áo bào đỏ oai nghi rực rỡ

 

Sĩ tốt ghép mộc gỗ

Chống lại súng thần công

Sức công thành mạnh như thác đổ

Đạp lũy hào, liều chết xông lên

Quân reo, ngựa hư vang rền

Hoả hồ cháy đỏ, liền liền thành tan

 

Quân Đô Đốc Long, Đô Đốc Bảo

Thế gọng ḱm, đánh thốc ngang hông

Thây phơi, máu chảy đầy đồng

Xác giặc chết chất chồng g̣ đống

 

Đề Đốc Hứa Thế Hanh chết chém

Tả Dực Thượng Duy Thăng mạng vong

Sầm Nghi Đống đóng đồn Khương Thượng (8)

Sức lực cùng., thắt cổ treo thây

Tôn Sĩ Nghị chạy thoát lấy thân

Cầu phao đứt, xác đầy sông Nhị (b)

 

Áo bào đen khói súng

Ngài vào thành Thăng Long

Trong tiếng khải hoàn ca

Đúng như lời đă hứa

 

Oanh liệt thay vua Quang Trung

Năm ngày đại thắng chiến công muôn đời

B́nh Nam, phạt Bắc chói ngời

Chí toan lấp biển vá trời. Ai hơn? (9)

 

Mỗi độ Xuân về

Ḷng vui rộn ră

Nhắc chiến công xưa

Trang sử Việt uy nghi hồn Đại Đế

 

Trong khói trầm thơm tỏa

Anh linh hồn núi sông

Hỡi thế hệ Quang Trung

Hỡi tinh thần bất khuất

Hăy vùng lên phất ngọn cờ vàng

Cứu đất nước lầm than khổ ải

 

Trần Quán Niệm

Xuân Tân Sửu 2021

 

(1) Ngài đă phá tan 4 vạn quân Xiêm tại Rạch Gầm, Xoài Mút (miền Nam VN)

(2) Ca dao

(3) Sông Giản Thủy thuộc tỉnh Ninh B́nh

(4) Đất Phú Xuyên thuộc tỉnh Hà Đông

(5) (6) Hai đồn địa đầu trong chiến lũy của quân Thanh

(7) G̣ Đống Đa, ngoại thành Hà Nội

(8) Đồn Khương Thượng, ngoại thành Hà Nội

(9) Ngài có mộng tiến đánh Trung Hoa, đ̣i đất lưỡng Quảng cho Việt Nam.

Ai ngờ đại bàng gẫy cánh khi mộng chưa thành

(a) Lễ Khai Hạ là Mùng Năm Tết

(b) Sông Nhị là sông Hồng Hà

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính